Bản án số 834/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 834/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 834/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 834/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: QSD đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 834/2026/DS-PT Bản án số 834/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 834/2026/DS-PT Bản án số 834/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Bà Phạm Thị Hồng Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị
Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2025/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa
án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh
Long) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 67/2025/QĐ - PT ngày 04 tháng
6 năm 2025 và Thông báo về việc mở phiên tòa số: 1159/TB-TA ngày 03 tháng 9 năm
2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Lê Văn L, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Số CCCD: ************
2. Bà Đỗ Thị Ngọc D, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Số CCCD: ************
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long).
Ngưi đại diện hợp pháp của ông Lê Văn L và bà Đỗ Thị Ngọc D: Ông Nguyễn Vũ
P, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã V, tỉnh Vĩnh Long). Theo
văn bản ủy quyền ngày 14/6/2025.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 834/2026/DS - PT
Ngày: 17 – 9 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
- Bị đơn: Bà Lý Thị Thanh T, sinh năm 1989 (có mặt)
Số CCCD: ************
Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã V, tỉnh Vĩnh Long).
Ngưi bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bà Lý Thị Thanh T: Lut sư Trần Văn
D1 – Văn phòng lut sư Trần Văn D1 – Đoàn Lut sư tỉnh T (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lý Văn Đ, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh(nay là xã V, tỉnh Vĩnh Long).
2. Bà Lâm Thị B, sinh năm 1968 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh(nay là xã V, tỉnh Vĩnh Long).
3. Ông Võ Hồng P1, sinh năm 1987 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
4. Bà Lâm Thị L1, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long).
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D là nguyên đơn; bà Lý Thị
Thanh T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên ông Lê Văn
L, bà Đỗ Thị Ngọc D trình bày: Ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D có thửa đất số 928, t
bản đồ số 52, diện tch 1.283 m
2
, đất tọa lạc ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh và được
cấp giấy chứng nhn quyền sử dụng đất vào ngày 16/10/2015. Bà Lý Thị Thanh T có thửa
đất liền kề là thửa 4567, t bản đồ 7, diện tch 787 m
2
, bà T có hành vi cắm trụ ranh lấn
chiếm một phần đất của ông L, bà D nhưng không có sự chứng kiến của ông L, bà D và
xây dựng công trình kiến trúc gồm trại bánh tét ngang khoảng 04m dài khoảng 11m, diện
tích 44 m
2
, ngoài ra bà T còn trồng cây và xây dựng công trình kiến trúc hướng pha giáp
quốc lộ E lấn qua 8m, pha giáp cn thửa đất 928 lấn qua dài 103,5 m
2
. Tổng diện tch bà
T lấn khoảng 421,5 m
2
. Theo diện tch đo đạc xác định có nhiều phần, tuy nhiên ông L, bà
D chỉ yêu cầu trả lại diện tch A4 (69,5 m
2
) + A5 (49,4 m
2
) + A6 (diện tch 8,5 m
2
) theo
Sơ đồ khu đất kèm theo công văn số 1393/CNHCT ngày 19/9/2024.
Bị đơn bà Lý Thị Thanh T trình bày: Vào năm 2015, bà T có nhn chuyển nhượng
của ông Đỗ Hoàng D2 thửa đất thửa 4567, t bản đồ 7, diện tch 787 m
2
liền kề với thửa
đất 928 của ông L, bà D. Gia đình bà T sử dụng nhiều năm không có ai tranh chấp, khi
mua có cắm trụ ranh ổn định và sự chứng kiến của ông D2, ông L và hộ lân cn. Gia đình
bà T canh tác sử dụng ổn định phần đất không có lấn chiếm đất như ông L và bà D trình
bày. Bà T không thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông L, bà D; bà T yêu cầu xác định
lại diện tch đất thửa 4567 của bà vì giấy chứng nhn quyền sử dụng đất của bà 787m
2
3
nhưng đo đạc theo hiện trạng chỉ còn 480m
2
, đất của bà T bị mất là do đâu. Bà T không
thống nhất kết quả đo đạc như sơ đồ đo đạc thể hiện.
Bà T có cho bà Lâm Thị L1 thuê 01 phần diện tch đất tranh chấp để mở quán, tuy
nhiên phần diện tch bà T cho thuê thuộc 01 phần đất đưng công cộng không thuộc thửa
4567 nên bà T không có tranh chấp hay yêu cầu về hợp đồng thuê với bà L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị L1 trình bày: Bà L1 có thuê một
phần đất của bà Lý Thị Thanh T vào năm 2021, thi gian thuê 05 năm, giá thuê 04 triệu
đồng trên năm để xây dựng quán bánh tét, diện tch thì bà L1 không rõ. Hai bên có làm
hợp đồng thuê. Nay ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D và bà Lý Thị Thanh T tranh chấp
phần đất và trên phần đất có quán bánh tét của bà L1 thì bà L1 không có ý kiến. Bà L1
không có tranh chấp về hợp đồng thuê, nếu có tranh chấp bà L1 s khởi kiện vụ kiện khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn Đ trình bày: Ông thống nhất với
li trình bày của bà Lý Thị Thanh T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa
án nhân dân huyện Châu Thành (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh Long) đã
quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L và bà Đỗ Thị Ngọc D đối
với diện tch A1 (5,2 m
2
thuộc thửa 1272), A2 ( 109,4 m
2
thuộc thửa 1050), A3 (348,5 m
2
thuộc đưng công cộng); A7 (161,1 m
2
thuộc thửa 1272); A8 (371,2 m
2
thuộc thửa 1050)
và A9 (1070,5 m
2
thuộc đưng công cộng).
2. Không chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L và bà Đỗ Thị Ngọc D về
việc yêu cầu bà Lý Thị Thanh T trả lại diện tch đất đối với A4 (69,5 m
2
thuộc đưng) và
A6 (8,5 m
2
thuộc đưng).
3. Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiện ông Lê Văn L và bà Đỗ Thị Ngọc D. Buộc
bà Lý Thị Thanh T trả lại diện tch 45,1 m
2
(thuộc phần B sơ đồ khu đất ngày 25/3/2025),
thuộc một phần thửa 928, t bản đồ số 52, đất tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Trà
Vinh.
Giao cho bà T quản lý sử dụng diện tch 4,3 m
2
(gắn liền công trình phụ phần b3 sơ
đồ khu đất ngày 25/3/2025), thuộc một phần thửa 928, t bản đồ số 52, đất tọa lạc tại ấp
H, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
(Kèm theo sơ đồ khu đất ngày 19/9/2024; ngày 17/02/2025 và ngày 25/3/2025 của
Văn phòng Đ1- chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh).
Bà Lý Thị Thanh T có trách nhiệm trả số tiền 4.300.000 đồng cho ông Lê Văn L, bà
Đỗ Thị Ngọc D.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án ph, chi ph thẩm định, định
giá, nghĩa vụ chm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của
pháp lut.
4
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, bị đơn bà Lý Thị Thanh T kháng cáo bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng không chấp nhn yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn buộc bà trả lại diện tch đất 45,1m
2
(phần ký hiệu B) và buộc bà
trả giá trị phần diện tch đất 4,3m
2
(phần ký hiệu b3) với số tiền 4.300.000 đồng (theo Sơ
đồ khu đất kèo theo Công văn 186/CNHCT ngày 25/3/2025).
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, nguyên đơn ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Mỹ D3 kháng
cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng ông, bà
không đồng ý nhn giá trị phần diện tch đất 4,3m
2
(phần ký hiệu b3 theo Sơ đồ khu đất
kèm theo Công văn 186/CNHCT ngày 25/3/2025) mà buộc bà Lý Thị Thanh T giao trả
lại phần diện tch 4,3m
2
(phần ký hiệu b3); buộc bà Lý Thị Thanh T giao trả lại phần diện
tích 69,5 m
2
(phần ký hiệu A4) và phần diện tch 8,5 m
2
(phần ký hiệu A6) theo Sơ đồ khu
đất kèm theo công văn số 1393/CNHCT ngày 19/9/2024.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Nguyễn Vũ P là ngưi đại diện hợp pháp của
nguyên ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D không rút yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo của nguyên đơn. Bị đơn bà Lý Thị Thanh T thay đổi yêu cầu kháng cáo,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải
quyết lại vụ án. Các đương sự không thỏa thun được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Nguyễn Vũ P chỉ yêu cầu bà T trả lại phần
diện tch đất tranh chấp 27,5m
2
(gồm các mốc 3, 4, 5, 6, 7, m, 8, 9, 10, 11, q, r, k, e, A, 3)
thuộc thửa 928 theo Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 25/3/2026 của Văn phòng
Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 cho ông L, bà D; đối với phần diện tch đất tranh chấp còn lại
gồm 163,8m
2
thuộc đưng Quốc Lộ 53 và 99,3m
2
thuộc thửa 1050 thì không tranh chấp
yêu cầu.
Ngưi bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị đơn cho rằng: Trước đây giữa bị đơn
bà Lý Thị Thanh T với nguyên đơn ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D đã thống nhất cm
trụ ranh giữa hai thửa đất 4567 (nay là thửa 1050) với thửa 928, hiện nay trụ ranh vẫn còn;
việc cơ quan chuyên môn không chồng ghép ranh giữa hai thửa đất theo tư liệu năm 1992
là không đúng; việc cấp giấy chứng nhn quyền sử dụng đất cho ông L, bà D đối với thửa
đất 928 là không đúng quy định của lut đất đai; Tòa án cấp sơ thẩm thu thp chứng cứ
chưa đầy đủ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Ông Nguyễn Vũ P cho rằng: Giữa nguyên đơn ông L, bà D với bị đơn bà T không
có sự thỏa thun thống nhất cm ranh như pha bị đơn trình bày, việc cấm trụ ranh là do
pha bị đơn tự cấm, khi phát hiện pha nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu pha bị đơn di di
trụ ranh tự cấm này và hai bên phát sinh tranh chấp cho đến nay.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định của
Bộ lut tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định
của Bộ lut tố tụng dân sự.
5
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Nguyên đơn ông Lê Văn L, bà Đỗ
Thị Ngọc D sử dụng thửa đất 928 giáp ranh với thửa đất 4567 (nay là thửa 1050) của bị
đơn bà Lý Thị Thanh T; bà T cho rằng giữa bà T với ông L, bà D đã thỏa thun cm ranh
nhưng pha nguyên đơn ông L, bà D không thừa nhn có sự thỏa thun này. Theo Công
văn số: 1636/CNHCT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện
Đ1 xác định phần diện tch thửa 4567 (nay là thửa 1050) giảm so với giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất là do chênh lệch giữa hai loại tài liệu đo đạc. Bà T đã nhiều lần khiếu
nại yêu cầu Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 chồng ghép bản đồ hai thửa đất 4567 và
thửa đất 928 theo tư liệu năm 1992; Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 đã có công văn
xác định việc chồng ghép giữa thửa 4567 theo tư liệu 1992 với thửa 928 theo tư liệu đo
đạc 2006 (chỉnh lý năm 2018) là không có cơ sở thực hiện. Theo Kết quả đo đạc hiện trạng
khu đất ngày 25/3/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 thể hiện phần đất tranh
chấp có diện tch 290,6 m
2
, trong đó có 163,8m
2
thuộc đưng Quốc Lộ 53; 27,5m
2
thuộc
thửa 928; 99,3m
2
thuộc thửa 1050. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Nguyễn Vũ P
chỉ yêu cầu bà T trả lại phần diện tch 27,5m
2
thuộc thửa 928 cho ông L, bà D; phần diện
tch đất tranh chấp còn lại không yêu cầu. Trong phần diện tch đất 27,5m
2
tranh chấp có
3,2m
2
trên đất có nhà của bà T nên giao phần đất này cho bà T quản lý, sử dụng, bà T có
nghĩa vụ trả giá trị cho ông L, bà D; đối với phần diện tch đất 24,3m
2
còn lại buộc bà T
trả cho ông L, bà D. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Nguyễn Vũ P có ý kiến đối
với chi ph tố tụng cấp sơ thẩm số tiền 18.125.373 đồng, ông L, bà D tự nguyện chịu số
tiền 9.062.686 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhn sự tự nguyện này. Từ những
chứng cứ và phân tch trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhn kháng cáo của của
nguyên đơn ông L, bà D, của bị đơn bà T; sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhn định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Ngưi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm
Thị B, ông Võ Hồng P1, bà Lâm Thị L1 vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt
nên căn cứ vào Điều 296 của Bộ lut tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự
trên.
[2] Trong gia đoạn xét xử phúc thẩm, bị đơn bà Lý Thị Thanh T yêu cầu thẩm định
lại phần đất tranh chấp theo tư liệu năm 1992 đối với thửa đất 4567. Tại Công văn số:
321/VPĐK – KTĐĐBĐ ngày 11/9/2025 về việc cung cấp kết quả khảo sát, đo đạc và Sơ
đồ khu đất kèm theo thể hiện tổng diện tch đất tranh chấp do nguyên đơn ông Lê Văn L
và bị đơn bà Lý Thị Thanh T xác định là 308,4 m
2
(phần ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6,
g1.1, g1.2, gl.3, g2.1, g2.2, g3) (BL 340 - 341). Bà Lý Thị Thanh T không đồng ý với kết
quả khảo sát, đo đạc này vì cho rằng cán bộ đo đạc không khách quan và tiếp tục yêu cầu
thẩm định lại phần đất tranh chấp theo tư liệu năm 1992 đối với thửa đất 4567. Tại Công
văn số: 515/VPĐK – KT ĐĐBBĐ ngày 07/10/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh
Đ1 trả li khiếu nại của bà T với nội dung: Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp kết quả
6
cho Tòa án là chnh xác, khách quan, đúng theo tư liệu đo đạc hiện trạng đang tranh chấp;
trưng hợp bà T không thống nhất kết quả đo đạc của Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc có
yêu cầu đổi cán bộ đo đạc, đề nghị bà T liên hệ với Tòa án hướng dẫn khảo sát đo đạc lại
theo quy định, Văn Văn phòng Đăng ký đất đai s phân công cán bộ khác tham gia phối
hợp khi có yêu cầu của Tòa án (BL 363).
Tại Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 25/3/2026 của Văn phòng Đăng ký đất
đai tỉnh Đ1 kết quả khảo sát, đo đạc thể hiện phần đất tranh chấp có diện tch là 290,6 m
2
(trong đó có: 27,5m
2
thuộc thửa 928; 163,8m
2
thuộc đưng Quốc Lộ 53; 99,3m
2
thuộc
thửa 1050) (BL 404). Bà Lý Thị Thanh T không đồng ý với kết quả khảo sát, đo đạc này
và khiếu nại yêu cầu Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 chồng ghép bản đồ hai thửa đất
4567 và thửa đất 928 theo tư liệu năm 1992. Tại Công văn số: 2429/VPĐK – KT ĐĐBBĐ
ngày 19/5/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 trả li khiếu nại của bà T với nội
dung: Bà T yêu cầu chồng ghép bản đồ hai thửa đất 4567 và thửa đất 928 theo tư liệu năm
1992 là không có cơ sở xem xét, giải quyết (BL 407).
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Công văn số: 629/CV –TA ngày
27/5/2026 yêu cầu Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 thêm kết quả đo đạc hiện trạng khu
đất có chồng ghép ranh đất giữa thửa 4567 với thửa đất 928 theo tư liệu năm 1992. Tại
Công văn số: 3194/VPĐK – KT ĐĐBBĐ ngày 23/6/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai
tỉnh Đ1 phúc đáp công văn số: 629/CV –TA ngày 27/5/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long với nội dung: Thửa đất 4567 được ghi nhn theo tư liệu 1992, hiện tại được
thay thế là bản đồ đo đạc năm 2006 (chỉnh lý năm 2018), giữa hai tư liệu bản đồ không
đồng nhất về hệ tọa độ và cấu trúc dữ liệu. Do đó, việc chồng ghép giữa thửa 4567 theo tư
liệu 1992 với thửa 928 theo tư liệu đo đạc 2006 (chỉnh lý năm 2018) không có cơ sở thực
hiện (BL 415 - 417).
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Nguyễn Vũ P là ngưi đại diện hợp pháp của
nguyên đơn thống nhất với kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 25/3/2026 của Văn
phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1. Mặc dù bị đơn bà Lý Thị Thanh T không thống nhất với
Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 25/3/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1
nhưng không chứng minh được kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 25/3/2026 của Văn
phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 là không đúng quy định của pháp lut. Kết quả đo đạc hiện
trạng khu đất ngày 25/3/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1 là kết quả lần sau
cùng nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án.
[3] Thửa 928 diện tch 1.283m
2
của ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D có nguồn gốc
thuộc một phần thửa 1917 diện tch 2.280m
2
cấp giấy chứng nhn quyền sử dụng đất cho
hộ ông Nguyễn Văn G ngày 20/12/1995. Ngày 02/8/2011, thửa 1917 được nhà nước thu
hồi 956m
2
diện tch còn lại là 1.324m
2
. Ngày 24/9/2015, ông Nguyễn Văn G chuyển
nhượng thửa đất 1917, diện tch 1.324m
2
cho ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D; thửa 1917
đổi thành thửa 928 diện tch 1.283m
2
(tư liệu 2006) cấp cho ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị
Ngọc D ngày 16/10/2015 (BL 97- 98, 100 - 136).
7
Thửa 4567 diện tch 787m
2
(tư liệu năm 1992, nay là thửa 1050 diện tích 480,6m
2
theo tư liệu 2006) của bà Lý Thị Thanh T có nguồn gốc thuộc một phần thửa 1919 diện
tích 8.760m
2
cấp giấy chứng nhn quyền sử dụng đất cho hộ ông Đỗ Hoàng D2 ngày
29/01/1997. Ngày 02/8/2011, thửa 1919 được nhà nước thu hồi 3.457m
2
diện tch còn lại
là 5.303m
2
. Ngày 09/3/2015, thửa 1919 được chuyển đổi thành 02 thửa: Thửa 1919, diện
tích 4.516m
2
và thửa phát sinh 4567, diện tch 787m
2
cấp giấy chứng nhn quyền sử dụng
đất cho do hộ ông Đỗ Hoàng D2. Ngày 12/3/2015, ông Đỗ Hoàng D2, bà Trần Thị G1
chuyển nhượng thửa đất 4567, diện tch 787m
2
cho bà Lý Thị Thanh T và bà T được chỉnh
trang 3 ngày 23/3/2015 (BL 97- 98, 100 - 136).
[4] Tại Công văn số: 1636/CNHCT ngày 08/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai huyện Đ1 xác định phần diện tch đất thửa 4567 (nay là thửa 1050) giảm
306,4m
2
so với giấy chứng nhn quyền sử dụng đất là do chênh lệch giữa hai loại tài liệu
đo đạc (BL 217).
[5] Theo Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 25/3/2026 của Văn phòng Đăng
ký đất đai tỉnh Đ1 kết quả khảo sát, đo đạc thể hiện tổng diện tch đất tranh chấp do nguyên
đơn ông Lê Văn L và bị đơn bà Lý Thị Thanh T xác định là 290,6 m
2
(trong đó có: 27,5m
2
thuộc thửa 928; 163,8m
2
thuộc đưng Quốc Lộ 53; 99,3m
2
thuộc thửa 1050) (BL 404).
Theo Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 17/6/2026 của Văn phòng Đăng ký
đất đai tỉnh Đ1 thêm kết quả khảo sát, đo đạc thể hiện trong phần diện tch 27,5m
2
thuộc
thửa 928 có 24,3m
2
(các mốc A, 3, 4, 5, 6,7, m, 8, 9, 10, 11, q, r, a4, a3, a2, a1, k, e, A) là
đất trống và 3,2m
2
(gồm phần 1,7m
2
có các mốc a1, a2, a5, a1 và phần 1,5m
2
các mốc a2,
a3, a4, a5, a2) gắn liền với phần nhà của bà T (BL 412).
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Nguyễn Vũ P chỉ yêu cầu bị đơn bà Lý Thị
Thanh T trả lại phần đất trống diện tch 24,3m
2
(các mốc A, 3, 4, 5, 6, 7, m, 8, 9, 10, 11,
q, r, a4, a3, a2, a1, k, e, A) và phần diện tch đất 3,2m
2
(gồm phần 1,7m
2
có các mốc a1,
a2, a5, a1 và phần 1,5m
2
các mốc a2, a3, a4, a5, a2) gắn liền với phần nhà của bà T cho
ông L, bà D (theo Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 17/6/2026); đối với phần diện
tích 163,8m
2
thuộc đưng Q và 99,3m
2
thuộc thửa 1050 (theo Kết quả đo đạc hiện trạng
khu đất ngày 25/3/2026) thì ông P không yêu cầu. Hội đồng xét xử xét thấy, phần diện tch
đất 24,3m
2
(các mốc A, 3, 4, 5, 6, 7, m, 8, 9, 10, 11, q, r, a4, a3, a2, a1, k, e, A) thuộc một
phần thửa đất 928 là đất trống nên yêu cầu này của ông P là có cơ sở chấp nhn. Đối với
phần diện tch đất 3,2m
2
(gồm phần 1,7m
2
có các mốc a1, a2, a5, a1 và phần 1,5m
2
các
mốc a2, a3, a4, a5, a2), trên đất có nhà của bà T không thể di di nên giao cho bà T được
quyền quản lý, sử dụng; bà T có nghĩa vụ trả giá trị diện tch đất 3,2m
2
này với số tiền
3.200.000 đồng (3,2m
2
x 1.000.000 đồng/m
2
) cho ông L, bà D.
[6] Từ những chứng cứ và phân tch trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của
nguyên đơn ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D; kháng cáo của bị đơn bà Lý Thị Thanh T
là không có cơ sở chấp nhn. Do việc khảo sát, đo đạc lại phần đất tranh chấp trong giai
đoạn xét xử cấp phúc thẩm có sự thay đổi về phần diện tch đất tranh chấp nên Hội đồng
xét xử sửa án sơ thẩm, việc sửa án sơ thẩm này Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.
8
[7] Xét ý kiến của ngưi bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị đơn, như phân tch
ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhn.
[8] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tch ở phần trên, Hội đồng xét xử xét
thấy có cơ sở chấp nhn.
[9] Về chi ph tố tụng cấp sơ thẩm: Số tiền 18.125.373 đồng. Ông Nguyễn Vũ P có
ý kiến ông L, bà D tự nguyện chiu số tiền 9.062.686 đồng. Do ông L, bà D đã nộp tạm ứng
số tiền 18.125.373 đồng nên buộc bà T nộp lại số tiền 9.062.686 đồng để hoàn trả cho ông
L, bà D.
[10] Về chi ph tố tụng cấp phúc thẩm: Số tiền 11.302.537 đồng. Buộc bà Lý Thị
Thanh T phải chịu số tiền 11.302.537 đồng, bà T đã nộp xong nên không phải nộp tiếp.
[11] Về án ph dân sự phúc thẩm: Buộc bà Lý Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng
án ph dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph mà bà T
đã nộp theo biên lai số 0010040 ngày 08/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Vĩnh Long).
Buộc ông Lê Văn L phải chịu 300.000 đồng án ph dân sự phúc thẩm nhưng được
trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai số 0010045 ngày 10/4/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 10 – Vĩnh Long).
Buộc bà Đỗ Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng án ph dân sự phúc thẩm nhưng
được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai số 0010044 ngày
10/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án
dân sự Khu vực 10 – Vĩnh Long).
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ lut Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhn kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D.
Không chấp nhn kháng cáo của bà Lý Thị Thanh T.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa
án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh
Long).
Áp dụng Điều 166 Lut Đất đai năm 2013;
Áp dụng Điều 26 Lut Đất đai năm 2024;
Áp dụng Điều 175 và Điều 176 Bộ lut Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thưng
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ
phí Tòa án.
9
1. Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L và bà Đỗ Thị Ngọc D.
Buộc bà Lý Thị Thanh T cùng gia đình di di các trụ ranh có trên đất, trả lại phần
diện tch đất 24,3m
2
(các mốc A, 3, 4, 5, 6,7, m, 8, 9, 10, 11, q, r, a4, a3, a2, a1, k, e, A),
thuộc thửa 928, t bản đồ số 52, đất tọa lạc ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã
H, tỉnh Vĩnh Long) cho ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D. Phần diện tch đất 24,3m
2
(các
mốc A, 3, 4, 5, 6,7, m, 8, 9, 10, 11, q, r, a4, a3, a2, a1, k, e, A) có vị tr, tứ cn theo Kết
quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 17/6/2026 và Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày
25/3/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1.
Bà Lý Thị Thanh T được quyền quản lý, sử dụng phần diện tch đất 3,2m
2
(gồm
phần 1,7m
2
có các mốc a1, a2, a5, a1 và phần 1,5m
2
có các mốc a2, a3, a4, a5, a2), loại
đất trồng lúa, thuộc một phần thửa đất 928, t bản đồ số 52, đất tọa lạc ấp H, xã P, huyện
C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long). Phần diện tch đất 3,2m
2
(gồm phần 1,7m
2
có các mốc a1, a2, a5, a1 và phần 1,5m
2
có các mốc a2, a3, a4, a5, a2) có vị tr, tứ cn theo
Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 17/6/2026 và Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất
ngày 25/3/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ1.
Bà Lý Thị Thanh T được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ
tục cấp giấy chứng nhn quyền sử dụng đất đối với phần diện tch đất 3,2m
2
trên theo quy
định của pháp lut.
Buộc bà Lý Thị Thanh T có trách nhiệm trả số tiền 3.200.000 đồng (giá trị phần đất
3,2m
2
) cho ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngưi được thi hành án cho đến khi thi
hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ lut dân sự năm 2015 tương ứng với thi gian chưa thi hành án.
2. Về chi ph tố tụng cấp sơ thẩm: Số tiền 18.125.373 đồng. Buộc ông Lê Văn L, bà
Đỗ Thị Ngọc D phải chịu số tiền 9.062.686 đồng; buộc bà Lý Thị Thanh T phải chịu số
tiền 9.062.686 đồng. Do ông L, bà D đã nộp tạm ứng số tiền 18.125.373 đồng nên buộc bà
Lý Thị Thanh T nộp lại số tiền 9.062.686 đồng để hoàn trả cho ông L, bà D.
3. Về chi ph tố tụng cấp phúc thẩm: Số tiền 11.302.537 đồng. Buộc bà Lý Thị
Thanh T phải chịu số tiền 11.302.537 đồng, bà T đã nộp xong nên không phải nộp tiếp.
4. Về án ph dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lý Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án
ph dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Lê Văn L, bà Đỗ Thị Ngọc D 300.000 đồng tiền tạm
ứng án ph sơ thẩm theo biên lai số 011088 ngày 13/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Vĩnh Long).
5. Về án ph dân sự phúc thẩm: Buộc bà Lý Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án
ph dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph mà bà T đã
nộp theo biên lai số 0010040 ngày 08/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu
Thành (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Vĩnh Long).
10
Buộc ông Lê Văn L phải chịu 300.000 đồng án ph dân sự phúc thẩm nhưng được
trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai số 0010045 ngày 10/4/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 10 – Vĩnh Long).
Buộc bà Đỗ Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng án ph dân sự phúc thẩm nhưng
được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai số 0010044 ngày
10/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án
dân sự Khu vực 10 – Vĩnh Long).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lut kể từ ngày tuyên án.
Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut thi hành án dân sự,
ngưi được thi hành án dân sự, ngưi phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thun thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72 của Lut thi hành án dân sự; thi hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định của Lut thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 10 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 834/2026/DS-PT Bản án số 834/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 834/2026/DS-PT Bản án số 834/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất