Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tuyên Quang |
Số hiệu: | 03/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 23/01/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị Xuân khởi kiện ly hôn với anh Linh đang ở nước ngoài |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23 - 01 - 2025
V/v: Ly hôn có yếu tố nước ngoài
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phúc An Hoành,
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh và bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa:
Bà Đào Thị Hảo, Kiểm sát viên.
Ngày 23/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang mở phiên
toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLST - HNGĐ, ngày 04
tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn có yếu tố nước ngoài”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày
16/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày
06/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Triệu Thị X, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã
T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở hiện nay: Tầng E, số F ngõ B đoạn 1 đường
T, quận B, thành phố T, Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền giao, nhận tài liệu, chứng cứ cho nguyên
đơn: Ông Trương Minh H và ông Nguyễn Việt T; địa chỉ: D T, phường Y, quận
C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Sằm Văn L, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã T,
huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Hiện đang sinh sống làm việc tại Ba Lan (không rõ
địa chỉ). Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Sằm Văn P, sinh
năm 1967 và bà Đặng Thị C, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện
N, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Triệu Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Sằm Văn L, sinh ngày 14/5/1990; Nơi
thường trú: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang kết hôn trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn số 05/2011 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Tuyên
Quang ngày 30 tháng 3 năm 2011. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng khá hạnh
phúc. Sau đó vì phát triển kinh tế gia đình, năm 2017 chị X sang Đài Loan (Trung
Quốc) xuất khẩu lao động. Do khoảng cách địa lý xa nên vợ chồng thường xuyên
xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù nhiều lần tìm cách nói chuyện hàn gắn nhưng mâu
thuẫn không được cải thiện mà càng trở nên gay gắt hơn. Nay nhận thấy tình cảm
vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt
được, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết ly hôn giữa chị
và anh Sằm Văn L.
Về con chung: Chị và anh Sằm Văn L có 02 con chung là cháu Sằm Ngọc
K, sinh ngày 17/9/2012 và cháu Sằm Minh T1, sinh ngày 01/5/2014. Hiện hai
cháu đang sinh sống và học tập ổn định tại thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên
Quang. Khi ly hôn chị đề nghị giao cháu K cho chị nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho
anh L nuôi dưỡng. Nhưng do chị đang lao động ở nước ngoài chị đề nghị Tòa án
tạm giao cháu K cho ông Sằm Văn P thay chị chăm sóc cháu K đến khi chị về
nước. Chị không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Triệu Thị X đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Sằm Văn L đang ở Ba Lan nhưng không rõ địa chỉ:
Tòa án tiến hành niêm yết tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi người
thân thích của anh Sằm Văn L cư trú và tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho
anh L thông qua ông Sằm Văn P và bà Đặng Thị C (bố mẹ đẻ anh L); Cùng trú tại
địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
Đồng thời, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ:
Tại Công văn số: 1284/QLXNC - Đ1 ngày 28/10/2024 của Phòng Q Công
an tỉnh T về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh xác định: Chị Triệu Thị X,
sinh ngày 04/9/1993; giới tính: Nữ; Số Chứng minh nhân dân: 070911571; Nơi
đăng ký hộ khẩu làm hộ chiếu số C3989876: Thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên
Quang. Qua tra cứu phần mền quản lý xuất nhập cảnh tại đơn vị, Triệu Thị X đã
sử dụng hộ chiếu số C3989876 xuất cảnh lần gần nhất ngày 20/8/2024 (09:34:04)
tại Sân bay quốc tế N, hiện chưa nhập cảnh lại Việt Nam.
Tại công văn số: 02/CV- CAX ngày 05/01/2025 của Công an xã B, huyện
C, tỉnh Tuyên Quang xác định: Công dân Triệu Thị X, sinh năm 1993, quê quán:
xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang hiện tại không có hộ khẩu thường trú tại địa
3
phương; đã chuyển khẩu đến xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang vào năm 2011 với
lý do chuyển khẩu là kết hôn.
Tại công văn số: 102/CV- CAX ngày 30/12/2024 của Công an xã T, huyện
N, tỉnh Tuyên Quang về việc cung cấp thông tin công dân xác định: Công dân
Triệu Thị X, sinh ngày 04/9/1993, ĐDCN: 008193008780, quê quán: B, C, Tuyên
Quang; có hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; thời
gian đăng ký thường trú: 27/4/2011; lý do chuyển khẩu đến địa phương: Đăng ký
kết hôn với anh Sằm Văn L.
Tại Công văn số: 1564/QLXNC - Đ1 ngày 17/12/2024 của Phòng Q Công
an tỉnh T về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh xác định: Anh Sằm Văn L,
sinh ngày 14/5/1990; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C,
xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, hộ chiếu số P02831182 xuất cảnh ngày
04/7/2024 qua Sân bay N nhưng chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại biên bản xác minh với tổ trưởng tổ an ninh thôn C, xã T, huyện N ông
Trương Văn N cung cấp: Chị X và anh L đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện
N, tỉnh Tuyên Quang năm 2011. Từ khi kết hôn anh chị không xảy ra mẫu thuẫn
gì khiến thôn, xã phải vào hòa giải, giải quyết. Năm 2017 chị X xuất khẩu lao
động sang Đài Loan. Năm 2024 anh L cũng đi lao động tại Ba Lan. Hiện nay anh
L, chị X đều không có mặt tại địa phương. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn như
thế nào anh không nắm được. Anh L1 và chị X có 02 con chung là cháu Sằm Ngọc
K, sinh năm 2012 và cháu Sằm Minh T1, sinh năm 2014. Hiện 02 cháu đang sinh
sống cùng ông Sằm Văn P và bà Đặng Thị C (bố mẹ đẻ anh L1) tại thôn C, xã T,
huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Về tài sản chung, vay nợ chung của anh L1, chị Xuân
T2 không nắm được.
Tại biên bản xác minh, bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Sằm Văn P và bà Đặng Thị C cùng có ý kiến như sau:
Năm 2011 anh L1 và chị X đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã T, huyện
N, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sống riêng nhưng vẫn trong thôn
C. Đến năm 2017 chị X xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Năm 2018 anh L1 cùng
hai con đến sống cùng ông bà. Tháng 6 năm 2024 anh L1 qua Hy Lạp lao động,
đến tháng 9 năm 2024 anh L1 qua Ba L2 và hiện nay vẫn đang lao động tại Ba
Lan. Do anh L1 và chị X làm việc cách xa nhau, anh L1 lại hay ghen nên thường
xuyên xảy ra mâu thuẫn. Trong thời gian làm việc ở nước ngoài anh chị vẫn
thường xuyên gọi điện về cho ông bà nhưng ông bà không biết địa chỉ cụ thể của
anh chị ở đâu. Hiện nay anh L1 và chị X không có mặt tại địa phương. Ông bà
cam đoan sẽ gửi văn bản của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang cho anh L1 bằng
cách chụp ảnh gửi qua messenger ngay sau khi nhận được.
4
Trong quá trình chung sống anh L1 và chị X có 02 con chung là cháu Sằm
Ngọc K, sinh ngày 17/9/2012 và cháu Sằm Minh T1, sinh ngày 01/5/2014. Hai
cháu hiện đang sinh sống cùng ông bà tại thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên
Quang. Trong trường hợp anh L1, chị X ly hôn ông bà đồng ý chăm sóc, nuôi
dưỡng cháu K và cháu T1 đến khi anh L1, chị X về Việt Nam.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh L1, chị X không có.
Tại bản tự khai cháu Sằm Ngọc K trình bày: Cháu Sằm Ngọc K, sinh ngày
17/9/2012 là con của bố Sằm Văn L và mẹ Triệu Thị X. Hiện cháu đang học lớp
7 trường trung học phổ thông xã T. Nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng
ở với mẹ, nhưng do mẹ cháu đang lao động tại Đài Loan, bố cháu đang lao động
ở Ba Lan nên cháu muốn ở cùng ông bà nội đến khi mẹ cháu về Việt Nam.
Tại bản tự khai cháu Sằm Minh T1 trình bày: Cháu Sằm Minh T1, sinh
ngày 01/5/2014 là con của bố Sằm Văn L và mẹ Triệu Thị X. Hiện nay cháu đang
học lớp 5 trường tiểu học xã T. Nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng ở
với bố L, nhưng do bố L đang lao động ở Ba Lan, mẹ X đang làm việc ở Đài Loan
nên cháu muốn ở cùng ông bà nội đến khi bố L về Việt Nam.
Do anh Sằm Văn L và chị Triệu Thị X đều đang ở nước ngoài nên căn cứ
Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký đã chấp hành
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến phiên tòa.
Nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có đơn xin xét
xử vắng mặt; bị đơn ở nước ngoài không rõ địa chỉ Tòa án đã tống đạt văn bản
cho người thân thích và thực hiện niêm yết theo quy định. Vì vậy, căn cứ Điều
228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc xét xử vắng mặt chị Triệu Thị X,
anh Sằm Văn L, ông Sằm Văn P và bà Đặng Thị C phù hợp theo quy định của
pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định cuộc
sống vợ chồng của chị Triệu Thị X và anh Sằm Văn L đã phát sinh mâu thuẫn,
gia đình đã nhiều lần khuyên can hòa giải nhưng không được, không có khả năng
đoàn tụ. Vì vậy, căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều
38, khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147; Điều 179; các khoản 2, 4 Điều
207; các Điều 228, 238; 271, 273; điểm d khoản 1 Điều 469; các Điều 474, 479
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội
đồng xét xử:
5
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị X,
cho chị Triệu Thị X được ly hôn với anh Sằm Văn L.
Về con chung: Giao cháu Sằm Ngọc K, sinh ngày 17/9/2012 cho chị Triệu
Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn đến khi
đủ 18 tuổi. Giao cháu Sằm Minh T1, sinh ngày 01/5/2014 cho anh Sằm Văn L
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn đến khi đủ 18
tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn, được quyền đi lại
thăm nom con chung mà không ai được cản trở, có quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Do hiện nay chị Triệu Thị X và án Sằm Văn L đang lao động ở nước ngoài
nên tạm giao các cháu Sằm Ngọc K1 và cháu Sằm Minh T1 cho ông Sằm Văn P
và bà Đặng Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi chị Triệu Thị X và anh
Sằm Văn L về Việt Nam.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Triệu Thị X xác định không có,
không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Triệu Thị X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ
thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Triệu Thị X đã nộp,
chị X đã nộp đủ án phí. Anh Sằm Văn L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Chị Triệu Thị X, anh Sằm Văn L có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Sằm Văn P
và bà Đặng Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem
xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Anh Sằm Văn L và chị Triệu Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng
ký kết hôn ngày 30/3/2011 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, theo quy
định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp.
Tranh chấp giữa chị X và anh L là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 38 của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Chị X có đơn xin ly hôn anh L; cả hai anh chị đều có quốc tịch Việt Nam
nhưng hiện tại đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Vì vậy, việc giải quyết
ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang theo
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
6
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự:
Anh L1 hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể nhưng gia đình xác
nhận anh vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Tòa án đã tiến hành niêm yết và
tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh L1 thông qua bố mẹ đẻ anh là
ông Sằm Văn P, bà Đặng Thị C và niêm yết theo quy định. Chị Triệu Thị X đang
lao động ở nước ngoài nhưng Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án
cho chị X thông qua ông Nguyễn Việt T - là người đại diện theo ủy quyền giao,
nhận tài liệu cho chị X; chị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sằm Văn P và bà Đặng Thị C đã có đơn xin xét xử
vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị X, anh L1,
ông P, bà C là phù hợp, đúng quy định.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị X:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị X phù hợp với ý kiến trình bay
của bố mẹ đẻ anh L1 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị X và anh L1 có mâu thuẫn,
không quan tâm tới nhau, đã sống ly thân nhiều năm, mẫu thuẫn đến mức trầm
trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn
nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị X,
xử cho chị Triệu Thị X được ly hôn với anh Sằm Văn L.
[3.2] Về con chung: Chị Triệu Thị X và anh Sằm Văn L có 02 con chung
là cháu Sằm Ngọc K, sinh ngày 17/9/2012 và cháu Sằm Minh T1, sinh ngày
01/5/2014. Cháu K có nguyện vọng muốn ở cùng chị X; cháu cháu T1 có nguyện
vọng ở cùng L. Như vậy cần giao cháu Sằm Ngọc K cho chị Triệu Thị X và giao
cháu Sằm Minh T1 cho anh Sằm Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật
Hôn nhân và gia đình. Nhưng do anh L và chị X đang ở nước ngoài và hiện nay
hai cháu đang ở cùng ông Sằm Văn P, bà Đặng Thị C (là ông bà nội của các cháu
K, T1). Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu K và cháu T1, cần tạm giao
cháu K và cháu T1 cho ông Sằm Văn P, bà Đặng Thị C cùng trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục đến khi chị X và anh L về Việt Nam. Chị X, anh L được
quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu
cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cầu dưỡng nuôi con chung
khi ly hôn.
[3.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Triệu Thị X xác định không có,
không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
7
[4] Về án phí: Chị Triệu Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy
định của pháp luật. Anh Sằm Văn L không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 38, khoản
1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147; Điều 179; các khoản 2, 4 Điều 207; các
Điều 228, 238, 266, 271, 273, 469, 474, 478, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu
Thị X, cho chị Triệu Thị X được ly hôn với anh Sằm Văn L theo Giấy chứng nhận
kết hôn số 05/2011 cấp ngày 30 tháng 3 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã T,
huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
2. Về con chung:
Giao cháu Sằm Ngọc K, sinh ngày 17/9/2012 cho chị Triệu Thị X trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Giao cháu Sằm Minh T1, sinh ngày 01/5/2014 cho anh Sằm Văn L trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi .
Chị Triệu Thị X, anh Sằm Văn L được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc
con chung không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn. Do hiện
nay chị X và anh L đang làm việc ở nước ngoài, nên tạm giao cháu K, cháu T1
cho ông Sằm Văn P và bà Đặng Thị C cùng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục đến khi chị X và anh L về Việt Nam.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Triệu Thị X xác định không có,
không đề nghị giải quyết, nên không xem xét.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Triệu Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông
Nguyễn Việt T nộp thay chị X là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số
0003511 ngày 01 tháng 11 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên
8
Quang; chị X đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Sằm Văn L không phải chịu
án phí.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Triệu Thị X và anh Sằm Văn L được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
công khai.
Ông Sằm Văn P và bà Đặng Thị C được quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
công khai./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Cục THA dân sự tỉnh;
- UBND xã Thanh Tương, huyện Na Hang,
tỉnh Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phúc An Hoành
9
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nguyễn Thị Kim Thanh Nguyễn Thị
Tâm
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phúc An Hoành
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 16/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 14/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 25/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 28/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 18/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/10/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 09/10/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm