Bản án số 97/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 97/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 97/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 97/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 97/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
Số hiệu: | 97/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 25/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | thangs6-7 ba T1 vay ba T 3 lan tien 380.000.000d khong tra ba T kien doi |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 64/2025/HS-PT
Ngày 17-3-2025.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Triết
Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Phương
Bà Nguyễn Thị Hạnh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Vũ
Đình Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 40/2025/TLPT-HS ngày
20/01/2025 đối với bị cáo Trần Công D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do
có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 398/2024/HSST ngày 16
tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Công D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08
tháng 12 năm 2003; Tại: Đắk Lắk; Nơi ĐKHKTT: B A, phường T, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk; Chỗ ở: Hẻm G T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn:
06/12; Con ông: Trần Phước T, sinh năm 1965; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm:
1969. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 cho đến nay, hiện đang bị
tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trần Công D là người sử dụng chất lỏng màu nâu mà D nhận thức rõ là ma tuý,
có tên thường gọi là ma tuý CBD. D không có nghề nghiệp ổn định và cần tiền tiêu
xài cá nhân nên nảy sinh ý định mua ma tuý CBD về sử dụng và bán lại thu lợi bất
chính. Từ tháng 03/2024 đến tháng 07/2024, D 02 (hai) lần mua chất lỏng CBD mà
2
D biết là ma tuý của một người tên H (chưa xác định nhân thân, lai lịch), sử dụng tài
khoản mạng xã hội Facebook “H” để sử dụng và bán 03 (ba) lần cho 02 (hai) người
khác nhau, thu lợi bất chính số tiền 800.000đ (tám trăm ngàn đồng). Cụ thể như sau:
Lần mua, bán thứ nhất: Vào ngày 15/03/2024, D sử dụng điện thoại di động
cảm ứng (chưa xác định nhãn hiệu), gắn sim số 0945.451.478, đăng nhập vào tài
khoản mạng xã hội Facebook tên “D T2” của D, liên lạc đến tài khoản mạng xã hội
Facebook tên “Hà Chill” của H, hỏi mua 02 (hai) hũ ma túy CBD. Hòa đồng ý bán
với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng). Sau đó, D nhắn thông tin số điện thoại
0945.451.478 và địa chỉ nơi ở tại hẻm G T, P. T, Tp B, tỉnh Đắk Lắk, để H gửi ma
túy CBD thông qua công ty vận chuyển hàng hoá, nhân viên giao hàng thu hộ số tiền
trên. Đến ngày 18/3/2024, nhân viên giao hàng (chưa xác định nhân thân, lai lịch),
liên lạc giao 01 (một) gói hàng cho D. Sau đó, D mở ra kiểm tra thì thấy bên trong
có 02 (hai) hũ nhựa chứa khoảng 40ml chất lỏng là ma tuý CBD. Khoảng 18 giờ 55
phút, cùng ngày 18/03/2024, người nam giới (chưa xác định nhân thân, lai lịch), sử
dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Nguyễn T3”, liên lạc qua tài khoản
mạng xã hội Facebook tên “Danh T2” của D, hỏi mua 10ml ma tuý CBD. D đồng ý
bán với số tiền 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) và giao dịch mua bán tại khu vực
đường P, phường T, Tp B, tỉnh Đắk Lắk, thu lợi bất chính số tiền 400.000đ (bốn
trăm ngàn đồng). Số chất lỏng còn lại D sử dụng một mình hết.
Lần mua thứ hai: Vào ngày 20/07/2024, D tiếp tục sử dụng điện thoại di động
cảm ứng, gắn sim số 0945.451.478 đăng nhập vào tài khoản mạng xã hội Facebook
tên “D T2”, liên lạc qua tài khoản mạng xã hội Facebook tên “H Chill” của H, hỏi
mua 03 (ba) hũ ma túy CBD, Hòa đồng ý bán với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng).
Bằng phương thức thủ đoạn như lần mua thứ nhất. Đến khoảng 07h00 ngày
22/7/2024, nhân viên giao hàng (chưa xác định nhân thân, lai lịch) liên lạc giao hàng
cho D. Để có tiền lấy ma tuý CBD, D bán chiếc điện thoại di động đang sử dụng có
gắn thẻ sim số 094.545.1478 (chưa xác định địa điểm bán), với số tiền 2.000.000đ
(hai triệu đồng). Sau đó, nhân viên giao hàng đến nơi ở của D giao một gói hàng.
Tại chỗ ở, D mở gói hàng ra kiểm tra thì thấy bên trong có 03 (ba) hũ nhựa chứa
khoảng 60ml chất lỏng ma túy CBD. D lấy một phần ra sử dụng, phần còn lại bị cáo
D cất giấu trong nhà, mục đích có ai hỏi mua thì sẽ bán kiếm lời. Cùng ngày
22/07/2024, D đã bán chất lỏng là ma tuý 02 (hai) lần thu lợi bất chính:
Lần bán thứ nhất: Vào khoảng 15h00’, Danh từ nơi ở mang theo 03 (ba) hũ ma
túy CBD cất giấu trong người và điều khiển xe môtô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển
kiểm soát 47B2 -461.39 đi đến tiệm Internet ở đường Đ, phường T, Tp B. (chưa xác
định địa chỉ), thì có tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Nguyễn T3” (lần mua bán
thứ nhất) liên lạc hỏi mua 10ml ma túy CBD. D đồng ý bán với số tiền 400.000đ
(bốn trăm ngàn đồng) và hẹn giao ma túy tại khu vực đường P, phường T, Tp B. Sau
đó, bị cáo D chiết ra 01 (một) hũ khoảng 10ml chất lỏng CBD rồi từ tiệm Internet,
điều khiển xe môtô trên đến điểm giao ma túy, thu lợi bất chính số tiền 400.000đ
(bốn trăm ngàn đồng).
3
Lần bán thứ hai: Đến khoảng 15h35’, D đến tiệm Internet ở đường A, phường
T, Tp B. (chưa xác định địa chỉ). Tại đây, D sử dụng mạng xã hội Facebook, liên lạc
với người nam giới sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Phát T” (chưa xác
định nhân thân, lai lịch), thoả thuận mua bán 10ml ma túy CBD, với số tiền 400.000đ
(bốn trăm ngàn đồng). Giao dịch mua bán ma túy tại hẻm G T, phường T, Tp B. Sau
đó, bị cáo D từ tiệm Internet, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển
kiểm soát 47B2 - 461.39 đi đến trước số nhà D H, phường T, Tp B, tỉnh Đắk Lắk,
chưa kịp bán ma tuý CBD thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ
vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định số: 5824/KL-KTHS ngày 13 tháng 8 năm 2024 của
V - Bộ C kết luận: Tìm thấy chất MDMB-BUTICA trong các mẫu giám định. Chất
này có tác dụng tương tự chất ma tuý Delta-9-tetrahydrocanabinol (THC) trong Cần
sa nhưng không nằm trong danh mục chất ma tuý và tiền chất ban hành kèm theo
Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày
17/07/2024 của Chính phủ.
Không tìm thấy chất ma tuý trong các mẫu chất lỏng gửi giám định. Tổng thể
tích mẫu: 47,5mL.
H1 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật còn lại và vỏ bao gói (theo biên bản
mở niêm phong, cân (đo) xác định khối tượng (thể tích), trích mẫu giám định và
niêm phong lại đối tượng giám định ngày 31/7/2024.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 398/2024/HSST ngày 16/12/2024 của Tòa
án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Công D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm r, s khoản 1 Điều 51
Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Công D 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp
hành án tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 22/7/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/12/2024, bị cáo Trần Công D có đơn kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Công D giữ nguyên nội dung kháng cáo
và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản
cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân
tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp
sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Công D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo
điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Xét mức
4
hình phạt 07 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là thỏa
đáng. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà
bị cáo được hưởng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ
vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 398/2024/HSST ngày
16/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình
phạt.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Công D đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa
sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào các ngày 18/03/2024 và ngày 22/07/2024
tại địa bàn thành phố B, bị cáo Trần Công D mua 02 (hai) lần chất lỏng màu nâu mà
bị cáo nhận thức rõ là ma tuý, với tổng số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) để sử
dụng và 03 (ba) lần bán lại cho người khác với mục đích kiếm lời, thu lợi bất chính
số tiền 800.000đ (tám trăm ngàn đồng). Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về
tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự
là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận
thấy: Mức hình phạt 07 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với
bị cáo Trần Công D là có phần nghiêm khắc, bỡi lẽ bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều
tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần chấp
nhận một phần kháng cáo của bị cáo giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo
thấy được sự nghiêm minh của pháp luật mà yên tâm rèn luyện, cải tạo mau chóng
thành người có ích cho xã hội. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c
khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần
Công D – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 398/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa
án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Công D phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công D – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm
số 398/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm r, s khoản 1 Điều 51
Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Công D 07 (Bảy) năm tù về tội: “ Mua bán trái phép chất
ma túy”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày
22/7/2024.
[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3]. Về án phí: Bị cáo Trần Công D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Công an tỉnh Đắk Lắk (LLTP);
- TAND Tp. Buôn Ma Thuột;
- VKSND Tp. Buôn Ma Thuột;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
- CC THADS Tp. B;
- Bị cáo;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án
- Lưu hồ sơ.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Đình Triết
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 05/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm