Bản án số 670/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 670/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 670/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 670/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Q tranh chấp bà Đỗ Thị T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 670/2026/DS-PT Bản án số 670/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 670/2026/DS-PT Bản án số 670/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 670/2026/DS-PT
Ngày 07 - 9 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến
Bà Phạm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 07/9/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai xét xử công
khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 573/2026/TLPT-DS ngày 31 tháng 7 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số
244/2026/DS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 625/2026/QĐ-PT ngày 03/8/2026,
Quyết định hoãn phiên tòa số 732/QĐPT-DS ngày 20/8/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S, số A P, phường S, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người được ủy quyền lại:
1. Bà Nguyễn Thị Thu V1
2. Bà Nguyễn Kim N
3. Ông Nguyễn Huy C
4. Bà Nguyễn Thị Khánh L.
Địa chỉ liên hệ: 176, đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn bản ủy quyền ngày 29/5/2026.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1960
2
Ông Lê Hồng M, sinh năm 1960
Địa chỉ: A khu phố B, phường T, thành phố Đ (khu phố F, phường T, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai cũ).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Hồng H, sinh năm 1988
2. Chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1996
3. Cháu Lê Hồng Đ, sinh năm 2017
4. Cháu Lê Thị Hồng P, sinh năm 2018
5. Cháu Lê Thị Hồng T1, sinh năm 2022
6. Cháu Lê Hồng T2, sinh năm 2025
Người đại diện của cháu Đ, P, T1, T2: Anh Lê Hồng H, sinh năm 1988 và
chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1996.
7. Bà Đỗ Thị C1, sinh năm 1960.
Cùng địa chỉ: A khu phố F, phường T, thành phố Đ (phường T, thành phố B,
tỉnh Đồng Nai cũ).
(bà N, bà T, ông H có mặt; các đương sự khác vắng mặt)
- Người kháng cáo: bà Đỗ Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng TMCP
Q trình bày:
Giữa Ngân hàng TMCP Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Lê Hồng
M, bà Đỗ Thị T có ký kết các hợp đồng tín dụng sau:
Hợp đồng tín dụng số 2460819.21 ngày 06/7/2021 nội dung: Ngân hàng cho
ông M, bà T vay số tiền 3.400.000.000đ, mục đích vay: nhận chuyển nhượng bất
động sản, thời hạn vay 102 tháng, lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,3%/năm.
Hợp đồng tín dụng số 3212027.21 ngày 06/7/2021 nội dung: Ngân hàng V2
cho ông M, bà T vay số tiền 3.000.000.000đ, mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh
thời hạn vay 180 tháng, lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,5%/năm.
Văn bản đề nghị phát hành thẻ ngày 15/6/2022 của bà Đỗ Thị T nội dung:
Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho bà T hạn mức 30.000.000đ, số tài khoản tại Ngân
hàng: 222257979, loại thẻ VIB Online Plus, lãi suất, phí theo bản chấp thuận về
điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 171, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AĐ 834275, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00335
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 16/5/2006 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
3
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 209518, số vào
sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 03260 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 14/9/2016 cho ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 173, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AH 893824, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00578
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/02/2007 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
(Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số
2194314.21.651 ngày 15/10/2021, số công chứng 003725, Quyển số:
12/2021TP/CC-SCC/HĐGD do phòng C3, công chứng ngày 18/10/2021).
Từ ngày 23/10/2021 đến ngày 08/6/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho ông
M, bà T số tiền 6.400.000.000đ theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ
số 2460819.21 ngày 06/7/2021 và đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số
8146243.23 ngày 08/6/2023 của ông M, bà T, đồng thời cấp thẻ tín dụng cho bà T
hạn mức 30.000.000đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông M, bà T chỉ trả được cho Ngân hàng số
tiền 335.300.000đ tiền gốc và tiền lãi 1.145.302.408đ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều
lần đôn đốc, yêu cầu nhưng ông M, bà T vẫn không trả nợ. Khoản nợ của ông M
bà T đã chuyển sang quá hạn từ ngày 25/3/2024.
Do ông M, bà T nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nay Ngân hàng khởi
kiện yêu cầu:
1. Ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho
Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 19/6/2026 là 8.498.392.736đ. Cụ thể, dư nợ
theo hợp đồng tín dụng số 2460819.21 ngày 06/7/2021 số tiền 4.144.095.759đ
(trong đó nợ gốc là 3.064.700.000đ, lãi trong hạn 172.481.245đ, lãi quá hạn
906.914.514đ); dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 3212027.21 ngày 06/7/2021 số
tiền 4.208.905.341đ (trong đó nợ gốc là 3.000.000.000đ, lãi trong hạn 97.643.838đ,
lãi quá hạn 1.111.261.503đ); dư nợ theo thẻ tín dụng là 145.381.636đ (trong đó nợ
gốc là 51.260.250đ, lãi quá hạn 40.580.145đ, phí 53.541.241đ) và tiếp tục trả khoản
lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2026 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất
các bên đã thỏa thuận.
2. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số 2194314.21.651 ngày
18/10/2021.
3. Trường hợp ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu
cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 171, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AĐ 834275, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00335
4
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 16/5/2006 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 209518, số vào
sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 03260 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 14/9/2016 cho ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 173, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AH 893824, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00578
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/02/2007 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
(Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số
2194314.21.651 ngày 15/10/2021, số công chứng 003725, Quyển số:
12/2021TP/CC-SCC/HĐGD do phòng C3, công chứng ngày 18/10/2021).
4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh
toán nghĩa vụ trả khoản nợ của ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T với V2. Trường
hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết
khoản nợ thì ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T vẫn phải trả hết nghĩa vụ trả hết khoản
nợ còn lại cho V2.
Tại bản tự khai, bị đơn ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T trình bày:
Giữa ông M, bà T và Ngân hàng TMCP Q có ký 02 hợp đồng tín dụng để
vay số tiền 6,4 tỷ đồng và đề nghị phát hành thẻ tín dụng số tiền 30.000.000đ. Tài
sản thế chấp cho khoản vay trên là nhà đất tại các thửa 92, 171, 173 tờ bản đồ số
07, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, thành phố Đ). Nay
Ngân hàng yêu cầu ông M, bà T thanh toán số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín
dụng thì ông bà đề nghị Ngân hàng cho ông bà một thời gian để trả số tiền nợ gốc
cho Ngân hàng và xóa thế chấp tài sản vì cả gia đình ông bà hiện sống tại căn nhà
thế chấp, ngoài ra không còn chỗ ở nào khác.
Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng H trình
bày:
Do có nhu cầu tiền để kinh doanh nên ông đã nhờ cha mẹ của ông là ông Lê
Hồng M và bà Đỗ Thị T vay tiền tại Ngân hàng TMCP Q. Sau khi ngân hàng giải
ngân, ông là người sử dụng số tiền này, tuy nhiên từ tháng 3/2024 ông đã vi phạm
nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì
ông đồng ý thanh toán tiền cho Ngân hàng. Ông không đồng ý phát mãi tài sản thế
chấp vì đây là chỗ ở duy nhất của ông M, bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N1, bà C1 vắng mặt trong suốt
quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 244/2026/DS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã tuyên xử:
5
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ
phần Q đối với bị đơn ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T về việc “Tranh chấp Hợp đồng
tín dụng”.
Buộc ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ
phần Q số tiền tính đến ngày 19/6/2026 là 8.498.382.736đ (tám tỷ bốn trăm chín
mươi tám triệu ba trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm ba mươi sáu đồng). Cụ thể:
+ Hợp đồng tín dụng số 2460819.21 ngày 06/7/2021 số tiền 4.144.095.759đ
(bốn tỷ một trăm bốn mươi bốn triệu không trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm năm
mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 3.064.700.000đ, lãi trong hạn 172.481.245đ,
lãi quá hạn 906.914.514đ.
+ Hợp đồng tín dụng số 3212027.21 ngày 06/7/2021 số tiền 4.208.905.341đ
(bốn tỷ hai trăm lẻ tám triệu chín trăm lẻ năm ngàn ba trăm bốn mươi mốt đồng),
trong đó nợ gốc là 3.000.000.000đ, lãi trong hạn 97.643.838đ, lãi quá hạn
1.111.261.503đ.
+ Thẻ tín dụng số tiền 145.381.636đ (một trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm
tám mươi mốt ngàn sáu trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 51.260.250đ,
lãi quá hạn 40.580.145đ, phí 53.541.241đ.
Kể từ ngày 20/6/2026, ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T còn phải tiếp tục chịu
khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận tại các hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong.
Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số 2194314.21.651 ngày
15/10/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q với ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị
T (số công chứng 003725, Quyển số: 12/2021TP/CC-SCC/HĐGD do phòng C3
công chứng ngày 18/10/2021).
Trường hợp ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu
cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 171, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AĐ 834275, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00335
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 16/5/2006 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 209518, số vào
sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 03260 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 14/9/2016 cho ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 173, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AH 893824, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00578
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/02/2007 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
6
(Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số
2194314.21.651 ngày 15/10/2021, số công chứng 003725, Quyển số:
12/2021TP/CC-SCC/HĐGD do phòng C3 công chứng ngày 18/10/2021).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/7/2026, bà T kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án
sơ thẩm vì lý do: Tòa án cấp sơ thẩm xác định người tham gia tố tụng chưa đầy đủ
làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
cụ thể: Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Lê Hồng H, chị Đỗ Thị N1 và các cháu Lê
Hồng Đ, Lê Hồng T1, Lê Hồng T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng
thực tế những người này không thường xuyên cư trú, quản lý hoặc sử dụng căn nhà
mà theo Thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú số 000290/TB ngày
05/4/2024 của Công an phường T, TP . thì những người trực tiếp sinh sống, sử dụng
căn nhà và sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu tài sản bị xử lý gồm: bà Phạm Thị Như
M1 và các con là Vũ Hương Trà M2, Vũ Hương Thảo C2 và Vũ Minh K. (Ngày
03/7/2026, ông M cũng là người làm Đơn kháng cáo nhưng do ông M không nộp
tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã ra Thông báo trả
lại Đơn kháng cáo cho ông M).
Tại phiên tòa:
- Bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, tòa án đã tiến
hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và giải quyết vụ án đúng
thẩm quyền. Về những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quy
định.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ vụ
án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà T; giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị T được thực hiện trong thời hạn pháp luật
quy định, có nội dung và hình thức phù hợp với các quy định tại các điều 271, 272,
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn ông M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan: các đương sự này đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, trong đó ông M
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
7
vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố
tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những đương sự này.
[3] Đối với nội dung Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên: buộc ông M, bà T phải có
trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền 8.498.392.736 đồng
gốc và lãi tính đến ngày 19/6/2026, trong đó gồm: dư nợ theo hợp đồng tín dụng số
2460819.21 ngày 06/7/2021 là 3.064.700.000đồng nợ gốc, 172.481.245đồng lãi
trong hạn, 906.914.514đ lãi quá hạn, tổng cộng 4.144.095.759đồng; dư nợ theo hợp
đồng tín dụng số 3212027.21 ngày 06/7/2021 là 3.000.000.000đồng nợ gốc,
97.643.838đồng nợ trong hạn, 1.111.261.503đồng lãi quá hạn, tổng cộng
4.208.905.341đồng; dư nợ theo thẻ tín dụng là 51.260.250đồng, 40.580.145đồng
lãi quá hạn, phí 53.541.241đồng, tổng cộng 145.381.636đồng và tiếp tục trả khoản
lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2026 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất
các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Và, nội dung Tòa công nhận hiệu
lực của hợp đồng thế chấp tài sản cũng như việc Tòa tuyên việc xử lý tài sản thế
chấp trong trường hợp ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Hội đồng xét xử thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm
giải quyết các nội dung trên là phù hợp pháp luật; sau khi xét xử sơ thẩm, đương sự
không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, tại phiên tòa bà T khẳng định
vợ chồng bà không yêu cầu Tòa xem xét lại các nội dung trên nên Hội đồng xét xử
không xem xét, giải quyết. Vì vậy, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm về các nội dung
này.
[4] Xét kháng cáo của Đỗ Thị T: Tại phiên tòa, bà T cho rằng 03 thửa đất số
171, 92 và 173 mà vợ chồng bà đang thế chấp cho ngân hàng nằm liền kề nhau, căn
nhà gia đình bà đang sinh sống được xây dựng trên một phần đất của cả 03 thửa.
Trước đây, bà có cho bà Phạm Thị Như M1 cùng các con (là các cháu M2, C2, K)
ở trên đất của bà và hứa với bà M1 là sau này khi thanh toán tiền cho ngân hàng X
thì vợ chồng bà sẽ chuyển nhượng toàn bộ nhà đất cho bà M1; nếu phát mãi nhà
đất thì bà T sợ bà M1 sẽ tranh chấp với bà vì vậy bà T đề nghị Hội đồng xử hủy
toàn bộ Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo
thủ tục chung để đưa mẹ con bà M1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[5] Xét chứng cứ mà bà T đưa ra là Thông báo số 000290/TB ngày 05/4/2024
của Công an phường T, thành phố B để chứng minh việc giải quyết vụ án liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà M1 và các con bà M1, thấy rằng: thông báo
này có nội dung thông báo cho bà M1, các cháu M2, C2, K1 và bà T biết việc đăng
ký thường trú về nơi đăng ký thường trú mới của mẹ con bà M1 tại địa chỉ số A
khu phố F, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã được giải quyết.
Nhưng xét thấy, tại Tòa chính bà T cũng xác nhận toàn bộ tài sản là nhà và đất
thuộc 03 thửa đất số 171, 92 và 173 mà vợ chồng bà đang thế chấp cho ngân hàng
trong vụ án này là thuộc sở hữu của vợ chồng ông M bà T, bà M1 và các con bà
M1 không có đóng góp bất kỳ công sức gì trong việc tạo lập, phát triển các tài sản
này. Hơn nữa, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện trên đất thế chấp
cho ngân hàng hiện có vợ chồng ông M bà T cùng ông Lê Hồng H (con ông M), bà
Đỗ Thị N1 (con dâu ông M), các con ông H bà N1 là các cháu: Lê Hồng Đ, Lê
8
Hồng P, Lê Thị Hồng T1, Lê Hồng T2 và bà Đỗ Thị C1 (chị bà T) đang sinh sống
chứ không thể hiện bà M1 và các con hiện đang sống trên đất. Hơn nữa, nếu bà M1
và các con có đang sinh sống trên đất thì việc này cũng không làm ảnh hưởng đến
nghĩa vụ thanh toán nợ và việc xử lý tài sản thế chấp khi ông M bà T không thanh
toán nợ đúng, đủ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký kết. Do không
có căn cứ chứng minh Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
hoặc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự nên không có căn cứ để hùy Bản án sơ thẩm. Kháng cáo của bị đơn
không có cơ sở chấp nhận.
[6] Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng là phù
hợp quy định của pháp luật nên cần giữ nguyên các nội dung này của Bản án sơ
thẩm.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Do ông M, bà T là người cao tuổi và tại Tòa án
cấp phúc thẩm ông, bà có Đơn yêu cầu được miễn nên thuộc trường hợp được miễn
án phí, cần sửa một phần Bản án sơ thẩm về phần này cho phù hợp.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: bà T được miễn do bà là người cao tuổi và có
đơn yêu cầu được miễn.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tại
phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị T về yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 244/2026/DS-ST ngày 19/6/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai về phần án phí dân sự sơ thẩm;
Căn cứ Điều 30, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158, 227, 228, 266, 271 và
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các điều 299, 320, 324, 357 Bộ
luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 103 Luật các tổ
chức tín dụng năm 2024; Điều 7, 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ
phần Q đối với bị đơn ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T về việc “Tranh chấp Hợp đồng
tín dụng”.
Buộc ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần Q số tiền tính đến ngày 19/6/2026 là 8.498.382.736 (tám tỷ bốn trăm chín
9
mươi tám triệu ba trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm ba mươi sáu) đồng. Trong đó,
gồm:
+ Hợp đồng tín dụng số 2460819.21 ngày 06/7/2021 số tiền 4.144.095.759đ
(bốn tỷ một trăm bốn mươi bốn triệu không trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm năm
mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 3.064.700.000đ, lãi trong hạn 172.481.245đ,
lãi quá hạn 906.914.514đ.
+ Hợp đồng tín dụng số 3212027.21 ngày 06/7/2021 số tiền 4.208.905.341đ
(bốn tỷ hai trăm lẻ tám triệu chín trăm lẻ năm ngàn ba trăm bốn mươi mốt đồng),
trong đó nợ gốc là 3.000.000.000đ, lãi trong hạn 97.643.838đ, lãi quá hạn
1.111.261.503đ.
+ Thẻ tín dụng số tiền 145.381.636đ (một trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm
tám mươi mốt ngàn sáu trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 51.260.250đ,
lãi quá hạn 40.580.145đ, phí 53.541.241đ.
Kể từ ngày 20/6/2026, ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T còn phải tiếp tục chịu
khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận tại các hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong.
Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số 2194314.21.651 ngày
15/10/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q với ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị
T (số công chứng 003725, Quyển số: 12/2021TP/CC-SCC/HĐGD do phòng C3
công chứng ngày 18/10/2021).
Trường hợp ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu
cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 171, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AĐ 834275, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00335
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 16/5/2006 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 209518, số vào
sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 03260 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 14/9/2016 cho ông Lê Hồng M và bà Đỗ Thị T.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 173, tờ bản
đồ số 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AH 893824, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00578
do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/02/2007 cho ông Lê Hồng M và bà
Đỗ Thị T.
(Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số
2194314.21.651 ngày 15/10/2021, số công chứng 003725, Quyển số:
12/2021TP/CC-SCC/HĐGD do phòng C3 công chứng ngày 18/10/2021).
10
Chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T có trách nhiệm hoàn trả
lại số tiền 1.838.100 (Một triệu tám trăm ba mươi tám nghìn một trăm) đồng cho
Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Án phí: Ông Lê Hồng M, bà Đỗ Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm và
bà Đỗ Thị T được miễn án phí phúc thẩm do ông bà là người cao tuổi và có đơn
yêu cầu được miễn.
Ngân hàng thương mại cổ phần Q không phải chịu án phí; Thi hành án Dân
sự thành phố Đ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 57.785.126đ
(năm mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn một trăm hai mươi sáu đồng)
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001780 ngày 20/01/2026.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân
sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Đồng Nai;
- TAND khu vực 1 – Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 1 -Đồng
Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án, Tổ HCTP, Tòa
DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 670/2026/DS-PT Bản án số 670/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 670/2026/DS-PT Bản án số 670/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất