Bản án số 1168/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1168/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1168/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1168/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc Á - Nguyễn Thị Cẩm N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1168/2026/DS-PT Bản án số 1168/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1168/2026/DS-PT Bản án số 1168/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1168/2026/DS-PT
Ngày: 16 - 9 -2026
Về việc “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Bích Tuyền
Ông Phan Thanh Tùng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn, Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Bé Thi, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 680/2026/TLPT-DS
ngày 06 tháng 08 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2026/DS-ST ngày 09 tháng 06 năm 2026
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 589/2026/QĐ-PT ngày
10 tháng 08 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc Á, sinh năm 1971
Địa chỉ: Số D, ấp N, xã M, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Số C B, ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thu C, sinh năm 1980
Địa chỉ: ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
2. Bà Hồ Thị Kim H, sinh năm 1978
2
Địa chỉ: Số F, ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh ( có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thị Kim H:
2.1.Ông Trương Nguyễn Trọng T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
2.2. Ông Lê Quang N1, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số I S, Phường B, Thành phố T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2. 3. Bà Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1993
Địa chỉ: Ấp N, xã M, tỉnh Tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2. 4. Văn phòng C4
Địa chỉ trụ sở: Ấp G, xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị Cẩm N và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Hồ Thị Kim H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 01 năm 2026 và bản tự khai tiếp theo
tại Tòa án và tại phiên tòa bà Phạm Thị Ngọc Á trình bày: Vào ngày 01/7/2021, bà
Nguyễn Thị Cẩm N và bà có thỏa thuận với nhau là bà N chuyển nhượng cho bà các
thửa đất 810 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa
809 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ
bản đồ tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 424,5m
2
loại đất trồng lúa; thửa
số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây Ninh loại đất trồng lúa. Giá
chuyển nhượng là 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng), bà đã giao đầy đủ tiền cho bà
N. Bà N đã giao đất cho bà sử dụng từ năm 2021 đến nay. Tuy nhiên từ đó cho đến
nay bà chưa có thời gian lập thủ tục chuyển quyền sang tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Đến ngày 05/01/2026, bà có nhận được quyết định Áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời số 21/2024/QĐ-BPKCTT ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh) phong tỏa
toàn bộ các thửa đất trên của bà nhằm mục đích đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bà N
với bà H.
Nay bà làm đơn này khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Công nhận
hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với bà Nguyễn Thị
Cẩm N liên quan thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây Ninh.
Loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyển số 07/2021TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 01/7/2021.
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với
bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan các thửa các thửa đất 810 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh
Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh
diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh
3
diện tích 424,5m
2
loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyển số
07/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021.
Hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 21/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay
là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh ).
Tuyên cho bà được kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận các thửa đất trên.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm N trình bày theo biên bản hòa giải ngày 04/5/2026
như sau: Do làm ăn chung với bà Nguyễn Thu C, bà có đứng tên dùm bà Nguyễn
Thu C các thửa đất số 809, 810, 41 tờ bản đồ số 16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh. Đồng
thời bà C cũng có đứng tên dùm bà một số thửa đất 689, 670 tờ bản đồ 18 tại ấp C,
xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Ấp C1, xã H, tỉnh Tây Ninh). Bởi vì bà có nợ
bà Hồ Thị Kim H nên bà đã đề nghị bà Nguyễn Thu C ký chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thuộc các thửa đất này bà H để cấn trừ nợ của bà với bà H. Đối với thửa
đất 263, tờ bản đồ số 3 tại xã H, tỉnh Tây Ninh là của cha bà tặng cho bà vì cần tiền
làm ăn, nên ban đầu bà có vay số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) của bà Phạm
Thị Ngọc Á để đảm bảo khoảng vay nên bà thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho bà Á các thửa đất trên theo hình thức hợp đồng chuyển nhượng ngày
01/7/2021. Đến ngày 10/7/2021, do tiếp tục cần tiền nên bà C có nhận thêm của bà
Á số tiền là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Đồng thời, bà với bà C thống nhất
chuyển nhượng tất cả các thửa đất trên cho bà Á với giá 7.000.000.000 đồng (Bảy
tỷ đồng). Bà xác định bà Phạm Thị Ngọc Á đã đưa đủ số tiền trên cho bà với bà
Nguyễn Thu C xong. Cụ thể bà đã nhận 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Bà C đã
nhận số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Bà đã ký hợp đồng công chứng
chuyển nhượng các thửa đất trên cho bà Á để cấn trừ nợ xong. Đối với vấn đề liên
hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
trách nhiệm của bà Á. Đến nay bà Á chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, bà H ngăn chặn là không đúng. Nên qua yêu cầu khởi kiện của bà Á, bà đồng ý
toàn bộ. Bà xác định không có thế chấp các thửa đất trên cho bà H để đảm bảo khoản
vay của bà H. Bà có vay nợ của bà H khi nào bà làm có tiền bà sẽ trả cho bà H. Trước
đây bà có yêu cầu phản tố:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á
với bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan đến thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03
xã H, tỉnh Tây Ninh loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5 số 8633, quyển
số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021; Hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á với bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan
các thửa các thửa đất 810 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại
đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh có diện tích 100m
2
. Loại đất
ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 424m
2
, loại
đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyền số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 01/7/2021. Nay bà đề nghị rút lại toàn bộ các yêu cầu nói trên.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 08/5/2026 và tại phiên tòa bà thay đổi lời khai:
Bà cho rằng bản thân bà có đứng tên dùm bà Nguyễn Thu C các thửa đất 810 tờ bản
đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16
4
xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ
16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 424,5m
2
loại đất trồng lúa là đúng, còn thửa đất
263, tờ bản đồ số 3 tại xã H, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc là của ch bà tặng cho bà.
Toàn bộ số đất này bà chỉ cầm cho bà Á để vay tiền, bà có lấy của bà Á 2.000.000.000
đồng theo giấy nợ ngày 02/7/2021, còn lại mặt sau tờ giấy nợ này là bà C lấy của bà
Á 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) cũng thế chấp các thửa đất trên.
Nay bà đổi lời khai như sau: Bà tiếp tục đề nghị Tòa án tuyên Hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á với bà Nguyễn Thị
Cẩm N liên quan đến thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây
Ninh loại đất trồng lúa (nay là thửa 377 tờ bản đồ số 2 xã H, tỉnh Tây Ninh). Hợp
đồng được Văn phòng C5 số 8633, quyển số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
01/7/2021. Bà không đồng ý đưa thửa đất này cho bà Á vì bà chỉ cầm đất cho bà Á.
Đối với các thửa đất 810 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại
đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 100m
2
loại đất ONT;
thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 424,5m
2
loại đất
trồng lúa bà đồng ý để Tòa tuyên cho bà Á kê khai đăng ký đất vì bà chỉ đứng tên
dùm cho bà Nguyễn Thu C, bà C đã lấy tiền bà Á xong nên bà không tranh chấp các
thửa đất này.
Lý do bà thay đổi lời khai vì trước đây bà Á có hứa sẽ trả lại cho bà thửa đất
số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây Ninh loại đất trồng lúa (nay là
thửa số 377 tờ bản đồ số 02 xã H, tỉnh Tây Ninh) nhưng sau đó bà Á không đồng ý
trả nên nay bà xác định: vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á
với bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan đến thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03
xã H, tỉnh Tây Ninh loại đất trồng lúa (nay là thửa 377 tờ bản đồ số 2 xã H, tỉnh Tây
Ninh). Hợp đồng được Văn phòng C5 số 8633, quyển số 07/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 01/7/2021;
Đối với số tiền bà mượn bà Á 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) ngày
02/7/2021 là bà mượn cho bà C. Bà C đã trả xong cho bà Á thông qua tài khoản của
bà. Cụ thể bà đã chuyển dùm cho bà C với bà Nguyễn Thị Bích T1 (con bà Phạm
Thị Ngọc Á). Cụ thể: Ngày 27/02/2023, bà chuyển 100.000.000 đồng qua tài khoản
bà T1 số 0631000460676. Nội dung chuyển tiền: “chị cuc chuyển”; ngày 02/3/2023,
bà chuyển 04 lần cho bà T1; lần thứ nhất 499.000.000 đồng cũng với nội dung “chị
cuc chuyen khoang 1”; lần thứ hai bà chuyển cho bà T1 499.000.000 đồng với nội
dung “chị cuc chuyen khoang 2”; lần thứ 3 bà chuyển khoản cho bà T1 499.000.000
đồng nội dung “chị cuc chuyen khoang 3”; lần thứ 4 bà chuyển khoản cho bà T1
300.000.000 đồng. Tổng cộng 04 lần là 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu
đồng). Hiện bà không thiếu tiền gì bà Á.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thu C trình bày theo biên
bản hòa giải ngày 04/5/2026: Bà có nhờ bà Nguyễn Thị Cẩm N đứng tên dùm các
thửa đất số 809, 810, 41 tờ bản đồ số 16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh. Do cần tiền làm ăn,
bà có vay của bà Á vào ngày 05/7/2021 số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng),
đến ngày 10/7/2021 do bà tiếp tục vay thêm số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng)
5
nên giữa bà Á và bà với bà N đã thỏa thuận là bà N sẽ chuyển nhượng các thửa đất
số 809, 810, 41 tờ bản đồ số 16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh (đất của bà) và thửa đất số
263, tờ bản đồ số 3 tại xã H, tỉnh Tây Ninh (đất của bà N) để cấn trừ số tiền nợ là
7.000.000.000 đồng trong đó có 2.000.000.000 đồng bà N mượn bà Á ngày
02/7/2021. Để cấn trừ nợ thì giữa bà N và bà với bên bà Á đã thống nhất với hợp
đồng chuyển nhượng đất đã hoàn thành. Bà và bà N đã nhận đủ tiền của bà Á đồng
thời cũng đã bàn giao đất cho bà Á quản lý sử dụng xong. Nay qua yêu cầu bà Á, bà
đồng ý. Bà không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án này.
Ngày 13/5/2026, bà C thay đổi lời khai rằng: Lý do bà thay đổi lời khai bà N
với bà Á trước đây có thỏa thuận bà Á chỉ lấy thửa 810, 809 và thửa 41 tờ bản đồ số
16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh để trừ nợ nhưng sau đó bà Á đòi lấy luôn thửa đất 263 tờ
bản đồ số 03 xã H, tỉnh Tây Ninh không trả cho bà N nên bà với bà N lên tòa thay
đổi lời khai. Bà trình bày số tiền ghi ở mặt trước giấy mượn nợ bà Á là 2.000.000.000
đồng là do bà N tự mượn bà không biết, còn bà N nói bà lấy 2.000.000.000 đồng này
là bà không có lấy và không có căn cứ gì bà N nói bà lấy số tiền này. Mặt sau theo
giấy mượn tiền ngày 02/7/2021 của bà N, cụ thể: ngày 05/7/2021: bà xác định có
mượn bà Á 2.000.000.000 đồng; ngày 10/7/2021, bà có mượn bà Á số tiền
3.000.000.000 đồng. Lúc ban đầu giữa bà với bà Á, bà N có dự định thỏa thuận sẽ
cấn trừ đất để xóa nợ, nhưng sau đó không thỏa thuận được việc bà Á sẽ trả lại đất
thửa 263 tờ bản đồ số 03 xã H, tỉnh Tây Ninh cho bà N nay bà đổi lời khai là bà chỉ
đồng ý giao cho bà Á các thửa đất 810, 809 và thửa 41 tờ bản đồ số 16 tại xã A, tỉnh
Tây Ninh. Đối với việc bà N khai là bà có nhờ bà N chuyển khoản cho bà T1 số tiền
1.900.000.000 đồng là tiền của bà nhờ bà N chuyển dùm cho bà T1 không liên quan
gì đến tiền của bà N. Tiền này là tiền bà mượn bà T1.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà C khai: bà có vay tiền bà Á là 5.000.000.000 đồng
(Năm tỷ đồng) bà đồng ý giao cho bà Á các thửa 810, 809 và thửa 41 tờ bản đồ số
16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh trừ 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) vay ngày 05/7/2021,
còn 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) vay ngày 10/7/2021 bà đã trả cho bà Á
2.500.000.000 đồng chuyển khoản qua con bà Á là bà T1. Nay bà chỉ còn nợ bà Á
là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Không tranh chấp gì về tiền vay với bà
Á và bà T1. Nếu có thì bà sẽ khởi kiện vụ án dân sự khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Kim H do các ông Trương
Nguyễn Trọng T và ông Lê Quang N1 trình bày: Vào khoảng tháng 6/2021 thì bà
Hồ Thị Kim H có cho bà Nguyễn Thị Cẩm N vay tiền và trả tiền vay đến ngày
10/2/2023 thì N đã chốt với bà H số tiền còn thiếu là 15.900.000.000 đồng, bà N có
viết giấy mượn tiền, lãi suất là 20%/năm, thời hạn trả là 03 tháng. Đến ngày
06/4/2026, bà N và bà H đã chốt lại số nợ là 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng)
và thời gian trả ngày 07/4/2026 theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự số 58/2026/QĐST- DS ngày 06/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 –
Tây Ninh. Nay bà H biết việc bà N chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Phạm
Thị Ngọc Á gồm các thửa 809, 810, 41 tờ bản đồ số 16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh theo
Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N và bà Á do Văn Phòng C5 số 8680, quyển số
07/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021; thửa 263 tờ bản đồ số 3 tại xã H, tỉnh
Tây Ninh do Văn phòng C5, quyển số 07/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021.
6
Bà N chuyển nhượng đất cho bà Á trong thời điểm vay tiền của bà H là nhằm tẩu
tán tài sản, hợp đồng công chứng chỉ là hình thức, thực chất là vay tiền, bà Á cũng
chưa sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà H có yêu cầu:
Không chấp nhận hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
21/2024/QĐ -BPKCTT ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh
Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh).
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á
với bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã
H, tỉnh Tây Ninh loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5 số 8633, quyển
số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021;
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Á với bà Nguyễn
Thị Cẩm N liên quan các thửa các thửa đất 810 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh
diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích
100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 424m
2
,
loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyền số 07/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 01/7/2021.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích T1 có văn bản
gửi đến Tòa án trình bày: Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Cẩm N ngày
08/5/2026 có liên quan tới bà, bà có ý kiến như sau: Mọi việc chuyển tiền qua lại
giữa bà N chuyển dùm cho bà C qua tài khoản của bà, bà C chuyển tiền cho bà. Bà
xác định những khoản tiền này không liên quan đến việc mẹ của bà (bà Á) với bên
bà Nguyễn Thị Cẩm N chuyển nhượng cho mẹ của bà (bà Á) các thửa đất 810 tờ bản
đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã
A, tỉnh Tây Ninh diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ 16
xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 424,5m
2
loại đất trồng lúa; thửa số 263 diện tích
2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây Ninh loại đất trồng lúa.
Mẹ của bà (bà Á) có giao cho bà N và bà C số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy
tỷ đồng). Tiền này là của mẹ bà không liên quan gì đến bà.
Nay bà khởi kiện bà Nguyễn Thị Cẩm N yêu cầu chuyển nhượng quyền sử
dụng đất các thửa đất nói trên. Bà đề nghị Tòa án xét xử theo quy định. Bà xin vắng
mặt tất cả các buổi hòa giải, xét xử công khai chứng cứ liên quan đến vụ án nói trên
tại Tòa án nhân dân các cấp.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C4 trình bày: xác nhận
có chứng thực các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị
Ngọc Á và bà Nguyễn Thị Cẩm N tại các Hợp đồng: số 8633, quyển số
07/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021 và số 8680, quyển số 07/2021TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 01/7/2021 liên quan đến các thửa đất số 263 diện tích 2.534m
2
tờ
bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây Ninh. Loại đất trồng lúa và các thửa đất 810 tờ bản đồ 16
xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã A,
tỉnh Tây Ninh diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ 16 xã
A, tỉnh Tây Ninh diện tích 424,5m
2
loại đất trồng lúa. Trình tự chứng thực đúng quy
định pháp luật. Văn phòng C6 xét xử vắng mặt.
7
Tại phiên toà sơ thẩm bà Á xác định: Ngày 02/7/2021, bà có cho bà N mượn
số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), bà N có thế chấp các giấy chứng nhận
QSD đất số CU919468, CU919469, CU919470, CN 954607 để đảm bảo khoản vay.
Ngày 05/7/2021, thì bà N và bà C tiếp tục mượn bà số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai
tỷ đồng), cũng dùng số đất trên để thế chấp cho bà. Bà N và bà C dùng chung một
giấy nợ. Đến ngày 10/7/2021, thì giữa bà với bà N, bà C có thỏa thuận bà N sẽ
chuyển nhượng tất cả các thửa đất thuộc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên
là thửa 809, 810, 41 tờ bản đồ số 16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh; thửa 263 tờ bản đồ số
3 tại xã H, tỉnh Tây Ninh với số tiền là 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng) và bà đã
đưa thêm cho bà C, N số tiền 3.000.000.000 đồng. Do các bên đã thỏa thuận mua
bán xong, bà cũng đã trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị N2
tại thửa 715 tờ 42 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (trước đây là xã Đ, tỉnh Tây Ninh)
cho bà C. Bà đã giao đủ số tiền chuyển nhượng cho bà C, bà N. Bà N cũng đã giao
đất cho bà sử dụng từ năm 2021 cho đến nay. Hợp đồng đã được công chứng hợp
pháp, nhưng do cần cấp đổi số thì mới chuyển quyền được nên bà chưa làm thủ tục
sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 05/1/2026, bà có nhận
được quyết định Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 21/2024/QĐ-BPKCTT
ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là Tòa án
nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh) về việc phong tỏa tài sản trên nên bà không đi đăng
ký đất được. Bà xác định là bà C và bà N đã mua đứt bán đoạn đất cho bà, bà đã giao
đủ tiền xong, bà đã nhận đất quản lý sử dụng xong. Bà không đồng ý với các yêu
cầu khởi kiện của bà H và bà N. Hơn nữa bà N cho rằng vay tiền của bà, bà C trả
tiền cho bà là không đúng. Bà vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện nêu trên.
Đối với yêu cầu Hủy áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 21/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay
là Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh). Nay bà H đã đề nghị hủy Quyết định
này nên bà không yêu cầu nữa bà xin rút đơn.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà H cho rằng: Bà C thiếu nợ bà Á không
liên quan đến bà N. Bà C thiếu nợ bà Á thì bà C phải trách nhiệm trả nợ cho bà Á.
Vấn đề thể hiện rõ trong giấy mượn tiền ngày 05/7/2021 và ngày 10/7/2021 chỉ có
một mình bà C ký giấy mượn tiền bà Á, bà C có thế chấp một giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do mẹ bà C đứng tên. Ngoài ra trong giấy mượn tiền không thể hiện việc
bà N dùng 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà N đứng tên để bảo lãnh cho
bà C vay tiền để trả nợ thay cho bà C với bà Á. Đồng thời bà C cũng khẳng định một
mình bà thiếu bà Á 5.000.000.000 đồng theo bản tự khai ngày 13/5/2026.
Theo bà Á trình bày ngày 10/2/2026 và biên bản hòa giải ngày 4/5/2026, bà
Á có cho bà N vay 2.000.000.000 đồng và bà N có thế chấp cho bà Á 04 thửa đất
trên bằng hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà Á cho rằng
ngày 10/7/2021 thì giữa bà Á với bà N, bà C có thỏa thuận là bà N sẽ chuyển hẳn tất
cả 04 thửa đất trên cho bà Á với giá 7.0000.000.000 đồng. Bà Á giao cho bà N và
bà C thêm 3.000.000.000 đồng và bà Á đã giao xong, hai bên không còn nợ nần gì
nữa. Lời khai này không đúng với lời khai bà Cẩm N ngày 09/2/2026, ngày
08/5/2026 và biên bản lấy lời khai bà C ngày 13/5/2026 thì bà C trình bày việc bà N
và bà C chuyển khoản cho bà Á qua số tài khoản con bà Á sau ngày 10/7/2021 là
8
tiền lãi của khoản nợ ngày 02, ngày 05 và 10/7/2021 mà các bà đã thiếu bà Á. Vấn
đề này được thể hiện trong bản sao kê của bà C nộp cho Tòa. Từ đó cho thấy việc
bà Á mua đứt bán đoạn các thửa đất trên vào ngày 10/7/2021 là không đúng.
Việc bà N và bà C cho rằng 03 thửa đất 810, 809 và 41 tờ bản đồ số 16 xã A
là của bà C bà N chỉ là người đứng tên dùm là không đúng. Bởi vì vào ngày
20/9/2024, bà Hồ Thị Kim H có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời 04 thửa đất trong đó có 03 thửa đất này mà bà N cho rằng đứng tên dùm bà C.
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bà C nhưng từ thời điểm ngày 20/9/2024 đến khi xảy ra tranh chấp với bà
Á thì bà C không có ý kiến gì. Đồng thời theo vi bằng số 350/2026/VB-TPL ngày
6/4/2026 thì bà N đồng ý sang nhượng 04 thửa đất cho bà H để trừ nợ theo Quyết
định hòa giải thành số 58/2026/QĐST-DS ngày 06/4/2026. Do đó bà N cho rằng
đứng tên thay cho bà C 03 thửa đất trên nhằm mục đích để tẩu tán tài sản trốn tránh
nghĩa vụ trả nợ cho bà H. Trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện bà N đứng tên
dùm bà C 03 thửa đất trên.
Từ đó có thể khẳng định rằng 04 thửa đất trên là thuộc quyền sử dụng đất của
bà N chứ không phải của bà C do bà N đứng tên dùm. giữa bà N và bà Á ký kết hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giả tạo che giấu hợp đồng vay tài sản.
Tại Bản án sơ thẩm số 185/2026/DS-ST ngày 09 tháng 06 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh đã căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 34, Điều
39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 28, Điều 31, Điều 38, Điều 3, Điều 138, Điều
235, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 124, Điều 218, Điều 213, Điều 274,
Điều 286, Điều 328, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503, Điều 466 và Điều 468
Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc Á về việc “Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bà Nguyễn Thị Cẩm N.
1.1.Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Phạm Thị Ngọc Á với bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là thửa 377 tờ bản đồ số 2 xã H, tỉnh Tây
Ninh), loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyển số 07/2021TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 01/7/2021.
1.2. Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Phạm Thị Ngọc Á với bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan các thửa các thửa đất 810 tờ
bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ
16 xã A diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ 16 xã A diện
tích 424,5m
2
loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyển số
07/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021.
Bà Phạm Thị Ngọc Á được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai
đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại các thửa 263 tờ
9
bản đồ số 3 xã H, tỉnh Tây Ninh (nay theo thửa 377 tờ bản đồ số 2 xã H, tỉnh Tây
Ninh) đất có diện tích 2.67,7m
2
. Loại đất LUC. Vị trí đất theo Mãnh trích đo số 113-
2016 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 28/4/2026;
Thửa số 810 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa
809 tờ bản đồ 16 xã A diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ
16 xã A diện tích 424,5m
2
loại đất trồng lúa. Vị trí theo Mãnh trích đo số 112-2026
được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 28/4/2026.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc Á về việc yêu cầu Tòa
án hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 21/2024/QĐ-BPKCTT
ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh ).
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm N yêu cầu hủy đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á với bà Nguyễn Thị
Cẩm N liên quan thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H, tỉnh Tây Ninh
(nay là thửa 377 tờ bản đồ số 2 xã H, tỉnh Tây Ninh). Loại đất trồng lúa. Hợp đồng
được Văn phòng C5, quyển số 07/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021 và đình
chỉ yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc
Á với bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan các thửa các thửa đất 810 tờ bản đồ 16 xã A,
tỉnh Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã A diện tích
100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ tờ bản đồ 16 xã A diện tích 424,5m
2
loại
đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyển số 07/2021TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 01/7/2021.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Kim H về việc yêu cầu Tòa án
hủy các hợp đồng như sau:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á với
bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan thửa số 263 diện tích 2.534m
2
tờ bản đồ 03 xã H,
tỉnh Tây Ninh loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5 số 8633, quyển số
07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ngọc Á với
bà Nguyễn Thị Cẩm N liên quan các thửa các thửa đất 810 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh
Tây Ninh diện tích 104,8m
2
loại đất ONT; thửa 809 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây
Ninh diện tích 100m
2
loại đất ONT; thửa số 41 tờ bản đồ 16 xã A, tỉnh Tây Ninh
diện tích 424m
2
, loại đất trồng lúa. Hợp đồng được Văn phòng C5, quyền số 07/2021
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, thời hạn
kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 15/6/2026 bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm N kháng cáo toàn bộ Bản án dân
sự sơ thẩm số 185/2026/DS-ST ngày 09/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 –
Tây Ninh, cho rằng cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ chưa khách quan, yêu cầu cấp
phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc Á.
10
Ngày 15/6/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
bà Hồ Thị Kim H kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2026/DS-ST
ngày 09/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh, cho rằng cấp sơ thẩm
đánh giá chứng cứ chưa khách quan, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ
thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị
Ngọc Á.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không cung cấp chứng cứ mới và vẫn
giữ nguyên ý kiến của mình.
Bà Nguyễn Thị Cẩm N và bà Hồ Thị Kim H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo,
cho rằng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N và bà Phạm
Thị Ngọc Á không phải là việc chuyển nhượng thực tế mà nhằm bảo đảm cho việc
vay tiền. Việc cấp sơ thẩm công nhận các hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực là
không đúng. Bà H cho rằng việc bà N chuyển nhượng các thửa đất cho bà Á trong
thời gian có quan hệ vay nợ với bà H ảnh hưởng đến quyền lợi của bà. Đề nghị sửa
bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Á và xem xét các hợp
đồng chuyển nhượng theo yêu cầu của bà. Nội dung tranh chấp liên quan đến các
hợp đồng công chứng số 8633 và số 8680 cùng ngày 01/7/2021 đối với các thửa đất
số 263 (nay là thửa 377), 809, 810 và 41. Nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc Á
không đồng ý với kháng cáo của bà N và bà H, xác định việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất là có thật, các bên đã thỏa thuận chuyển nhượng, bà đã giao đủ tiền và
nhận đất quản lý, sử dụng. Các hợp đồng đã được công chứng theo quy định. Bà đề
nghị không chấp nhận kháng cáo của bà N và bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hồ
sơ thể hiện bà Á xác định giá chuyển nhượng các thửa đất là 7.000.000.000 đồng
và đã nhận đất quản lý, sử dụng từ năm 2021.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến cho rằng:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người
tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo
của bà Nguyễn Thị Cẩm N và bà Hồ Thị Kim H được thực hiện đúng thời hạn, thủ
tục nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Có căn cứ xác định bà N và bà C đã chuyển nhượng 04 thửa đất
số 263, 809, 810 và 41 cho bà Phạm Thị Ngọc Á để cấn trừ số tiền 4.000.000.000
đồng đã nhận, việc chuyển nhượng được thực hiện trước thời điểm bà N chốt nợ với
bà H. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N và bà H. Tuy nhiên,
cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu của bà N với lý do không nộp tạm ứng chi phí tố tụng
là chưa phù hợp, vì các chi phí tố tụng đã được bà Á và bà H nộp và việc xem xét,
thẩm định đã được thực hiện.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn
Thị Cẩm N và bà Hồ Thị Kim H về nội dung, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2026/DS-ST ngày 09/6/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh về cách giải quyết yêu cầu của bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
11
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị
Cẩm N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Kim H được thực hiện
trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định tại các 271, 272, Điều 273 và 276 của
Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích T1, Nguyễn Thu C Văn
phòng công chứng Lê Ngọc M nhưng những người này đã được triệu tập hợp lệ và
có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án
tiến hành xét xử vắng mặt những đương sự này.
[1.3] Phạm vi xét xử phúc thẩm: Căn cứ nội dung đơn kháng cáo của bà
Nguyễn Thị Cẩm N và bà Hồ Thị Kim H, cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh bị kháng cáo, theo quy
định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm N và bà Hồ Thị Kim
H về các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/7/2021, thấy rằng:
[2.1] Ngày 01/7/2021, bà Nguyễn Thị Cẩm N và bà Phạm Thị Ngọc Á ký Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8633, quyển số 07/2021TP/CC-
SCC/HĐGD đối với thửa đất số 263, diện tích 2.534m², tờ bản đồ số 03 tại xã H,
nay là thửa số 377, tờ bản đồ số 02, xã H, tỉnh Tây Ninh. Đồng thời ký Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8680, quyển số 07/2021TP/CC-SCC/HĐGD
đối với các thửa đất số 810, diện tích 104,8m², loại đất ONT; thửa số 809, diện tích
100m², loại đất ONT và thửa số 41, diện tích 424,5m², loại đất trồng lúa, cùng tờ bản
đồ số 16 tại xã A, tỉnh Tây Ninh. Các hợp đồng được lập thành văn bản và được Văn
phòng C4 công chứng theo quy định.
Bà N cho rằng việc ký hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất số 263 chỉ
nhằm bảo đảm khoản tiền 2.000.000.000 đồng bà vay của bà Á, không có việc
chuyển nhượng trên thực tế, bà H cũng cho rằng các hợp đồng chuyển nhượng nêu
trên là giả tạo nhằm che giấu quan hệ vay tài sản. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày, bà
N và bà H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh các bên có thỏa thuận
dùng các quyền sử dụng đất này để bảo đảm nghĩa vụ vay tiền, có thỏa thuận về thời
hạn vay, việc chuộc lại đất hoặc các tài liệu thể hiện bà N, bà C thực hiện nghĩa vụ
trả lãi, trả nợ gốc cho bà Á sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng.
Ngược lại, tại Biên bản hòa giải ngày 04/5/2026, bà N và bà Nguyễn Thu C
cùng xác định các thửa đất đã được chuyển nhượng cho bà Á từ tháng 7/2021. Đối
với các thửa số 810, 809 và 41, bà N xác định bà đứng tên giúp bà C và chuyển
nhượng cho bà Á để bà C nhận tiền. Đối với thửa số 263, bà N xác định là đất của
bà và đồng ý chuyển nhượng cho bà Á. Sau khi chuyển nhượng, bà N và bà C không
trả lãi cho bà Á. Các bản sao kê do bà N, bà Cúc cung C2 thể hiện việc chuyển tiền
12
cho bà Nguyễn Thị Bích T1 nhưng không thể hiện nội dung trả tiền gốc hoặc tiền lãi
cho bà Á. Bà T1 cũng xác định các khoản tiền này thuộc quan hệ vay mượn khác,
không liên quan đến khoản tiền bà Á giao cho bà N và bà C.
[2.2] Đối với thửa đất số 263, sau lời khai ngày 04/5/2026, ngày 08/5/2026 bà
N thay đổi lời trình bày, không đồng ý chuyển nhượng thửa đất này cho bà Á và cho
rằng bà không nhận số tiền 2.000.000.000 đồng ngày 02/7/2021. Tuy nhiên, lời trình
bày này không phù hợp với lời khai trước đó của chính bà N, không phù hợp với lời
trình bày của bà C và lời khai của người làm chứng ông Lương Thanh C3.
Ông C3 xác định là người dẫn bà N gặp bà Á để nhận số tiền 2.000.000.000
đồng ngày 02/7/2021. Bà C cũng xác định khoản tiền này do bà N nhận. Đối với
khoản tiền 2.000.000.000 đồng ngày 05/7/2021 do bà C nhận, ông C3 cũng xác nhận
với tư cách người làm chứng. Do đó, cấp sơ thẩm xác định có việc bà N và bà C
nhận của bà Á tổng số tiền 4.000.000.000 đồng liên quan đến việc chuyển nhượng
các quyền sử dụng đất đang tranh chấp là có căn cứ.
Mặt khác, kết quả định giá xác định tổng giá trị các thửa đất tại thời điểm
tháng 7/2021 là 4.293.332.000 đồng. Mức giá này không có sự chênh lệch so với số
tiền 4.000.000.000 đồng mà bà N và bà C đã nhận của bà Á.
Từ các chứng cứ nêu trên, không có căn cứ xác định Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 8633 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8680
ngày 01/7/2021 là giao dịch giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, cấp
sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Á, công nhận hiệu lực các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là có căn cứ.
[2.3] Xét kháng cáo của bà Hồ Thị Kim H: Bà H cho rằng tại thời điểm bà N
chuyển nhượng đất cho bà Á, bà N có quan hệ vay tiền với bà H và việc chuyển
nhượng nhằm tẩu tán tài sản, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H, thấy rằng: Giấy
chốt nợ giữa bà N và bà H được lập ngày 10/02/2023, xác định số tiền bà N còn nợ
bà H là 15.900.000.000 đồng. Trong khi đó, các hợp đồng chuyển nhượng giữa bà
N và bà Á đã được xác lập từ ngày 01/7/2021. Trong giấy chốt nợ ngày 10/02/2023
không có nội dung thỏa thuận bà N dùng các thửa đất số 263, 809, 810 và 41 để bảo
đảm hoặc giao cho bà H để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ.
Đối với tài liệu bà H xuất trình thể hiện ngày 03/4/2026 bà N có trao đổi về
việc chuyển nhượng các thửa đất nêu trên cho bà H để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì
tại thời điểm này vụ án giữa bà Á và bà N đã được Tòa án thụ lý từ ngày 16/01/2026,
yêu cầu độc lập của bà H cũng đã được thụ lý ngày 27/3/2026. Do đó, việc bà N có
thỏa thuận với bà H sau khi quyền sử dụng đất đã phát sinh tranh chấp không phải
là căn cứ làm mất hiệu lực các hợp đồng mà bà N đã xác lập với bà Á từ ngày
01/7/2021.
Bà H không cung cấp được chứng cứ chứng minh tại thời điểm ngày
01/7/2021 bà N và bà Á xác lập hợp đồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với
bà H, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bà H. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp
nhận yêu cầu độc lập của bà H về việc hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nêu trên là có căn cứ.
13
[2.4] Đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Cẩm N: Cấp sơ thẩm nhận
định bà N không có căn cứ yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng nhưng đồng
thời đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà N với lý do bà không nộp chi phí tố tụng.
Thấy rằng, đối tượng của yêu cầu phản tố của bà N cũng chính là các hợp
đồng chuyển nhượng đang được Tòa án xem xét theo yêu cầu khởi kiện của bà Á và
yêu cầu độc lập của bà H. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản đã được
thực hiện, tài liệu, chứng cứ cần thiết để giải quyết tính hợp pháp của các hợp đồng
đã được thu thập. Do đó, việc cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu phản tố của bà N chỉ với
lý do bà N không nộp chi phí tố tụng là chưa phù hợp.
Như đã phân tích trên, không có căn cứ xác định các hợp đồng chuyển nhượng
ngày 01/7/2021 là giả tạo hoặc vô hiệu. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về nội dung
này không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm N về việc hủy các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8633 và số 8680 ngày 01/7/2021.
[3] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà
Nguyễn Thị Cẩm N và bà Hồ Thị Kim H về nội dung, sửa một phần Bản án dân sự
sơ thẩm số 185/2026/DS-ST ngày 09/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây
Ninh về cách tuyên án đối với yêu cầu phản tố của bà N.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà N và bà H không được
chấp nhận nên mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy
định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí,
lệ phí Tòa án.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 116, 117, 124, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm N và bà Hồ Thị Kim
H.
2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2026/DS-ST ngày 09 tháng 6
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh về việc giải quyết yêu cầu
phản tố của bà Nguyễn Thị Cẩm N.
14
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Cẩm N về việc yêu cầu
hủy: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8633, quyển số 07/2021TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 01/7/2021 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm N và bà Phạm Thị Ngọc Á
đối với thửa đất số 263, diện tích 2.534m², tờ bản đồ số 03, xã H, tỉnh Tây Ninh, nay
là thửa số 377, tờ bản đồ số 02, xã H, tỉnh Tây Ninh;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8680, quyển số
07/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/7/2021 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm N và bà
Phạm Thị Ngọc Á đối với thửa số 810, diện tích 104,8m², loại đất ONT; thửa số 809,
diện tích 100m², loại đất ONT và thửa số 41, diện tích 424,5m², loại đất trồng lúa,
cùng tờ bản đồ số 16, xã A, tỉnh Tây Ninh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm N chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013754 ngày 16/6/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh sang thi hành án phí. Bà N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bà Hồ Thị Kim H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu
trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0013808 ngày 16/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh sang thi hành án phí.
Bà H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm..
4. Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2026/DS-ST ngày
09/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh không bị sửa có hiệu lực pháp
luật theo quy định.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diễm Hằng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1168/2026/DS-PT Bản án số 1168/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1168/2026/DS-PT Bản án số 1168/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất