Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 44/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 44/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 44/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu |
Số hiệu: | 44/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 11/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Bà Nguyễn Thị Q khởi kiện ông Nguyễn Văn T về yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Bản án số: 44/2025/DS-PT
Ngày 11 - 3 - 2025
V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Xuân Long
Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Huệ
Ông Cao Minh Vỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Vy – Thư k Ta n nhân dân
tnh Bà Rịa – Vng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh B Ra – Vng Tu: Bà Lê Thị
Vẹn - Kiểm sát viên.
Trong cc ngày 04 và ngày 11 thng 3 năm 2025, tại tr s Ta n nhân
dân tnh Bà Rịa – Vng Tàu xét xử phúc thẩm công khai v n th l số
297/2024/TLPT-DS ngày 16-12-2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa
kế”.
Do Bản n dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 25 thng 9 năm 2024
của Toà n nhân dân huyện Long Điền bị khng co.
Theo Quyết định đưa v n ra xét xử số 38/2025/QĐ-PT ngày
17/02/2025 giữa cc đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1964 (có mặt);
Địa ch: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tnh Bà
Rịa - Vng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy Đ, sinh
năm 1982; địa ch: Số E đường C, phường P, thành phố B, tnh Bà Rịa - Vng
Tàu (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Đức
H, Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư tnh B
- B đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 (có mặt) và bà Nguyễn Thị
Tường M, sinh năm 2002 (có mặt).

2
Cùng địa ch: Tổ H khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tnh
Bà Rịa - Vng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1956 (có mặt);
Địa ch: Tổ B khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tnh Bà
Rịa - Vng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà X: Ông Trần Đức H, Luật
sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư tnh B.
2. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1956 (có mặt);
Địa ch: Tổ H khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tnh Bà
Rịa - Vng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ1: Ông Trần Đức H,
Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư tnh B.
3. Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1961 (có mặt);
Địa ch: Tổ A Ô khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tnh Bà
Rịa - Vng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Q1: Ông Trần Đức H,
Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư tnh B
4. Bà Võ Thị Như L, sinh năm 1969 (vắng mặt);
Địa ch: Tổ H khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tnh Bà
Rịa - Vng Tàu.
- Người kháng cáo:
1. Bà Nguyễn Thị Q, là nguyên đơn trong v n.
2. Bà Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị X và Nguyễn Thị Đ1, là người có
quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v n.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án thì
nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày như sau:
Cha mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị Q là ông Nguyễn Công K (sinh năm 1928,
chết năm 1987) và bà Nguyễn Thị P (sinh năm 1927, chết năm 1999). Qu trình
chung sống thì ông K bà P sinh được 05 người con chung là các ông bà: Nguyễn
Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Văn T. Ngoài
những người con chung này thì ông K và bà P không cn người con riêng hay
con nuôi nào khc. Cha mẹ đẻ của ông K và bà P đều chết trước ông K và bà P.
Bà Q cam kết việc khai hàng thừa kế như trên là đúng sự thật và tự chịu trch
nhiệm với lời khai của mình.

3
Trong qu trình chung sống ông K và bà P tạo dựng được tài sản chung là:
Diện tích đất 65m
2
và một căn nhà cấp 4 nằm trên đất thuộc thửa đất số 192, tờ
bản đồ số 123 tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu.
Ông K và bà P chết không để lại di chúc đối với phần nhà đất này và tại thời
điểm ông K, bà P chết thì phần nhà đất này cng chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dng đất. Sau này khi Nhà nước có chính sch làm giấy tờ nhà
đất nên bà Nguyễn Thị Q1 và bà Q có đến UBND thị trấn L k văn bản ủy
quyền cho ông Nguyễn Văn T được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử
dng nhà đất của ông K bà P để tiện cho việc sử dng. C thể văn bản mà bà Q
kí tại UBND thị trấn L là văn bản có tiêu đề Ủy quyền làm sổ đỏ, bà Q có viết
thêm vài chữ tại chữ kí của mình vào tờ đơn uỷ quyền như sau: “chỉ ủy quyền
cho ông T đứng tên và chỉ cho ở không cho bán”. Bà Q khẳng định: Bà Q và bà
Q1 ch ủy quyền cho ông T làm sổ đỏ, chứ không từ chối nhận di sản thừa kế
của ông K bà P. Đồng thời, ngoài văn bản ủy quyền làm sổ đỏ này thì bà Q
không kí vào bất kì văn bản nào khc. Trước khi kí ủy quyền thì cn bộ tại
UBND thị trấn L cng đã giải thích cho bà Q về việc kí vào đơn để ủy quyền
cho ông T làm sổ đỏ, tuy nhiên ông T lại có tờ “Đơn từ chối nhận di sản thừa
kế” có chữ kí của bà Q thì bà Q hoàn toàn không biết. Đối với bà Nguyễn Thị
Đ1 và bà Nguyễn Thị X thì ông Nguyễn Văn T có lừa gạt, ông T đem đơn
xuống nhà bà Đ1 và bà X và nói là ông T bn đất ruộng nên nhờ k vào giấy để
cho ông T bn đất ruộng. Bà X, bà Đ1 không biết chữ nên ông T lấy ra hộp lăn
tay yêu cầu bà X, bà Đ1 lăn tay vào.
Nhà đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123 tọa lạc tại khu phố H, thị
trấn L, huyện L là di sản thừa kế của ông K bà P. Việc ông T tự làm giấy
chứng nhận quyền sử dng đất đứng tên vợ chồng ông T bà Võ Thị Như L và
việc ông T bà L tự tặng cho con gi là chu Nguyễn Thị Tường M được đứng
tên trên sổ đỏ thì bà Q không đồng .
Bà Q xc nhận chữ kí và chữ viết trong đơn cam kết không nhận tài sản
thừa kế là của bà Q, nhưng bà Q nhớ là ch kí để ủy quyền cho ông T được đứng
tên sổ đỏ chứ không từ chối nhận di sản thừa kế gì cả.
Nay bà Q khi kiện yêu cầu Ta n giải quyết như sau:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dng đất số AM 963503, diện tích 65m²,
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123 tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện
L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu.
- Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Công K, bà Nguyễn Thị P để lại là
diện tích đất 65m
2
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, trên đất có một căn
nhà cấp 4 tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu thành 05 phần
bằng nhau cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Công
K, bà Nguyễn Thị P bao gồm bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn
Thị Q1, bà Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn Văn T.
- Về căn nhà trên đất tranh chấp: Căn nhà c trước đây do ông K, bà P xây
dựng. Tuy nhiên do thời gian xây dựng đã lâu và sau khi Nhà nước thu hồi một

4
phần đất để làm đường thì ông T đã sửa chữa lại căn nhà này. Ngoài ra, do ảnh
hưng của bão nên căn nhà trên đất cng hư hỏng nhiều. Ông T đã tự đập căn
nhà c và xây dựng một căn nhà mới như bây giờ mà không bo với cc chị em
bà Q. Nay bà Q yêu cầu Ta n chia gi trị căn nhà c do ông K, bà P xây dựng
với gi trị hao mn đến thời điểm hiện tại là khoảng 150.000.000đ.
Bà Q đồng để lại nhà đất cho ông T tiếp tc sử dng. Ông T phải hoàn
trả lại cho bà Q gi trị phần quyền sử dng đất mà bà Q được nhận thừa kế.
Về biên bản định gi ngày 27/6/2024 bà Q không có kiến gì.
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Cha mẹ ông T là ông Nguyễn Công K (sinh năm 1928, chết năm 1987) và
bà Nguyễn Thị P (sinh năm 1927, chết năm 1999) có 05 người con tên là:
Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Văn T;
Ngoài những người con này thì không cn người con nào khc cả, ông bà nội
ngoại của ông T đều chết trước ông K và bà P’ ông T cam kết việc khai hàng
thừa kế như trên và tự chịu trch nhiệm với lời khai của mình. Ông K và bà P
trong qu trình chung sống có tạo dựng được tài sản chung là: Diện tích đất
65m
2
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, trên đất có một căn nhà cấp 4 tọa
lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L, tinh B; Ông K và bà P chết không để lại
di chúc đối với phần nhà đất này và tại thời điểm ông K, bà P chết thì phần nhà
đất này cng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dng đất, ông T chung
sống cùng ông K, bà P tại nhà đất này từ nhỏ đến lớn, sau đó ông K, bà P đã nói
cho ông T phần nhà đất này nhưng ch nói bằng miệng và không có giấy tờ gì
cả.
Sau khi ông K, bà P chết thì ông T vẫn là người trực tiếp quản l, sử dng
nhà đất này cùng với vợ ông T là bà L. Đến năm 2008 khi có chủ trương của nhà
nước là cấp giấy chứng nhận quyền sử dng đất thì cc chị em trong nhà đã
thống nhất để phần nhà đất này lại cho ông T và cc chị của ông T đã thống nhất
kí tên vô đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế tại UBND thị trấn L vào ngày
6/6/2008 và đã được UBND thị trấn L xc nhận đúng quy định. Phần đất này là
đất thừa kế của ông T được hưng nhưng tại thời điểm cấp giấy thì ông T đã kết
hôn với bà L nên sau khi hoàn tất hồ sơ thì ngày 07/10/2008 ông T và bà L được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dng đất số AM 963503 đối với diện tích 65m²,
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123 tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện
L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu. Do ông T bà L ch có một người con gi nên đã ông
T bà L đã k tặng cho toàn bộ phần nhà đất này cho con là Nguyễn Thị Tường
M để sau này lỡ có chuyện gì khỏi rắc rối cng để tiện cho công việc làm ăn
cng như những dự định sau này của gia đình.
Trên đất trước kia có một căn nhà do ông K, bà P xây dựng lên, căn nhà
xây từ xưa, sau đó vào năm 2000 nhà nước thu hồi phần đất phía trước nhà để
làm đường nên ông T phải đập bỏ một phần ngôi nhà phía trước và tự bỏ tiền ra
để tiến hành sửa lại toàn bộ căn nhà. Năm 2001 ông T lấy bà L và hai vợ chồng
vẫn sinh sống trên căn nhà này, đến năm 2005 do bị bão đã ph huỷ gần như

5
toàn bộ căn nhà nên vợ chồng cùng với sự hỗ trợ của nhà nước đã bỏ tiền ra cất
lại căn nhà mới, đến năm 2023 do nhà đã xuống cấp nên vợ chồng đã đập bỏ
hoàn toàn căn nhà c và xin giấy phép xây dựng để xây lại căn nhà mới như bây
giờ nên căn nhà xây dựng trên đất là hoàn toàn do vợ chồng ông T bỏ tiền ra xây
dựng lên chứ không phải của ba mẹ ông T.
Trước đây ông K và bà P có s hữu phần đất rất lớn, cng đã cho cc con
gái là bà Nguyễn Thị Đ1 và bà Nguyễn Thị Q mỗi người đã có một phần đất st
sau lưng căn nhà của ông T chứ không phải là chưa được chia đất. Nay do gia
đình không có sự đồng thuận, cc chị của ông T có mâu thuẫn với vợ ông T nên
mới pht sinh ra việc thưa kiện để đi chia đất chứ trước đó cc chị của ông T
không có kiến gì về phần nhà đất này cả, gia đình ông T vẫn sinh sống trên
phần đất này mấy chc năm, ngoài gia đình ông T ra thì không còn ai khác sinh
sống trên nhà đất này cả.
Nay ông T không đồng với toàn bộ cc yêu cầu khi kiện của bà Q về
việc chia di sản thừa kế của ông K và bà P vì đây là tài sản của ông T.
Về biên bản định gi ngày 27/6/2024 ông T không có kiến gì.
3. Bị đơn bà Nguyễn Thị Tường M trình bày:
Bà M thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông Nguyễn Văn T, ngoài
ra bà M không có trình bày hay yêu cầu gì khc. Bà M không đồng với toàn bộ
cc yêu cầu về chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Công K và bà Nguyễn Thị P.
Về biên bản định gi ngày 27/6/2024 bà M không có kiến gì.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Võ Thị Như L trình bày:
Bà L thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông Nguyễn Văn T, ngoài ra
bà L không có trình bày hay yêu cầu gì khc. Bà L không đồng với toàn bộ cc
yêu cầu về chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Công K và bà Nguyễn Thị P. Về
biên bản định gi ngày 27/6/2024 bà L không có kiến gì.
5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Q1 trình bày:
Trước đây, cha mẹ bà Q1 là ông Nguyễn Công K (sinh năm: 1928, chết
năm 1987) và bà Nguyễn Thị P (sinh năm: 1927, chết năm: 1999) có 05 người
con tên là: Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q,
Nguyễn Văn T; ngoài những người con này thì ông K và bà P không cn người
con nào khc; ông bà nội ngoại của bà Q1 đều chết trước ông K và bà P; bà Q1
cam kết việc khai hàng thừa kế như trên là đúng và tự chịu trch nhiệm với lời
khai của mình. Ông K và bà P trong qu trình chung sống có tạo dựng được tài
sản chung là: Diện tích đất 65m
2
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, trên
đất có một căn nhà cấp 4 tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L, tinh B; Ông
K và bà P chết không để lại di chúc đối với phần nhà đất này và tại thời điểm
ông K, bà P chết thì phần nhà đất này cng chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dng đất. Nay bà Q1 đồng và hoàn toàn thống nhất với lời trình bày
và yêu cầu của phía nguyên đơn, ngoài ra không có yêu cầu hay trình bày gì
khác.

6
Về căn nhà trên đất thì trước kia do ông K, bà P xây dựng lên nhưng do
thời gian xây dưng đã lâu khoảng 40 năm, nhà đã c, rồi do nhà nước phóng
đường ông T đã sửa chữa lại, sau đó do bão nhà cng hư hỏng ông T cng đã
sửa lại, sau này thì ông T đã đập hoàn toàn căn nhà và xây dựng căn nhà như
bây giờ. Bà Q1 yêu cầu chia gi trị căn nhà c do ông K, bà T xây dựng lên với
gi trị hao mn đến thời điểm hiện tại là khoảng 150.000.000đ.
Bà Q1 đồng lấy phần gi trị nhà đất được chia bằng tiền và đồng để lại
nhà đất cho ông T. Về biên bản định gi ngày 27/6/2024 bà Q1 không có kiến
gì.
6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày:
Trước đây, cha mẹ bà Đ1 là ông Nguyễn Công K (sinh năm: 1928, chết
năm 1987) và bà Nguyễn Thị P (sinh năm: 1927, chết năm: 1999) có 05 người
con tên là: Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q,
Nguyễn Văn T; ngoài những người con này thì ông K và bà P không cn người
con nào khác; ông bà nội ngoại của bà Đ1 đều chết trước ông K và bà P bà Đ1
cam kết việc khai hàng thừa kế như trên là đúng và tự chịu trch nhiệm với lời
khai của mình. Ông K và bà P trong qu trình chung sống có tạo dựng được tài
sản chung là: Diện tích đất 65m
2
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, trên
đất có một căn nhà cấp 4 tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L, tinh B; Ông
K và bà P chết không để lại di chúc đối với phần nhà đất này và tại thời điểm
ông K, bà P chết thì phần nhà đất này cng chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dng đất. Nay bà Đ1 đồng và hoàn toàn thống nhất với lời trình bày
và yêu cầu của phía nguyên đơn, ngoài ra không có yêu cầu hay trình bày gì
khác.
Tại thời điểm ông T làm sổ đỏ thì ông T lại nhà bà Đ1 và có đưa giấy tờ
cho bà Đ1 và nói với bà Đ1 là k tên để làm giấy chứng nhận quyền sử dng đất
qua cho ông T và bà Đ1 đã k tên vô giấy tờ mà ông T đưa, ông T không nói với
tôi giấy đó là đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế, bà Đ1 k và ghi họ tên bà
Đ1 vô giấy là tại nhà bà Đ1 chứ không phải tại uỷ ban, bà Đ1 không lên uỷ ban,
bà Đ1 biết chữ nhưng bà Đ1 không đọc lại giấy tờ, ông T đưa bà Đ1 kí tên vô
luôn.
Bà đồng với cc yêu cầu khi kiện của bà Q, đồng lấy phần gi trị đất
được chia bằng tiền và đồng để lại nhà đất cho ông T.
Về căn nhà trên đất thì trước kia do ông K, bà P xây dựng lên nhưng do
thời gian xây dưng đã lâu, nhà đã c, rồi do nhà nước phóng đường ông T đã sửa
chữa lại, sau đó do bão nhà cng hư hỏng ông T cng đã sửa lại, sau này thì ông
T đã đập hoàn toàn căn nhà và xây dựng căn nhà như bây giờ. Bà Đ1 không
tranh chấp căn nhà trên đất vì căn nhà đó do ông K, bà P xây lên cng đã lâu rồi
và ông T cng đã qua nhiều lần sửa chữa và xây mới đến bây giờ, bà Đ1 đồng
để phần gi trị căn nhà ngày xưa đó lại cho ông T. Về biên bản định gi ngày
27/6/2024 bà Đ1 không có kiến gì.
7. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị X trình bày:

7
Trước đây, cha mẹ bà X là ông Nguyễn Công K (sinh năm: 1928, chết
năm 1987) và bà Nguyễn Thị P (sinh năm: 1927, chết năm: 1999) có 05 người
con tên là: Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q,
Nguyễn Văn T; ngoài những người con này thì ông K và bà P không cn người
con nào khc; ông bà nội ngoại của bà X đều chết trước ông K và bà P; bà X
cam kết việc khai hàng thừa kế như trên là đúng và tự chịu trch nhiệm với lời
khai của mình. Ông K và bà P trong qu trình chung sống có tạo dựng được tài
sản chung là: Diện tích đất 65m
2
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, trên
đất có một căn nhà cấp 4 tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L, tinh B; Ông
K và bà P chết không để lại di chúc đối với phần nhà đất này và tại thời điểm
ông K, bà P chết thì phần nhà đất này cng chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dng đất. Nay bà X đồng và hoàn toàn thống nhất với lời trình bày
và yêu cầu của phía nguyên đơn, ngoài ra không có yêu cầu hay trình bày gì
khác.
Trước kia ông T có xuống nhà bà X, đưa cho bà X một tờ giấy và nói bà
X lăn tay vô để ông T bn phần đất ruộng nên bà X cng lăn tay vô giấy tờ mà
ông T đưa, ông T không nói với bà X giấy đó là đơn cam kết không nhận tài sản
thừa kế, bà X đã lăn tay vô giấy là tại nhà của bà X chứ không phải tại Ủy ban
nhân dân thị trấn L, bà X không lên uỷ ban, bà X không biết chữ nên ch lăn tay,
bà X cng xc nhận dấu vân tay mà thẩm phn ch cho bà X trong tờ đơn cam
kết không nhận tài sản thừa kế ngày 06/6/2008 chính là dấu vân tay của bà X đã
lăn tay vô. (khi thẩm phn ch cho bà X và hỏi về dấu vân tay thì có tất cả mọi
người trong phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải vào ngày 15-8-2024 đã
chứng kiến)
Về căn nhà trên đất thì trước kia do ba ông K và bà P xây dựng lên nhưng
do thời gian xây dưng đã lâu, nhà đã c, rồi do nhà nước phóng đường ông T đã
sửa chữa lại, sau đó do bão nhà cng hư hỏng ông T cng đã sửa lại, sau này thì
ông T đã đập hoàn toàn căn nhà và xây dựng căn nhà như bây giờ. Bà X yêu cầu
chia gi trị căn nhà c do ông K, bà P xây dựng lên với gi trị hao mn đến thời
điểm hiện tại là khoảng 150.000.000đ. Bà X đồng với cc yêu cầu khi kiện
của bà Q, đồng lấy phần gi trị nhà đất được chia bằng tiền và đồng để lại
nhà đất cho ông T. Về biên bản định gi ngày 27/6/2024 bà X không có kiến
gì.
8. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm
2024 của Toà án nhân dân huyện Long Điền đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khi kiện của bà Q về yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dng đất số AM 963503; chnh l sang tên bà Nguyễn Thị Tường
M vào ngày 26/4/2022.
Ngoài ra n sơ thẩm cn tuyên về n phí; quyền khng co và thời hạn thi
hành bản n theo quy định.
9. Nội dung kháng cáo:

8
Ngày 08/10/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q và những người có
quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị X có đơn khng
co với cùng nội dung: Yêu cầu Ta n phúc thẩm sửa bản n sơ thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khi kiện của nguyên đơn.
Ngày 09/10/2024, người có quyền lợi nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị
Đ1 có đơn khng co với nội dung: Yêu cầu Ta n phúc thẩm sửa bản n sơ
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khi kiện của nguyên đơn.
10. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
phát biểu ý kiến:
Về tố tng: Qu trình th l, giải quyết v n và tại phiên ta, Thẩm phn,
thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tng đã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật tố tng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ
luật Tố tng dân sự, để tuyên xử: Không chấp nhận khng co của bà Nguyễn
Thị Q, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Q1 và giữ nguyên
bản n dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Ta n nhân dân
huyện Long Điền (nay là huyện L), tnh Bà Rịa - Vng Tàu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu cc tài liệu có trong hồ sơ v n, được thẩm tra tại
phiên ta, căn cứ kết quả tranh tng tại phiên ta, kiến của kiểm st viên; Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tng:
[1.1] Đơn khng co của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Q, người có quyền
lợi, nghĩa v liên quan – bà Nguyễn Thị Q1, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị
Đ1 đảm bảo đúng thủ tc, nội dung và nộp trong thời hạn theo quy định tại cc
Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tng dân sự nên hợp lệ; Hội đồng xét xử phúc
thẩm chấp nhận xem xét lại bản n sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Sự vắng mặt của cc đương sự tại phiên ta: Ta n đã tống đạt
quyết định đưa v n ra xét xử hợp lệ cho cc đương sự; đương sự vắng mặt đã
có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tng dân
sự thì Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét yêu cầu khng co của bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Q1, bà
Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Đ1 thì thấy:
[2.1] Về hàng thừa kế:
Căn cứ vào lời khai của cc đương sự và cc tài liệu, chứng cứ là trích lc
giấy khai sinh, giấy chứng tử có trong hồ sơ v n, có đủ cơ s để xc định: C
Nguyễn Công K (sinh năm: 1928, chết năm 1987) và c Nguyễn Thị P, sinh
năm: 1927, chết năm: 1999) có 05 người con: ông (bà) Nguyễn Thị X, Nguyễn
Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Văn T.

9
C K, c P chết không để lại di chúc; căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự,
xc định người thừa kế di sản của c K, c P gồm có: Bà Nguyễn Thị X, bà
Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Q1, bà Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn Văn T.
[2.2] Xét yêu cầu của cc (bà): Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn
Thị Q1, Nguyễn Thị Q về yêu cầu phân chia di sản thừa kế của c Nguyễn
Công K và c Nguyễn Thị P để lại theo quy định của php luật là diện tích đất
65m
2
, thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, trên đất có một căn nhà cấp 4 tọa
lạc tại thị trấn L, huyện L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu thì thấy:
[2.2.1] Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 65m
2
, thuộc
thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tnh Bà Rịa -
Vng Tàu:
Theo xc nhận của cc ông (bà) Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn
Thị Q1, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Văn T thì có căn cứ để xc định: C Nguyễn
Công K và c Nguyễn Thị P chết để lại tài sản là quyền sử dng đất có diện tích
65m
2
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L,
huyện L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu. Khi c K và c P chết thì đất chưa được nhà
nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dng đất và ông T là người trực tiếp quản l
và sử dng.
Tại hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dng đất đối với diện tích
65m
2
thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện
L thể hiện: Ngày 18/5/2006, ông Nguyễn Văn T có đơn xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dng đất đối với thửa đất số 146+192/340+854 tờ bản đồ số 123/27,
diện tích 14,9+65/35+59m
2
, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, trên đất có 01 căn
nhà cấp 4; nguồn gốc đất theo ông T khai do cha mẹ khai ph trước năm 1975 sử
dng ổn định và cho lại con Nguyễn Văn T sử dng đến nay. Ngày 06/6/2008,
các bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1 có Đơn
cam kết không nhận tài sản thừa kế là nhà và đất thuộc thửa đất số 146+192 tờ
bản đồ số 123 diện tích 79,9m
2
tọa lạc tại thị trấn L và đồng để lại nhà đất này
cho ông Nguyễn Văn T, đơn có chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn L. Đến
ngày 07/10/2008, ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Như L được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dng đất số AM 963503 đối với diện tích đất 65m
2
, thửa đất số
192, tờ bản đồ số 123, toạ lạc tại thị trấn L, huyện L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu.
Ngày 02/11/2021, tại Văn phng C – xã P, huyện L, tnh Bà Rịa - Vng
Tàu, ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Như L đã k Hợp đồng tặng cho quyền sử
dng đất với bà Nguyễn Thị Tường M đối với thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123,
diện tích 65m
2
và đã được chnh l sang tên cho bà Nguyễn Thị Tường M vào
ngày 26/4/2022.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tại Kết luận gim định chữ k, chữ viết ngày 02/4/2024 của Phòng K1
Công an tnh B đã xc định được chữ viết mang tên Nguyễn Thị Q1 trên mẫu so
snh và trong “Đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế ngày 06/6/2008” là do
một người viết ra; chữ k, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Đ1 trên mẫu so snh

10
và trong “Đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế ngày 06/6/2008” là do một
người k, viết ra; chữ k, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Q trên mẫu so snh và
trong “Đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế” là do một người k, viết ra;
không đủ cơ s kết luận dấu vân tay mang tên Nguyễn Thị X trên mẫu cần gim
định và trên mẫu so snh có phải cùng một người hay không. Như vậy ch có
dấu vân tay của bà Nguyễn Thị X là không đủ cơ s để kết luận, tuy nhiên trong
qu trình giải quyết v n tại Toà n cấp sơ thẩm bà X cng đã xc nhận dấu vân
tay trong tờ đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế ngày 06/6/2008 chính là
dấu vân tay của bà X. Như vậy việc bà Q, bà Q1, bà Đ1, bà X cho rằng mình
không k tên, không lăn tay vào Đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế ngày
6/6/2008 là không có cơ s.
Căn cứ vào Đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế ngày 06/6/2008 có
chữ k, chữ viết và điểm ch của bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Đ1, bà
Nguyễn Thị Q1, bà Nguyễn Thị Q có nội dung: “Tài sản chúng tôi được thừa kế
là: Nhà và đất thuộc tờ bản đồ số 123, thửa đất số 146+192, diện tích 79,9 m
2
,
đất OĐT tọa lạc tại H, thị trấn L. Nay chúng tôi làm văn bản này, cam kết không
nhận tài sản nêu trên để lại tài sản cho em chúng tôi là ông Nguyễn Văn T thừa
hưởng, chúng tôi xin cam đoan những thông tin về nhân thân đã ghi trong văn
bản này là đúng sự thật và cam đoan về việc cam kết không nhận tài sản thừa kế
này không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với
người khác”; đơn đã được Ủy ban nhân dân thị trấn L chứng thực ngày
06/6/2008 thì có cơ s để xc định: Năm 2008, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn
Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Q1, bà Nguyễn Thị Q đã tự nguyện phân chia di sản
thừa kế của c K, c P chết để lại là diện tích 65m
2
thửa đất số 192, tờ bản đồ số
123, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L cho ông Nguyễn Văn T thừa
hưng. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dng đất số AM 963503 ngày 07/10/2008 cho ông T, cùng vợ là bà Võ Thị Như
L đối với thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, diện tích 65m
2
là đúng quy định của
php luật về đất đai. Do đó, kể từ thời điểm ông T, bà L đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dng đất (ngày 07/10/2008), thì thửa đất số 192, tờ bản đồ
số 123, diện tích 65m
2
không cn là di sản thừa kế của c K, c P, mà thuộc
quyền sử dng hợp php của ông T, bà L.
Vào ngày 02/11/2021, tại Văn phng C – xã P, huyện L, tnh Bà Rịa -
Vng Tàu, ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Như L đã k Hợp đồng tặng cho
quyền sử dng đất với bà Nguyễn Thị Tường M đối với thửa đất số 192, tờ bản
đồ số 123, diện tích 65m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dng đất số AM
963503; sau đó bà M đã được Chi nhnh Văn phng Đăng k đất đai huyện L
chnh l sang tên ngày 26/4/2022. Như vậy quy trình tặng cho và chnh l sang
tên bà M là đúng trình tự thủ tc theo luật định. Do đó, không có căn cứ để hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dng đất số AM 963503 đã chnh l sang tên bà
Nguyễn Thị Tường M ngày 26/4/2022.
Xét lời trình bày của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Q và người có quyền
lợi nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị Q1 cho rằng khi nhà nước có chính sch

11
làm sổ đỏ nên để tiện cho việc cấp sổ đỏ, bà Q1 và bà Q có đến Ủy ban nhân dân
thị trấn L k ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T được đứng tên quyền sử dng đất
của ông K và bà P. C thể tờ giấy mà bà Q và bà Q1 kí tại Ủy ban nhân dân thị
trấn L là tờ giấy có tiêu đề Ủy quyền làm sổ đỏ, bà Q có viết thêm vài chữ tại
chữ kí của mình: “ch ủy quyền cho ông T đứng tên và ch cho không cho
bn”; bà Q và bà Q1 cho rằng ch ủy quyền cho ông T được đứng tên sổ đỏ chứ
không từ chối nhận di sản thừa kế. Tuy nhiên, bà Q và bà Q1 không cung cấp
được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn
cứ. Trong qu trình giải quyết v n, bị đơn – ông T không thừa nhận lời trình
bày của bà Q và bà Q1. Do đó lời trình bày của bà Q, bà Q1 là không có căn cứ
để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét kiến của bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị X cho rằng ông
Nguyễn Văn T đem đơn xuống nhà để bà Đ1, bà X k tên; không phải k tại Ủy
ban nhân dân thị trấn L thì thấy: Tại Đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế
ngày 06/6/2008, phần chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn L đã thể hiện
nội dung như sau: “Chứng thực ông (bà): Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1,
Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q đã ký tên và điểm chỉ vào văn bản này trước mặt
của tôi, phục vụ cho việc: Cam kết không nhận tài sản thừa kế để cơ quan có
thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, bà Đ1,
bà X không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc không đến Ủy ban
nhân dân thị trấn L để k tên và điểm ch. Do đó lời trình bày của bà Q, bà Q1 là
không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Q và bà
Nguyễn Thị Q1 cho rằng: khi k tên trong đơn không đọc nội dung, mc đích k
đơn, điểm ch để cho ông T được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dng
đất, hay ch tạo điều kiện cho ông T được bn đất ruộng, không phải mc đích từ
chối nhận di sản thừa kế thì thấy: Bà Đ1, bà X, bà Q1 và bà Q không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên lời trình bày của bà Đ1, bà X, bà Q1
và bà Q là không có cơ s.
Mặt khc, ông Nguyễn Văn T đã sinh sống trên nhà đất từ nhỏ cùng với
ba mẹ là c K và c P. Sau khi c K, c P chết thì ông T vẫn sinh sống trên phần
đất này, sau đó vào năm 2006 ông T đã làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền
sử dng đất; đến ngày 07/10/2008, ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Như L
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dng đất số AM 963503, thửa đất số 192,
tờ bản đồ số 123, diện tích 65m
2
. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dng đất vào năm 2008 thì gia đình ông T vẫn tiếp tc sinh sống ổn định trên đất
đồng thời ông T và gia đình đã sửa chữa cải tạo căn nhà nhiều lần và lần cuối
cùng là đã đập đi xây mới. Suốt qu trình sử dng đất thì bà Đ1, bà X, bà Q1 và
bà Q không có đơn thư khiếu nại, tranh chấp.
Như vậy, thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, diện tích 65m
2
có nguồn gốc
là của c K và c P để lại nhưng không có di chúc. Đến ngày 06/6/2008 hàng
thừa kế thứ nhất của c K, c P có đơn cam kết không nhận tài sản thừa kế và
cam kết để lại tài sản cho ông T và ông T, vợ là bà L đã căn cứ vào Đơn cam kết

12
ngày 06/6/2008 để lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dng đất hợp php.
Từ ngày 06/6/2008 thì thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, diện tích 65m
2
có
nguồn gốc là của c K và c P đã được cc đồng thừa kế của c K, c P phân
chia cho ông T, nên không cn là di sản thừa kế. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn
chia di sản thừa kế của c K, c P và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử
dng đất đối với phần đất có diện tích 65m
2
, thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số
123 tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L, tnh Bà Rịa - Vng Tàu theo giấy
chứng nhận quyền sử dng đất số AM 963503, chnh l sang tên bà Nguyễn Thị
Tường M và đồng lấy gi trị quyền sử dng đất bằng tiền, đồng để lại toàn
bộ đất cho ông T là không có căn cứ. Ta n cấp sơ thẩm đã bc toàn bộ yêu cầu
khi kiện của bà Nguyễn Thị Q là hoàn toàn có cơ s, đúng quy định của php
luật.
[2.2.2] Đối với yêu cầu phân chia thừa kế là căn nhà có trên diện tích đất
65m
2
, thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, tọa lạc tại thị trấn L, huyện L,
tnh Bà Rịa - Vng Tàu:
Theo xc nhận của bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị
Đ1, bà Nguyễn Thị Q1, ông Nguyễn Văn T thì khi c K, c P chết có để lại căn
nhà c, vì thời gian xây dựng đã lâu, nhà đã c, rồi nhà nước thu hồi đất làm
đường nên vợ chồng ông T đã sửa chữa lại. Đến năm 2006, do bão nên nhà bị hư
hỏng, vợ chồng ông T cng đã sửa chữa lại. Sau này, thì vợ chồng ông T đập bỏ
căn nhà đã sửa chữa và xây dựng lại căn nhà 02 tầng, loại 1. Như vậy, có căn cứ
để xc định căn nhà 02 tầng loại 1 hiện nay có trên diện tích đất 65m
2
, thuộc
thửa đất số 192, tờ bản đồ số 123, tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tnh Bà Rịa -
Vng Tàu là do vợ chồng ông T đầu tư, bỏ kinh phí xây dựng nên. Do đó, căn
nhà thuộc quyền s hữu hợp php của vợ chồng ông T, không phải là di sản thừa
kế của c K, c P chết để lại. Do đó, không có cơ s chấp nhận yêu cầu của bà
Nguyễn Thị Q để xc định gi trị căn nhà hao mn đến thời điểm hiện tại là
150.000.000 đồng là di sản thừa kế của c K, c P. Ta n cấp sơ thẩm đã bc
yêu cầu khi kiện của bà Nguyễn Thị Q là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định
của php luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ s để
chấp nhận yêu cầu khng co của bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị X, bà
Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Q1.
[3] Về chi phí tố tng và n phí dân sự sơ thẩm: Ta n cấp sơ thẩm đã
quyết định đúng quy định của php luật về nghĩa v chịu chi phí tố tng và n
phí sơ thẩm.
[4] Về n phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu khng co không được chấp
nhận nên mỗi người khng co phải chịu 300.000 đồng; tuy nhiên người khng
co đều là người cao tuổi, có đơn xin miễn n phí; do đó Hội đồng xét xử quyết
định miễn toàn bộ n phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị X, bà
Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Q1.
Vì cc lẽ trên,

13
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tng Dân sự;
Không chấp nhận khng co của bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị X, bà
Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Q1.
Giữ nguyên bản n dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của
Ta n nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tnh Bà Rịa - Vng Tàu; c
thể:
Áp dng: Cc Điều 157, 158, 161, 165, 166 của Bộ luật Tố tng dân sự;
Điều 612, Điều 613, Điều 620, Điều 649, Điều 650 và Điều 651 của Bộ luật Dân
sự; Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban
Thường v Quốc hội về n phí, lệ phí Ta n.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khi kiện của bà Nguyễn Thị Q về tranh
chấp chia di sản thừa kế đối với diện tích đất 65m
2
, thuộc thửa đất số 192, tờ bản
đồ số 123 và căn nhà có trên đất tọa lạc tại khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay
là huyện L), tnh Bà Rịa - Vng Tàu.
2. Không chấp nhận yêu cầu khi kiện của bà Nguyễn Thị Q về yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dng đất số AM 963503 của Ủy ban nhân dân
huyện L cấp cho ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị Như L ngày 07/10/2008; chnh
lý sang tên bà Nguyễn Thị Tường M vào ngày 26/4/2022.
3. Về chi phí tố tng:
Bà Nguyễn Thị Q phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định gi,
gim định, trích lc hồ sơ là 6.810.500đ (su triệu tm trăm mười ngàn năm
trăm đồng) và đã nộp đủ.
Bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị Q phải
chịu toàn bộ chi phí gim định là 8.010.000đ (tm triệu không trăm mười ngàn
đồng) và đã nộp đủ.
4. Về n phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Q được miễn toàn bộ n phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Q số tiền tạm ứng n phí đã nộp 5.000.000đ
(Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002146 ngày 02/11/2023 của Chi cc
Thi hành n dân sự huyện Long Điền (Nay là huyện L).
Bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Thị
Q1 được miễn toàn bộ n phí dân sự phúc thẩm.
5. Bản n phúc thẩm có hiệu lực php luật kể từ ngày tuyên n (ngày
11/3/2025).

14
6. Trường hợp bản n, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành n dân sự thì người được thi hành n dân sự, người phải thi hành
n dân sự có quyền thỏa thuận thi hành n, quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện
thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại cc Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành n dân sự; thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành n dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tnh BR-VT;
- TAND huyện Long Đất;
- VKSND huyện Long Đất;
- Chi cc THADS huyện Long Đất;
- Cc đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Ta DS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Xuân Long
15
CÁC THẦM PHÁN
Trịnh Hoàng Anh Cao Minh Vỹ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Xuân Long
16
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 03/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 26/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 25/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Bản án số 77/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Ban hành: 25/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 24/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 24/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Bản án số 60/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Ban hành: 14/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Bản án số 53/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Ban hành: 12/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm