Bản án số 271/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 271/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 271/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 271/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đinh Vũ Kh, Nguyễn Thị T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 271/2026/DS-PT
Ngày 16-9-2026
V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Kiên
Ông Nguyễn Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Nguyễn Thị
Hiền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 7
năm 2026 về việc tranh chấp về quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 228/2026/QĐ-PT ngày 04
tháng 8 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 332/2026/QĐ-PT ngày
19 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 368/2026/QĐ-PT
ngày 08 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đinh Vũ K, sinh năm 1970; CCCD số ************;
nơi cư trú: Đ, thôn N, xã H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Trung K1, sinh năm
1979; CCCD số ************; nơi cư trú: CH612 - C2, khu đô thị K, phường Đ,
thành phố Hà Nội; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy
quyền ngày 21 tháng 4 năm 2025). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Quang
H - Luật sư Văn phòng L3 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
2
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; CCCD số ************; nơi
cư trú: Khu dân cư V, phường T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc A
và bà Nguyễn Thu H1 - Luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có
mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đào Phúc T1, sinh năm 1980; CCCD số ************; nơi cư trú:
Khu dân cư V, phường T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Đào Phúc T1: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm
1982; CCCD số ************; nơi cư trú: Khu dân cư V, phường T, thành phố
Hải Phòng. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979; CCCD số ************; nơi cư trú:
Khu dân cư K, phường T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khu dân cư V, phường T,
thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1986; CCCD số ************; nơi cư trú:
Khu dân cư V, phường T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Đinh Vũ K - là nguyên đơn và bà Nguyễn Thị T -
là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông
Đinh Vũ K, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Bố đẻ của ông K là cụ Đinh Vũ L (Nguyễn Văn L1), mẹ đẻ là cụ Nguyễn Thị
Đ lấy nhau, sinh sống tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (cũ) và sinh được
04 người con gồm: Đinh Vũ K, Đinh Vũ C, Đinh Thị V (chết năm 1993; không có
chồng, con) và Đinh Thị N. Năm 1980, cụ L1 mua đất của ông Nguyễn Văn P (đã
chết) thửa đất số 20, tờ bản đồ số 06 tại Vĩnh Long, V, C, Hải Dương, khi mua
chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi mua đất xong, gia đình ông K
sinh sống trên thửa đất này. Đến năm 1992, thửa đất trên được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đứng tên chủ sử dụng là cụ Nguyễn Văn L1. Đến năm 1993 cả
nhà ông K chuyển về sống tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương cho đến khi
cụ L1 và cụ Đ chết. Cụ L1 chết ngày 03 tháng 12 năm 2015, cụ Đ chết ngày 23
tháng 7 năm 2002. Sau khi hai cụ chết, gia đình ông K vẫn tiếp tục sinh sống ở N,
không ai về lại thửa đất tại Vĩnh Long nên không biết việc gia đình bà T đến ở, xây
dựng công trình, cây cối trên đất. Chỉ đến năm 2021, khi gia đình ông K tìm thấy
3
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống nhất làm thủ tục sang tên, đến xem lại
thửa đất mới biết vợ chồng bà T đang sử dụng thửa đất này. Ông K được bà T cho
biết đã nhận chuyển nhượng thửa đất này của ông Nguyễn Văn H2 (đã chết) với giá
02 chỉ vàng nhưng không có giấy tờ chuyển nhượng.
Năm 2021, ông K và các anh, chị, em đã thống nhất họp phân chia di sản do
bố mẹ để lại là thửa đất số 20, tờ bản đồ số 06 tại Vĩnh Long thành 03 phần bằng
nhau; sau đó, ông C và bà N đã tặng cho ông K phần của mình. Vì vậy, hiện nay
toàn bộ thửa đất là tài sản hợp pháp của ông K và là tài sản riêng, không liên quan
đến vợ ông. Do không thoả thuận được với vợ chồng bà T về việc giải quyết vụ án;
do đó ông khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phúc T1 phải tháo dỡ
toàn bộ công trình trên đất để trả lại ông thửa đất trên. Thửa đất này là của gia đình
ông K không chuyển nhượng cho ai, bà T tự ý đến ở trên đất nên ông K không có
nghĩa vụ thanh toán cho bà T bất kỳ khoản tiền nào.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan là ông Đào Phúc T1 thống nhất trình bày:
Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 06 tại khu dân cư V, phường V, thành phố C,
tỉnh Hải Dương có nguồn gốc do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của ông
Nguyễn Văn H2 (đã chết) với giá 02 chỉ vàng. Theo ông bà được biết thửa đất này
do ông H2 nhận chuyển nhượng của cụ L1 với giá 500.000 đồng vào năm 1993 khi
gia đình cụ L1 chuyển đến thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương sinh sống. Việc
chuyển nhượng thửa đất này đã được các con của ông H2 xác nhận.
Sau khi nhận chuyển nhượng lại thửa đất, vợ chồng bà đã tôn tạo, đổ đắp đất
(vùng đất ngoài đê trũng) để xây dựng chuồng trại, chăn nuôi và sản xuất, đóng
gạch. Năm 2018 nhà nước có làm đường ngang qua thửa đất, vì đường làm theo
quy hoạch cao hơn so với mặt nền của thửa đất nên gia đình ông bà đã đổ thêm đất
để đảm bảo việc di chuyển và sinh hoạt sản xuất. Từ thời điểm vợ chồng bà sinh
sống trên đất cho đến năm 2018 đã tiến hành đổ đất san lấp với tổng số tiền là
970.000.000 đồng. Năm 2022, vợ chồng bà tiến hành sửa chuồng trại thành phòng
kho, phòng để đồ và cho thuê trọ. Việc quản lý và khai thác, sử dụng đất của gia
đình bà từ năm 2001 đến nay có sự chứng kiến của hàng xóm và gia đình bà luôn
hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước.
Khi nhận chuyển nhượng đất, vì tin tưởng ông H2 nên bà đã bàn giao toàn bộ
hồ sơ liên quan thửa đất cho ông H2 để ông H2 thủ tục sang tên quyền sử dụng đất
nhưng không biết lý do gì mà không làm được. Sau khi cụ L1 chết, các con của cụ
L1 đồng ý ký giấy tờ và thực hiện thủ tục cần thiết để sang tên cho bà với điều kiện
gia đình bà phải bồi dưỡng một khoản tiền hợp lý. Tuy nhiên, sau đó ông K đã tự
tiến hành kê khai thừa kế, tự nhận thửa đất thuộc sử dụng của gia đình ông. Trong
hơn 30 năm qua, mặc dù biết gia đình bà là người đang sử dụng đất nhưng gia đình
4
cụ L1 chưa bao giờ thực hiện việc đòi đất hoặc khiếu nại với chính quyền địa
phương. Vì vậy, ông bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Vũ C và bà Đinh Thị N
thống nhất trình bày:
Ông bà đồng ý với phần trình bày của ông K. Ngày 29 tháng 11 năm 2021,
ông bà và ông K có lập văn bản thoả thuận về việc tặng cho quyền sử dụng đất và
Văn bản phân chia di sản thừa kế, theo đó ông bà xác định đã tặng cho phần đất
được hưởng cho ông K, xác định thửa đất là tài sản riêng của ông K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn
Thị T3 thống nhất trình bày:
Bố mẹ đẻ của ông bà là ông Nguyễn Văn H2 (chết năm 2015) và bà Đặng
Thị L2 (chết năm 2017). Ông H2 và bà L2 sinh được ba người con là Nguyễn Văn
T2, Nguyễn Thị T3 và Nguyễn Văn T4. Theo ông bà được biết (do ông H2 nói lại)
thửa đất số 20, tờ bản đồ số 06 (hiện nay vợ chồng bà T đang quản lý, sử dụng) có
nguồn gốc do ông H2 nhận chuyển nhượng của cụ L1 với giá 300.000 đồng đến
500.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông bà ở đó khoảng mấy
tháng thì chuyển về nhà cũ. Ông bà chỉ nghe ông H2 nói đã chuyển nhượng thửa
đất trên cho vợ chồng bà T nhưng cụ thể số tiền chuyển nhượng là bao nhiêu và thủ
tục chuyển nhượng thế nào thì ông bà không biết; ông bà cũng không được hưởng
lợi gì từ việc chuyển nhượng thửa đất trên. Kể từ khi ông H2 nhận chuyển nhượng
thửa đất trên từ cụ L1, sau đó chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà T, gia đình cụ L1
đều không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông K, ông bà đề nghị Toà
án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 06
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đã căn cứ vào các
khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 166, Điều 168, Điều 500, Điều 501, Điều 502,
Điều 579, Điều 583 Bộ luật dân sự; Điều 235, 236 Luật Đất đai; Luật phí, lệ phí;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Vũ K:
- Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị T và anh Đào Phúc T1 trả lại hàng thừa kế
của vợ chồng cụ L1 (gồm ông K, ông C, bà N) thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6, diện
tích 531m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ đỏ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 823 do UBND huyện C, tỉnh Hải Dương cấp ngày 06 tháng 5
năm 1996 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Chấp nhận sự tự nguyện của ông C, bà N
tặng cho phần đất của mình được hưởng cho ông K. Giao cho ông K quyền quản lý,
sử dụng thửa đất số 20 tờ bản đồ số 6, diện tích 531m
2
theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất vào sổ đỏ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 823 do UBND
5
huyện C, tỉnh Hải Dương cấp ngày 06 tháng 5 năm 1996 mang tên ông Nguyễn
Văn L1.
Ông K có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Buộc ông K có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng bà Nguyễn Thị T và
ông Đào Phúc T1 công sức tôn tạo thửa đất là 474.817.500 đồng.
- Buộc vợ chồng bà T và ông T1 phải tháo dỡ các công trình, cây cối trên
đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí,
chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của
pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15 tháng 5 năm 2026, nguyên đơn là ông Đinh
Vũ K có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không buộc ông phải trả cho bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phúc T1 công
sức tôn tạo thửa đất là 474.817.500 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đinh Vũ K
vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026, bị đơn là bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo đề
nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc
thẩm, bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ
đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án.
Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố
tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc kháng cáo của đương sự đảm
bảo đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thửa đất số 20, tờ bản đồ
số 06, khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là tổ dân phố V,
phường T, thành phố Hải Phòng) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên cụ Nguyễn Văn L1 (tức cụ Đinh Vũ L). Bà Nguyễn Thị T cho rằng thửa
đất trên đã được vợ chồng bà T nhận chuyển nhượng lại của ông Nguyễn Văn H2
vào năm 2001 sau khi ông H2 nhận chuyển nhượng thửa đất trên của cụ L vào năm
1993 nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai trên
của mình. Việc sử dụng đất và xây dựng công trình trên đất của bà T cũng không
được cụ L đồng ý và chưa được đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Vì vậy, Toà án
cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc buộc vợ chồng bà T
phải trả lại ông K thửa đất trên là có căn cứ. Quá trình sử dụng đất, vợ chồng bà T
đã đổ đất, tôn tạo để có hiện trạng sử dụng đất như hiện nay. Do đó, Toà án cấp sơ
thẩm buộc ông K phải thanh toán cho bà T 50% giá trị thửa đất là hợp lý, hợp tình.
6
Toà án cấp sơ thẩm buộc bà T và ông T1 phải trả lại ông K quyền sử dụng
đất nhưng không có sơ đồ kèm theo và mốc giới cụ thể. Ngoài ra, quá trình giải
quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà T đã rút yêu cầu phản tố; việc đình chỉ yêu cầu phản
tố đã được Hội đồng xét xử nhận định trong bản án sơ thẩm nhưng tại phần quyết
định của bản án lại không tuyên nội dung này là có thiếu sót. Vì vậy, đề nghị Hội
đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng như đã phân tích ở trên.
Về án phí: Bản án sơ thẩm bị sửa nên người kháng cáo là ông K và bà T
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà T không phải chịu án phí sơ thẩm đối
với yêu cầu phản tố đã rút.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp đất đai quy định tại
khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thửa đất có tranh chấp toạ lạc tại khu
dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là tổ dân phố V, phường
T), thành phố Hải Phòng. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải
Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng) thụ lý, giải quyết vụ án là
phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Ngày 06 tháng 5 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng xét
xử sơ thẩm vụ án; tại phiên toà, nguyên đơn là ông Đinh Vũ K và bị đơn là bà
Nguyễn Thị T đều có mặt. Vì vậy, ngày 15 tháng 5 năm 2026, Toà án nhân dân khu
vực 9 - Hải Phòng nhận được đơn kháng cáo của ông K và ngày 19 tháng 5 năm
2026, Toà án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng nhận được đơn kháng cáo của bà T
là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[3] Tại phiên toà, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông
Đào Phúc T1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3 và ông Nguyễn Văn T4 đã
được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ ba nhưng vắng mặt; trong đó ông T1 vắng mặt
nhưng có người đại diện hợp pháp tham gia phiên toà, bà T3 và ông T2 vắng mặt
nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T4 vắng mặt không có lý do. Vì vậy,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên theo quy định tại
khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét kháng cáo của ông Đinh Vũ K và bà Nguyễn Thị T: Theo các tài liệu
có trong hồ sơ vụ án, thửa đất số 20, tờ bản đồ số 06, khu dân cư V, phường V,
thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là tổ dân phố V, phường T, thành phố Hải
Phòng) được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên hộ gia đình ông Nguyễn Văn L1 với diện tích 531m
2
, trong đó có 300m
2
đất ở và 231m
2
đất vườn thừa, thời hạn sử dụng lâu dài. Ngày 12 tháng 11 năm
2021, trên cơ sở đơn đề nghị của ông Đinh Vũ K, Ủy ban nhân dân phường V đã
xác nhận vào đơn đề nghị của ông K với nội dung cụ Đinh Vũ L (bố đẻ của ông K)
7
và cụ Nguyễn Văn L1 là một người. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định bố đẻ của
ông K là cụ Đinh Vũ L (Nguyễn Văn L1) là chủ sử dụng thửa đất trên.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù bà T cho rằng vợ chồng bà nhận
chuyển nhượng thửa đất trên từ ông Nguyễn Văn H2 vào năm 2001 và theo bà
được biết thửa đất có nguồn gốc do ông H2 nhận chuyển nhượng của cụ L1 vào
năm 1993. Tuy nhiên, hiện tại cụ L1 và ông H2 đều đã chết; các con của ông H2 là
Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị T3 có lời khai trình bày chỉ được nghe ông H2 nói
chuyện về việc đã nhận chuyển nhượng thửa đất trên của cụ L1, sau đó chuyển
nhượng lại cho bà T; còn việc mua bán cụ thể thế nào và số tiền chuyển nhượng là
bao nhiêu thì ông T2 và bà T3 không nắm được. Bản thân bà T cũng thừa nhận việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông H2 không được lập thành văn
bản, các bên chỉ thoả thuận miệng.
[6] Theo lời trình bày của bà T thì bà chỉ biết ông H2 nhận chuyển nhượng
thửa đất trên của cụ L1 vào năm 1993 nhưng không biết chính xác thời điểm
chuyển nhượng vào tháng nào của năm 1993. Theo quy định của Luật Đất đai năm
1987 (có hiệu lực thi hành trước thời điểm ngày 15 tháng 10 năm 1993) thì việc
mua, bán đất đai là hành vi bị cấm; do đó trong giai đoạn này không có quy định
của pháp luật về nội dung hay hình thức của hợp đồng mua bán đất. Theo quy định
tại khoản 3 Điều 73 của Luật Đất đai năm 1993 (có hiệu lực thi hành từ ngày 15
tháng 10 năm 1993) thì người sử dụng đất có quyền chuyển quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật với điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Theo quy định tại Điều 707 của Bộ luật Dân
sự năm 1995, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản
và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Căn cứ vào các quy định
trên, mặc dù bà T cho rằng đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông H2
nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai trên của
mình cũng như tài liệu, chứng cứ chứng minh khác chứng minh việc sử dụng đất là
hợp pháp.
[7] Thửa đất trên vẫn đứng tên chủ sử dụng là cụ Nguyễn Văn L1 (tức Đinh
Vũ L); không có cơ sở khẳng định cụ L đồng ý cho vợ chồng bà T sử dụng đất và
xây dựng các công trình trên đất; bà T cũng chưa thực hiện việc đăng ký kê khai
quyền sử dụng đất. Vì vậy, tình huống pháp lý trong vụ án này không tương thích
với tình huống pháp lý được nêu trong Án lệ số 33/2020/AL của Toà án nhân dân
tối cao. Do đó, không có cơ sở chấp nhận ý kiến của phía bị đơn về việc áp dụng
Án lệ số 33/2020/AL để bác yêu cầu khởi kiện của ông K. Từ những phân tích trên,
Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Vũ K - là người
thừa kế của cụ L về việc buộc bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phúc T1 phải trả lại
quyền sử dụng đất tại thửa số 20, tờ bản đồ số 6, tổ dân phố V, phường T, thành
phố Hải Phòng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
8
[8] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự và những người làm chứng đều
thống nhất trình bày thửa đất này trước đây là vùng đất trũng ngoài đê, có vị trí
thấp so với mặt đường hiện tại. Quá trình sử dụng đất, vợ chồng bà T là người san
lấp, tôn tạo để có được hiện trạng sử dụng đất như hiện nay. Mặc dù không có cơ
sở xác định chính xác khối lượng san lấp cũng như chi phí san lấp nhưng việc vợ
chồng bà T là người san lấp, tôn tạo thửa đất trên là sự việc được mọi người công
nhận, không phải chứng minh. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm buộc ông K phải thanh
toán cho bà T và ông T1 công sức tôn tạo, san lấp thửa đất bằng 50% giá trị thửa
đất (theo diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tương đương
474.817.500 đồng (949.635.000 đồng : 2) là có căn cứ, hợp lý, hợp tình.
[9] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất trên có diện tích
531m
2
; tuy nhiên, theo tính toán trên cơ sở kích thước các cạnh của thửa đất thì
diện tích của thửa đất là 546,6m
2
(tăng 15,6m
2
so với diện tích ghi trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất). Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T thể
hiện, sở dĩ có sự chênh lệch về diện tích đất như đã nêu trên là do có sai số trong
tính toán; việc sử dụng đất không có tranh chấp với các hộ liền kề.
[10] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà T có đơn phản tố yêu cầu
Toà án tuyên bố Văn bản thoả thuận phân chia di sản giữa ông Đinh Vũ C1, ông
Đinh Vũ K và bà Đinh Thị N vô hiệu; đồng thời yêu cầu ông K phải trả cho vợ
chồng bà tiền thuế đất mà bà đã nộp. Sau đó, bà T có đơn rút yêu cầu phản tố nêu
trên. Tại phần nhận định của bản án sơ thẩm đã nêu đối với các yêu cầu phản tố mà
bà T đã rút thì Toà án đình chỉ đối với các yêu cầu này. Tuy nhiên, tại phần quyết
định của bản án không tuyên đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà T và buộc
bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là
không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, sai sót nêu trên của Toà án cấp sơ
thẩm không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ án.
[11] Từ những phân tích trên, mặc dù không có cơ sở chấp nhận kháng cáo
của ông K và bà T liên quan đến quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp và trách
nhiệm thanh toán công sức tôn tạo đất. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ
thẩm theo hướng xác định rõ mốc giới của thửa đất mà ông T1 và bà T phải trả lại
ông K; đồng thời đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà T và bà T không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố đã rút.
[12] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của ông K được chấp nhận nên bà T và
ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà T không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm đối với yêu cầu phản tố đã rút. Kháng cáo của ông K không được chấp nhận
nên ông K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; bà T kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm và việc sửa bản án sơ thẩm có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
bà T nên bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
9
[13] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Vũ K được chấp
nhận nên bà Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và
định giá tài sản. Quá trình giải quyết vụ án, ông K đã nộp chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền là 9.637.000 đồng. Vì vậy, bà T có trách
nhiệm hoàn trả ông K số tiền này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 165, Điều 296 và khoản 2 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 166, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều
579 và Điều 583 của Bộ luật Dân sự;
Điều 235 và Điều 236 của Luật Đất đai;
Khoản 2 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Vũ K:
1.1. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phúc T1 phải trả lại ông Đinh Vũ K
thửa đất số 20, tờ bản đồ số 06, khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải
Dương (nay là tổ dân phố V, phường T, thành phố Hải Phòng) theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 823 QSDĐ/ do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
Hải Dương (cũ) cấp ngày 06 tháng 5 năm 1996 cho hộ gia đình cụ Nguyễn Văn L1
có diện tích đo thực tế trên cơ sở kích thước các cạnh của thửa đất là 546,6m
2
và
diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 531m
2
(theo các mốc A-B-
C-D-E-A).
(có sơ đồ kèm theo).
1.2. Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phúc T1 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời
toàn bộ công trình xây dựng và cây cối nằm trên thửa đất trên để trả lại mặt bằng sử
dụng đất cho ông Đinh Vũ K.
2. Ông Đinh Vũ K có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị T và ông
Đào Phúc T1 công sức tôn tạo thửa đất với số tiền là 474.817.500 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi
thi hành án xong khoản tiền còn phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
10
3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T về việc đề nghị
Toà án tuyên bố Văn bản thoả thuận phân chia di sản lập ngày 29 tháng 11 năm
2021 giữa ông Đinh Vũ K, ông Đinh Vũ C, bà Đinh Thị N vô hiệu và buộc ông
Đinh Vũ K phải trả bà Nguyễn Thị T số tiền thuế đất mà bà T đã nộp.
4. Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phúc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân
sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị T đã nộp 600.000 đồng - tiền tạm ứng án phí theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001703 ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Thi
hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Trả lại bà Nguyễn Thị T 300.000 đồng - tiền
tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
- Ông Đinh Vũ K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông Đinh
Vũ K 300.000 đồng - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Toà án số 0004383 ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 9 - Hải Phòng).
- Ông Đinh Vũ K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông
Đinh Vũ K đã nộp 300.000 đồng - tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu
tạm ứng, án phí, lệ phí Toà án số 0006181 ngày 20 tháng 5 năm 2026 của Thi hành
án dân sự thành phố Hải Phòng. Ông Đinh Vũ K đã nộp đủ án phí dân sự phúc
thẩm.
- Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị
T đã nộp 300.000 đồng - tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng,
án phí, lệ phí Toà án số 0006168 ngày 20 tháng 5 năm 2026 của Thi hành án dân sự
thành phố Hải Phòng. Trả lại bà Nguyễn Thị Thanh T5 tạm ứng án phí phúc thẩm
đã nộp.
5. Về chi phí tố tụng:
- Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm hoàn trả ông Đinh Vũ K chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ và chi phi định giá tài sản là 9.637.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6 và 7 của Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
- THADS thành phố Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 9 - Hải Phòng;
- TAND khu vực 9 - Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
Vũ Thị Bích Diệp
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất