Bản án số 118/2024/DS-ST ngày 18/12/2024 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 118/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 118/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 118/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 118/2024/DS-ST ngày 18/12/2024 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Mỹ Xuyên (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
Số hiệu: | 118/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 18/12/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | LÂM THỊ KIỀU - DƯƠNG VĂN HOÀI V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 118/2024/DS-ST
Ngày 18/12/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử
dụng đất và tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Ông Huỳnh Văn Hiệp.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Bửu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Mỹ Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ
Xuyên mở phiên tòa dân sự xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:
45/2024/TLST - DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng
cầm cố quyền sử dụng đất và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐST-DS ngày 30/09/2024 và Q hoãn phiên
toà số: 216/2024/QĐST-DS ngày 21/10/2024, và Thông báo mở lại phiên toà số
215/TB-TA ngày 06/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên các đương
sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị K, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc Nữ S năm
1989. Địa chỉ: Ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn:
Ông Dương Văn H, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Địa chỉ: Á, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan:
2
Ông Dương Văn A sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Á, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2023, trong suốt quá trình
giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn Lâm Thị K và người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Ngọc N trình bày:
Vào ngày 18/06/2015 bà K có nhận cố đất của vợ chồng ông H, bà M diện
tích 3000m
2
tại thửa đất số 333 tờ bản đồ số 04 toạ lạc tại ấp H, xã N, huyện M,
tỉnh Sóc Trăng với giá cố là 02 lượng vàng, thời hạn cố là 03 năm bắt đầu từ
ngày 18/06/2015 đến ngày 18/06/2018 là hết hạn. Khi cầm cố đất vợ chồng ông
H, bà M có làm giấy tay ghi nhận lại việc cầm cố quyền sử dụng đất của các bên
và đã giao đất cho bà K và bà K đã giao đủ vàng cho vợ chồng ông H, bà M. Sau
đó bà K thỏa thuận với ông H, bà M cho ông H, bà M thuê lại toàn bộ diện tích
3000m
2
tại thửa đất số 333 tờ bản đồ số 04 toạ lạc tại ấp H, xã N, huyện M, tỉnh
Sóc Trăng mà bà K đã cầm cố với giá cho thuê là 6.000.000đồng/1 năm, việc
thuê đất của các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có lập thành văn bản. Từ
khi cho thuê đến nay vợ chồng ông H, bà M không thanh toán tiền thuê đất cho
bà K và khi hết hạn hợp đồng ông H, bà M không giao diện tích đất cố lại cho bà
K để sử dụng. Kể từ khi cho thuê lại đất ngày 18/6/2015 thì bà K không canh tác
trên đất cho đến nay diện tích đất nêu trên.
Nay bà K yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử
dụng đất giữa bà K và vợ chồng ông H, bà M vô hiệu. Tại phiên toà người đại
diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Lâm Thị K thay đổi yêu cầu khởi kiện,
do bà Nguyễn Thị M đã chết nên yêu cầu người kế thừa quyền và nghĩa vụ của
bà Nguyễn Thị M là ông Dương Văn A có trách nhiệm cùng với ông Dương
Văn H phải trả lại số vàng cố đất của bà là 20 chỉ vàng 24k tương đương giá
vàng tại thời điểm xét xử là 8.326.732 đồng/chỉ x 20 chỉ thành tiền là
166.534.460 đồng và trả lại số tiền thuê đất là 18.000.000 đồng mà ông Dương
Văn H và bà Nguyễn Thị M chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà Lâm Thị
Kiều . Không yêu cầu tiếp tục tính tiền thuê đất từ ngày 18/06/2018 đến ngày xét
xử vụ án theo mức cho thuê đã thỏa thuận là 6.000.000đồng/1năm như đơn khởi
kiện đã nêu.
* Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị đơn
Dương Văn H trình bày: Ông Dương Văn H thống nhất ngày 18/06/2015 vợ
3
chồng ông có cầm cố cho bà K diện tích 3.000m
2
đất tại thửa đất số 333 tờ bản
đồ số 04 toạ lạc tại ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng với giá cầm cố là 02
lượng vàng, thời hạn cầm cố là 03 năm bắt đầu từ ngày 18/06/2015 đến ngày
18/06/2018 là hết hạn. Khi cố đất bà K đã giao đủ vàng cho vợ chồng ông. Sau
đó ông có thỏa thuận với bà K thuê lại toàn bộ đất cố nêu trên với giá thuê là
6.000.000đồng/năm thời hạn thuê là 03 năm kể từ ngày cầm cố 18/6/2015 đến
ngày 18/6/2018. Ông đã sử dụng đất trong thời hạn 03 năm và đã trả đủ tiền thuê
đất 03 cho bà K khi hết 3 năm thuê đất thì không còn sử dụng đất nữa, diện tích
đất trên vẫn để trống bà K không có sử dụng đất. Nay vợ ông là bà Nguyễn Thị
M đã chết, bà K yêu cầu trả 20 chỉ vàng 24k thì ông đồng ý nhưng chưa có khả
năng nên không thể trả lại cho bà K. Ông không đồng ý với yêu cầu của bà K
buộc ông phải trả cho bà K tiền thuê đất là 48.000.000 đồng vì ông đã trả đủ cho
bà K trước khi thuê lại đất. Ông không đồng ý với yêu cầu của bà K buộc ông
phải tiếp tục trả tiền thuê đất cho bà K từ ngày 18/06/2023 đến ngày xét xử vụ
án theo mức cho thuê đã thỏa thuận là 6.000.000đồng/năm vì từ khi hết hợp
đồng thuê đất đến nay ông không canh tác trên phần đất này.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan ông Dương Văn A trình bày:
Ông là con ruột của bà Nguyễn Thị M ngoài ông ra thì bà Nguyễn Thị M và ông
Dương Văn H không có con riêng hay con chung nào khác. Hiện nay bà M đã
chết ông không biết rõ việc bà M có cầm cố quyền sử dụng đất cho bà Lâm Thị
K hay không và cũng không biết rõ việc bà M có thuê lại đất của bà Lâm Thị K
để sử dụng hay không vì trước đó ông không có sống chung với ông H và bà M,
ông chỉ về sống chung với ông H từ khi bà M chết. Nay bà Lâm Thị K yêu cầu
huỷ hợp đồng cầm cố giữa bà K với ông H bà M và yêu cầu trả lại tiền thuê đất
thì ông không có ý kiến gì và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên tòa
nêu quan điểm: Kể từ khi thụ lý đến thời điểm nghị án tại phiên tòa, Thẩm phán
cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự và chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi
hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, khoản 1,3 Điều 273 của
BLTTDS năm 2015. Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 167, Điều 124, Điều
500, Điều 615 BLDS năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Lâm Thị K tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất lập ngày 18/06/2015
giữa bà Lâm Thị K và ông Dương Văn H, bà Nguyễn Thị M đối với diện tích
4
3000m
2
đất tại thửa số 333 tờ bản đồ số 04 toạ lạc tại ấp H, xã N, huyện M, tỉnh
Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 649317 do Ủy ban
nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Dương Văn H ngày
12/7/1993 là vô hiệu.
+ Buộc ông Dương Văn H và ông Dương Văn A có trách nhiệm giao trả
lại cho bà Lâm Thị K 20 chỉ vàng 24k tương đương giá vàng tại thời điểm xét
xử là 8.326.732 đồng/chỉ x 20 chỉ thành tiền là 166.534.460 đồng. Trả lại cho bà
Lâm Thị K số tiền thuê đất là 18.000.000 đồng mà ông Dương Văn H và bà
Nguyễn Thị M đã thuê đất còn nợ.
Do các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau để giải quyết tranh
chấp nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, bà Lâm Thị K yêu cầu tuyên bố
hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Thị K và vợ chồng ông H, bà
M vô hiệu và yêu cầu trả lại tiền thuê đất. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan
hệ pháp luật tranh chấp nêu trên là tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng
đất và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, được điều chỉnh tại các Điều 122, Điều
123, Điều 131, Điều 472 Điều 481 của Bộ luật Dân sự năm 2015; thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên theo quy định tại Khoản
3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự 2015.
Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu thay
đổi một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể là do bà M đã chết nên nguyên đơn, chỉ
yêu cầu ông Dương Văn H và người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà
M là ông Dương Văn A phải có nghĩa vụ trả lại số tiền thuê quyền sử dụng đất
chưa thanh toán là 18.000.000 đồng theo hợp đồng thuê đất và số vàng 20 chỉ
vàng 24k đã cầm cố thế chấp quyền sư dụng đất cho nguyên đơn và không yêu
cầu phía nguyên đơn phải thanh toán tiếp số tiền thuê đất từ ngày 18/06/2018
đến ngày xét xử. Xét thấy việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là tự
nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét
xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận
việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án qua thu thập tài liệu chứng cứ Thẩm
phán xác định bị đơn bà Nguyễn Thị M chết vào ngày 15/7/2023. Tại phiên toà,
5
người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Phạm Ngọc N thay đổi nội
dung yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu khởi kiện ông Dương Văn H và ông Dương
Văn A do đó Hội đồng xét xử cần xác định lại tư cách của ông Dương Văn A
tham gia vụ việc với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan trong
vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Dương Văn H và người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan Dương Văn A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét
xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng
dân sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và hợp đồng thuê quyên sử dụng
đất giữa nguyên đơn bà Lâm Thị K với bị đơn ông Dương Văn H và bà Nguyễn
Thị M được hai bên xác lập trên tinh thần tự nguyện, có lập thành văn bản có
các bên ký xác nhận. Trong đó thể hiện rõ về số tiền, thời hạn cầm cố và tài sản
cầm cố, đúng như lời trình bày của các đương sự. Theo đó, ông Dương Văn H
và bà Nguyễn Thị M có cầm cố cho bà Lâm Thị K 3.000 m
2
đất để nhận số vàng
là 20 chỉ vàng 24K sau đó cho ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị M thuê lại
với giá mỗi năm là 6.000.000 đồng thời gian thuê là 3 năm tín từ ngày
18/06/2015.
Trong quá trình thực hiện họp đồng bà Lâm Thị K đã giao đủ 20 chỉ vàng
24K cho ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị M, bà Lâm Thị K đã nhận phần
đất như đã thoả thuận của hợp đồng, sau đó cho ông Dương Văn H và bà
Nguyễn Thị M thuê lại với giá mỗi năm là 6.000.000 đồng thời gian thuê là 3
năm tính từ ngày 18/06/2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản hoà
giải ngày 13/6/2024 Dương Văn H cũng thừa nhận có cầm cố cho bà Lâm Thị K
3.000 m
2
đất để nhận số vàng là 02 cây vàng 24K sau đó thuê lại phần đất đã
trong thời gian 03 năm để sử dụng. Ông, bà đã thanh toán xong số tiền thuê đất
cho phía nguyên đơn bà Lâm Thị Kiều N1 thoả thuận trong hợp đồng. Căn cứ
vào văn bản ghi nhận việc cố đất và thuê đất của các bên mà phía nguyên đơn đã
cung cấp có trong hồ sơ vụ án, phía bị đơn không có ý kiến phản đối của phía bị
đơn và căn cứ vào lời thừa nhận của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, Hội
đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn là sự thật, được quy định
tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Cụ thể là nguyên đơn bà Lâm
Thị K có cầm cố quyền sử dụng đất của ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị M
với số vàng là 20 chỉ vàng 24k, sau đó cho ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị
M thuê lại trong thời gian 03 năm với giá thuê mỗi năm là 6.000.000 đồng.
Mặc dù hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất đã được các bên xác lập và
thực hiện nhưng theo quy định của Điều 106 Luật đất đai năm 2003các Điều
6
166, 167 Luật đất đai năm 2013quy định của phát luật về đất đai thì người sử
dụng đất không có quyền cầm cố quyền sử dụng đất nên giao dịch cầm cố quyền
sử dụng đất giữa ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị M với bà Lâm Thị K là
trái với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều
122, Điều 123, Bộ luật Dân sự 2015xác định hợp đồng cầm cố quyền sử dụng
đất giữa ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị M với bà Lâm Thị K là vô hiệu.
Đồng thời căn cứ vào các Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015xử lý hậu quả của hợp
đồng vô hiệu để buộc các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Cụ
thể là: Buộc ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị M trả lại cho bà Lâm Thị
Kiều S1 vàng 20 chỉ vàng 24K quy ra thành tiền tại thời điểm xét xử là
8.326.732 đồng/chỉ x 20 chỉ thành tiền là 166.534.460 đồng. Tuy nhiên bà
Nguyễn Thị M đã chết nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 615 BLDS năm
2015 buộc người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị M là
ông Dương Văn A và ông Dương Văn H phải có trách nhiệm cùng thực hiện
nghĩa vụ về tài sản của bà Nguyễn Thị M trên phần di sản của bà Nguyễn Thị M
chết để lại. Đối với diện tích đất cầm cố hiện tại do ông Dương Văn H và ông
Dương Văn A đang trực tiếp quản lý, bà Lâm Thị K không còn chiếm giữ hay
trực tiếp sử dụng trên diện tích đất trên nên không cần buộc bà Lâm Thị K phải
giao trả lại cho ông Dương Văn A và ông Dương Văn H.
Đối với tiền thuê đất mà nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải thanh toán
với số tiền 03 năm là 18.000.000 đồng Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào
thoả thuận thuê đất của các đương sự thì thoã thuận tiền thuê đất mỗi năm là
6.000.000 đồng và thời hạn thuê là 3 năm tính kể từ ngày 18/06/2015 đến
18/06/2018 thì số tiền thuê đất là 18.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết
vụ án phía bị đơn ông Dương Văn H thừa nhận có thuê lại diện tích đất cầm cố
cho nguyên đơn Lâm Thị K để canh tác trong thời gian 03 năm và đã trả đủ tiền
thuê đất cho phía nguyên đơn nhưng phía bị đơn Dương Văn H không cung cấp
chứng cứ gì để chứng minh cho việc ông đã trả đủ tiền thuê đất cho bà Lâm Thị
K, trong khi đó nguyên đơn bà Lâm Thị K cho rằng phía nguyên đơn chưa thanh
toán tiền thuê đất cho phía bị đơn và yêu cầu phải thanh toán. Do đó Hội đồng
xét xử căn cứ vào văn bản thoả thuận của các bên trong quá trình thực hiện hợp
đồng thuê đất mà các bên đã thừa nhận để khẳng định bị đơn Dương Văn H và
Nguyễn Thị M có thuê đất và còn nợ lại số tiền thuê đất của phía nguyên đơn
Lâm Thị K số tiền là 18.000.000 đồng. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn bà Lâm
Thị Kiều B bị đơn ông Dương Văn H và người có quyền lợi nghĩa liên quan ông
Dương Văn A phải trả lại số tiền thuê đất chưa thanh toán là 18.000.000 đồng là
có cơ sở chấp nhận.
7
Từ những phân tích nhận định trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà
Lâm Thị K đối với bị đơn ông Dương Văn H, bà Nguyễn Thị M là có cơ sở chấp
nhận. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 122, Điều 123 và Điều 131,
Điều 472, Điều 481, Điều 500 và Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015tuyên bố hợp
đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 18/6/2015 giữa ông Dương Văn H bà
Nguyễn Thị M với bà Lâm Thị K là vô hiệu. Buộc ông Dương Văn H và ông
Dương Văn H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Lâm Thị K 20 chỉ vàng loại
24 kara được quy ra tiền tại thời điểm xét xử giá vàng 24k là 8.326.732 đồng/chỉ
x 20 chỉ thành tiền là 166.534.460 đồng. Buộc ông Dương Văn H và ông Dương
Văn A có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Lâm Thị K số tiền thuê quyền
sử dụng đất là 18.000.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp
nhận nên bị đơn Dương Văn H và người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan ông
Dương Văn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên phần nguyên
đơn được chấp nhận cụ thể là: 184.334.460 x 5% = 9.226.723 đồng, theo đó mỗi
người phải chịu là 4.613.361 đồng. Tuy nhiên bị đơn ông Dương Văn H, là
người cao tuổi nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội Khóa XIV để miễn nộp tiền án phí cho Dương Văn H.
Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Mỹ Xuyên đã nêu là có căn cứ phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử cần chấp
nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 2 Điều 92; Điều 143, Điều 144; Điều 146, Điều 147; Điều 227; Điều
228, khoản 1 Điều 273 và điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ: Căn cứ vào các Điều 122, Điều 123 và Điều 131, Điều 472 Điều 481,
Điều 500 và Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015
Căn cứ Điều 106 Luật đất đai năm 2003các Điều 166, 167 Luật đất đai
năm 2013
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:

8
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị K đối với bị
đơn Dương Văn H về việc tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và
hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.
Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 18/6/2015 giữa ông
Dương Văn H và bà Nguyễn Thị M với bà Lâm Thị K đối với diện tích đất
3.000 m
2
đất tại thửa số 333 tờ bản đồ số 04 toạ lạc tại ấp H, xã N, huyện M,
tỉnh Sóc Trăng là vô hiệu.
- Buộc bị đơn Dương Văn H và ông Dương Văn A phải có nghĩa vụ trả
cho nguyên đơn bà Lâm Thị K 20 chỉ vàng loại 24 kara được quy ra tiền tại thời
điểm xét xử giá vàng 24k là 8.326.732 đồng/chỉ x 20 chỉ thành tiền là
166.534.460 đồng.
- Buộc bị đơn Dương Văn H và người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan
ông Dương Văn A phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Lâm Thị Kiều
khoản tiền thuê đất còn nợ là 18.000.000 đồng.
Ông Dương Văn A chỉ thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền trên
trong phạm vi phần di sản do bà Nguyễn Thị M chết để lại.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm Dương Văn H không phải chịu vì được miễn án
phí ông Dương Văn A phải chịu án phí là 4.613.361 đồng.
Nguyên đơn Lâm Thị K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hoàn trả
lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 4.500.000 đồng cho bà Lâm Thị K
theo Biên lai thu tiền số 0000246 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn là 15 ngày
kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
vắng mặt thời hạn kháng cáo nêu trên được tính kể từ ngày nhận được Bản án
hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận
- Các đương sự;
- Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND huyện Mỹ Xuyên;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Minh Toàn
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 13/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 07/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 27/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 19/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 16/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 06/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 22/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 21/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 20/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 16/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 15/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 13/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 07/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 06/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm