Bản án số 667/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 667/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 667/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 667/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H tranh chấp với Thái Thị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 667/2026/DS-PT Bản án số 667/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 667/2026/DS-PT Bản án số 667/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 667/2026/DS-PT
Ngày 04 - 9 - 2026
V/v tranh chấp về kiện đòi tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên
tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Quý Chi
Bà Trương Thị Thảo
Ông Trần Phương Đông
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên
toà: Bà Vũ Thị Hồng Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai xét
xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 557/2026/TLPT-DS ngày
28/7/2026 về việc “Tranh chấp về kiện đòi tài”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số
85/2026/DS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 636/2026/QĐXXPT-DS
ngày 29 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu phố P, phường
P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; Địa chỉ: C, khu
phố A, phường T, thành phố Đ (theo Văn bản ủy quyền ngày 29/11/2024). (có mặt)
- Bị đơn: Bà Thái Thị H1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khu phố C, phường L,
thành phố Đ. (xin vắng mặt)
Đại diện theo uỷ quyền của Bà H1: Ông Trần Văn D, sinh năm 1984; Địa chỉ:
1.04 C/c TDH P, phường P, thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày
05/3/2026, có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Dương Hữu P, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ E, khu phố F, phường P,
Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
2/ Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số C, tổ I, khu phố P, phường
L, thành phố Đ. (vắng mặt)
2
3/ Dương Thị Như Q, sinh năm 1993; Địa chỉ: 6, tổ B, khu phố B, phường L,
thành phố Đ. (vắng mặt)
4/ Ông Nguyễn Anh M, sinh năm 1989. (có mặt)
5/ Bà Trần Thị Kim P1, sinh năm 1991. (vắng mặt)
6/ Cháu Nguyễn Trần Thái T1, sinh năm 2009. (vắng mặt)
7/ Cháu Nguyễn Trần Thái T2, sinh năm 2010. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố Đ.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Trần Thái T1 và cháu Nguyễn
Trần Thái T2: Ông Nguyễn Anh M và bà Trần Thị Kim P1.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Anh M và bà Trần Thị Kim
P1: Ông Trần Văn D, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: 1.04 C/c TDH P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo văn bản
ủy quyền ngày 06/3/2026).
- Người kháng cáo: bà Thái Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên
tòa, nguyên đơn ông Lê Văn H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
trình bày:
Ngày 12/5/2023, ông Lê Văn H nhận chuyển nhượng thửa đất số 60, tờ bản
đồ số 77, có diện tích 270,6 m², địa chỉ tại thị trấn L, Đồng Nai (nay là phường L,
thành phố Đ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số: CU076270, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp
ngày 02/01/2020, trên đất có căn nhà cấp 4, từ ông Dương Hữu P và bà Phạm Thị
H2.
Giá chuyển nhượng đất là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), giá căn
nhà trên đất là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Việc nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được các bên lập hợp đồng chuyển nhượng và được Văn phòng
C chứng thực hợp đồng số: 4769, Quyển số 05/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
12/05/2023. Căn nhà nhỏ thì các bên chỉ viết giấy mua bán tay với nhau vì căn nhà
chưa được công nhận tài sản gắn liền với đất.
Sau đó ông H thực hiện các thủ tục đăng ký biến động, được Văn phòng Đ
Chi nhánh L sang tên, đăng bộ theo đúng quy định.
Lúc xem nhà, để chuyển nhượng ông H được ông P giải thích nhà đang có
người ở, xin thời gian 3 (ba) tháng sẽ dọn đi và giao nhà, đất. Tuy nhiên đến nay
ông H vẫn chưa nhận được nhà, quyền sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng nêu trên
nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Thành buộc bà Thái Thị H1
trả nhà đang chiếm giữ bất hợp pháp.
3
Trước đây Tòa án nhân dân huyện Long Thành mời ông H tham gia vụ án
“yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với tư cách là người có
quyền nghĩa vụ liên quan, do bà Thái Thị H1 là nguyên đơn khởi kiện. Tháng
7/2024, bà H1 có đơn yêu cầu rút toàn bộ đơn khởi kiện, Tòa án đã đình chỉ vụ án.
Ông H đã có thông báo gửi bà H1 để đòi lại nhà và Văn phòng Thừa phát lại đã
niêm yết thông báo đòi nhà, đất. Bà H1 không trả lời thông báo (đính kèm vi bằng
thông báo đòi nhà của ông H và của ông Dương Hữu P).
Ông H đã thực hiện các thủ tục xây dựng nhà ở trên đất như: Xin phép xây
dựng (đính kèm giấy phép), kí kết hợp đồng, tạm ứng cọc hợp đồng xây nhà. Tuy
nhiên ngày khởi công xây dựng thì bà H1 ngăn cản, không trả nhà, không cho ông
H tiến hành xây dựng nhà ở.
Hiện nay số tiền ông H trả cọc tạm ứng đã không được Công ty xây dựng trả
lại số tiền: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) vì họ cho rằng ông H vi phạm
hợp đồng xây dựng nên đã không trả lại số tiền cọc tạm ứng này. Đây là hành vi vi
phạm pháp luật trực tiếp gây thiệt hại số tiền nói trên cho ông H. Do đó, ông H tiếp
tục khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết:
Buộc bị đơn bà Thái Thị H1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Anh M, bà Trần Thị Kim P1, cháu Nguyễn Trần Thái T1, cháu Nguyễn
Trần Thái T2 có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Văn H tài sản quyền sử dụng đất
diện tích 270,6m² thửa đất số 60, tờ bản đồ số 77, địa chỉ tại xã L, Đồng Nai theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất số: CU076270, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 02/01/2020
và toàn bộ tài sản là công trình xây dựng trên đất (căn nhà cấp 4, cổng, hàng rào,
mái che hiên).
Buộc bị đơn bà Thái Thị H1 bồi thường cho ông H số tiền 200.000.000 (hai
trăm triệu) đồng bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của bà H1.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện
đối với yêu cầu buộc bà Thái Thị H1 bồi thường cho ông H số tiền 200.000.000 (hai
trăm triệu) đồng.
- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn Bà Thái Thị H1
và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Bà H1 là chủ sử dụng thửa đất số 60, tờ bản đồ 77, tọa lạc tại thị trấn L, diện
tích 270,6 m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số CO 102382 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp
ngày 11/6/2018. Trên đất bà có xây một căn nhà cấp 4 là nơi bà sinh sống cùng gia
đình ông Nguyễn Anh M, bà Trần Thị Kim P1 (con trai, con dâu cùng các cháu nội).
Tháng 10/2018, bà được vợ chồng ông M, bà P1 cho biết do cần vốn làm ăn
nên hai vợ chồng có vay tiền của bà Dương Thị Như Q và đã thế chấp nhà và thửa
đất số 60, tờ bản đồ 77 thị trấn L. Bà P1 có đưa cho bà giấy Cam kết giao trả tài sản
sau thế chấp do chính tay Dương Thị Như Q viết và ký tên. Theo đó, ông M, bà P1
vay của bà Q số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và thế chấp bất động
sản cho bà Q, thời hạn vay từ 12/10/2018 đến 12/10/2023.
4
Ngay sau đó, bà Dương Thị Như Q đến trao đổi với bà. Với lý do bà là người
đứng tên trên giấy chứng nhận nên Q yêu cầu bà phải bảo lãnh khoản vay cho M,
P1 và buộc bà phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Q để làm
tin. Vì các con, không còn cách nào khác, ngày 12/9/2018 bà phải cùng Q đến Phòng
C1 tỉnh Đồng Nai ký kết Hợp đồng chuyến nhượng quyền sử dụng đất số
14201/2018 quyển số 25/22018 TP/CC-SCC/HĐGD. Cho rằng việc ký kết hợp
đồng chỉ để làm tin, nhà và đất vẫn do gia đình bà quản lý và bà Q đã cam kết cho
thời hạn vay đến 12/10/2023 nên bà cùng các con tranh thủ xoay sở để thanh toán
khoản vay, lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến cuối năm 2019, bà Q thông báo với bà rằng đã ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng thửa đất số 60, tờ bản đồ 77 thị trấn L cho người khác rồi.
Nhận thấy bà Q vi phạm cam kết, chưa hết thời hạn vay nhưng lại chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho người thứ ba, bà đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 14201/2018 ký ngày 12/9/2018 giữa bà và bà
Q. Đơn khởi kiện của bà đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành thụ lý vụ án
dân sự sơ thẩm số 98/2020/TLST-DS ngày 16/3/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ việc, bà Dương Thị Như Q không đến tòa làm
việc, khiến cho vụ án phức tạp, kéo dài. Sau đó, bà được Tòa án thông báo bà là bị
đơn trong vụ án dân sự thụ lý số 143/2020/TLST-DS ngày 13/5/2020 về việc “Tranh
chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
Lúc này bà mới biết người thứ ba nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là
vợ chồng ông Dương Hữu P, bà Phạm Thị H2. Do cả hai vụ án đều liên quan đến
tranh chấp thửa đất số 60, tờ bản đồ 77 thị trấn L nên vợ chồng ông P, bà H2 rút
đơn khởi kiện, được Tòa án nhân dân huyện Long Thành ban hành Quyết định đình
chỉ vụ án dân sự số 49/2020/QĐST-DS ngày 22/6/2020.
Sau đó, ông P, bà H2 tham gia vào vụ án số 98/2020/TLST-DS mà bà đang
kiện bà Q với tư cách tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đưa ra yêu cầu
độc lập buộc bà trả lại cho ông P, bà H2 quyền sử dụng thửa đất số 60, tờ bản đồ 77
thị trấn L. Để chứng minh quyền sử dụng đất của mình, ông P, bà H2 chỉ giao nộp
được cho Tòa án một giấy CNQSDĐ đã cấp đổi sang tên Dương Hữu P và một Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2714, quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐGD
do Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Tuấn tỉnh Đ chứng nhận ngày 20/12/2019
giữa ông P, bà H2 và Q. Thực tế, ông P, bà H2 và Dương Thị Như Q chỉ ký hợp
đồng chuyển nhượng mà không biết rõ tài sản nhận chuyển nhượng vì gia đình bà
vẫn luôn cư trú trong căn nhà cấp 4 nằm trên thửa đất. Nói cách khác, ông P, bà H2
chỉ nhận chuyển nhượng và sang tên trên giấy tờ mà không hề được Q bàn giao nhà
và đất.
Vụ án còn chưa được đưa ra xét xử thì bà được Tòa án nhân dân huyện Long
Thành thông báo: ngày 29/9/2023 ông Dương Hữu P và bà Phạm Thị H2 có đơn
xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập. Cho rằng ông P, bà H2 nhận thấy không có căn cứ
đòi nhà và đất nên đã tự ý rút yêu cầu; đồng thời, việc bà Q vắng mặt cũng khiến
cho vụ án không thể sớm được giải quyết. Vì vậy, bà cũng nộp đơn xin rút toàn bộ
5
yêu cầu khởi kiện, được Tòa án nhân dân huyện Long Thành ban hành Quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 110/2024/QĐST-DS ngày 12/6/2024. Sau đó,
gia đình bà tiếp tục cư trú ổn định trên căn nhà cấp 4 thuộc thửa đất số 60, tờ bản
đồ 77 thị trấn L.
Đến cuối năm 2024, bà lại được Tòa án nhân dân huyện Long Thành thông
báo là bị đơn trong vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 677/2024/TLST-DS ngày
24/12/2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Theo đó, ông Lê Văn H khởi kiện
yêu cầu bà trả lại quyền sử dụng thửa đất số 60, tờ bản đồ 77 thị trấn L; buộc bà bồi
thường thiệt hại cho ông H số tiền 200.000.000 đồng. Lúc này, lại đến ông H giao
nộp cho Tòa án một giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đã cập nhật chuyển nhượng
sang tên ông Lê Văn H và một Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết
giữa H và ông P, bà H2.
Qua việc này bà cho rằng: Vì vợ chồng ông P, bà H2 không đủ chứng cứ
chứng minh đã nhận nhà và đất sau khi ký nhận chuyển nhượng từ bà Q nên tiếp
tục ký chuyển nhượng cho Lê Văn H. Đương nhiên, ông H cũng chỉ nhận chuyển
nhượng và sang tên trên giấy tờ mà không hề được bàn giao nhà, cho nên H đã ký
kết Hợp đồng xây dựng và đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng nhưng không xây nhà
được vì cả gia đình gồm con và cháu nội bà vẫn luôn cư trú trong căn nhà cấp 4 hiện
còn tồn tại trên đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà có ý kiến như sau:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 14201/2018 quyển số
25/22018 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C1 tỉnh Đồng Nai chứng nhận ngày
12/9/2018 giữa bà Thái Thị H1 và bà Dương Thị Như Q là hợp đồng giả tạo nhằm
che giấu hợp đồng vay tiền nên vô hiệu ngay từ đầu. Từ đó, tất cả các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau đó đều vô hiệu.
Cả vợ chồng ông Dương Hữu P, bà Phạm Thị H2 và ông Lê Văn H đều ký
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 60, tờ bản đồ 77 thị trấn L và sang
tên trên giấy tờ nhưng thực tế không hề nhận bàn giao tài sản. Nếu vợ chồng ông P,
bà H2 thực sự nhận bàn giao nhà và đất từ bà Q thì đâu cần thiết phải khởi kiện đòi
tài sản. Và nếu không thực sự có quyền sở hữu thì ông P, bà H2 lấy đâu ra nhà và
đất để bàn giao cho ông H? Điều này cho thấy các lần chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đều không công khai, ngay tình. Vì vậy, bà không đồng ý với toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Văn H trong vụ án dân sự sơ thẩm số
677/2024/TLST-DS.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh M, bà Trần Thị Kim
P1 và người đại diện theo ủy quyền của ông M, bà P1, cháu Nguyễn Trần Thái T1,
cháu Nguyễn Trần Thái T2 không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Như Q vắng mặt và
không có lời khai.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2026/DS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai đã quyết định:
6
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H về việc “Tranh
chấp đòi lại tài sản” đối với bị đơn bà Thái thị H1 và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh M, bà Trần Thị Kim P1, cháu Nguyễn Trần
Thái T1, cháu Nguyễn Trần Thái T2.
Buộc bị đơn bà Thái Thị H1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Anh M, bà Trần Thị Kim P1, cháu Nguyễn Trần Thái T1, cháu Nguyễn
Trần Thái T2 có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Văn H tài sản là quyền sử dụng đất
diện tích 270,6 m² thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 77, tọa lạc tại thị trấn L, huyện
L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, thành phố Đ), được giới hạn bởi các mốc 1, 2,
3, 4, 5, 6, 1, có tứ cận: Hướng Đông giáp các thửa đất số 181, 73 tờ bản đồ số 77;
Hướng Tây giáp thửa đất số 123 tờ bản đồ số 77; Hướng Nam giáp đường bê tông,
Hướng Bắc giáp mương nước (theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 3006/2025 ngày
16/5/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh L) và tài sản trên đất
gồm: Căn nhà cấp 4 (có một phần gác lửng bằng gỗ) có kết cấu tường gạch + xi
măng, mái tôn, trần tôn lạnh, nền gạch men, cửa sắt kính, cửa sổ gỗ; cổng bằng sắt
và hàng rao bằng cột sắt + lưới B 40; mái che hiên sau kết cấu cột sắt + cột gỗ, mái
tôn.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi hành
án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05/5/2026, bà H1 có Đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa P, bà H2 với ông H vi phạm điều cấm
của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của bà H1 thay đổi nội dung kháng cáo, đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm do sơ thẩm có những vi phạm thủ
tục tố tụng: Không triệu tập luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H1;
sử dụng chứng cứ chưa được công khai tại buổi công khai chứng cứ; xác định sai
quan hệ pháp luật; Không xác minh địa chỉ của bà Q; xác định ông H nhận chuyển
nhượng ngay tình là không đúng; giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai đề nghị Hội đồng
xét xử áp dung khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn bà Thái Thị H1 được nộp trong hạn luật định,
có nội dung, hình thức và phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại các điều 271,
272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xét xử theo trình tự phúc
thẩm.
7
[2] Căn cứ lời trình bày của các đương sự và chứng cứ, tài liệu có trong hồ
sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định được: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất lập ngày 12/9/2018 giữa bà Thái Thị H1 và bà Dương Thị Như Q được ký kết
là để bảo đảm cho khoản tiền 500.000.000 đồng mà bà Q cho vợ chồng ông Nguyễn
Anh M, bà Trần Thị Kim P1 vay (ông M là con trai bà H1) nên đây là hợp đồng giả
tạo nhằm che giấu hợp đồng thế chấp tài sản. Hợp đồng vay tài sản và việc thế chấp
tài sản (dưới hình thức hợp đồng chuyển nhượng) được các bên thỏa thuận có hiệu
lực trong thời hạn 06 năm, từ 12/9/2018 đến 12/9/2023. Vào ngày 20/12/2019, bà
Q ký hợp đồng chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất cho ông Dương Hữu P. Ngày
20/12/2019, bà H1 có ký xác nhận vào “Bản cam kết giao nhà” với bà Phạm Thị H2
(vợ ông P) với nội dung bà H1 hứa đến ngày 13/02/2020 sẽ có trách nhiệm giao nhà
cho bà H2. Ngày 02/01/2020, ông P được cấp GCNQSDĐ (BL 280). Ngày
12/5/2023, ông P, bà H2 tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng lại cho ông Lê Văn
H. Ngày 26/5/2023, ông H được chỉnh lý biến động sang tên trên trang 4 của
GCNQSDĐ đã cấp cho ông P.
[3] Tại phiên tòa, phía bị đơn bà H1 cho rằng việc bà ký “Bản cam kết giao
nhà” là xuất phát từ việc trước đó vào ngày 19/12/1019 bà Q có thỏa thuận với bà
H1 là vào ngày 23/9/2019 bà Q sẽ có trách nhiệm đặt cọc cho bà H1 số tiền
2.000.000.000 đồng và vào ngày 05/02/2020 bà Q có trách nhiệm đặt cọc nốt cho
bà H1 số tiền 1.350.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng luôn thửa đất số 60 trên
của bà H1 với giá 3.350.000.000 đồng và khi ký bà H1 tin tưởng bà Q sẽ thực hiện
đúng cam kết thanh toán tiền cọc cho bà vào các ngày 23/12/2019 và 05/02/2020
như bà Q đã thỏa thuận tại “Giấy chồng cọc và thỏa thuận giao trả tài sản” ngày
19/12/2019, nhưng thực tế đến ngày 23/12/2019 cũng như hạn cuối ngày
05/02/2020 thì bà Q không thanh toán cho bà H1 bất cứ khoản tiền nào nên gia đình
bà vẫn ở trên đất mà không bàn giao tài sản cho ông P bà H2. Còn phía, nguyên đơn
thì cho rằng tại thời điểm ông H nhận chuyển nhượng đất từ ông P bà H2 thì bà H1
đã cùng bà H2 cam kết sẽ có trách nhiệm giao trả nhà cho ông P bà H2 và cho rằng
bà H1 hoàn toàn biết việc bà Q chuyển nhượng lại đất cho ông P, sau này ông P
chuyển nhượng lại cho ông H nhưng bà H1 cũng không hề có ý kiến gì, thậm chí
bà H1 còn nói việc chuyển nhượng không liên quan đến bà.
[4] Hội đồng xét xử thấy rằng, lời trình bày của các bên còn mâu thuẫn, chưa
được làm rõ về các nội dung: việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bà H1 và bà Q
theo “Giấy chồng cọc và thỏa thuận giao trả tài sản”; vào thời điểm bà Q chuyển
nhượng đất cho ông P và thời điểm ông P bà H2 chuyển nhượng lại cho ông H, các
bên có thỏa thuận gì về tài sản là căn nhà mà gia đình bà H1 sinh sống trên đất; giá
chuyển nhượng giữa bà Q với ông P, giữa ông P bà H2 với ông H, các bên đã thực
hiện việc thanh toán với nhau như thế nào, chứng cứ nào để chứng minh; tại thời
điểm ông P bà H2 chuyển nhượng cho ông H thì các bên, trong đó có gia đình bà
H1 tiếp tục thỏa thuận gì về tài sản và việc sinh sống của gia đình bà H1 trên đất.
Việc xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ những nội dung trên làm căn cứ giải
quyết vụ án là cần thiết, song Tòa án cấp phúc thẩm không thể thực hiện ngay tại
phiên tòa được. Bên cạnh đó, tại Tòa người đại diện theo ủy quyền của bà H1 cung
cấp chứng cứ chứng minh hiện nay bà H1 đang thực hiện khởi kiện lại vụ án mà
8
trước đây đã được Tòa đình chỉ giải quyết tại Tòa án nhân dân khu vực 2- Đồng Nai
để xem xét về hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H1 và bà Q.
[5] Ngoài ra, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót, cụ thể: vào ngày
25/4/2025, bà H1 có nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là Luật sư Phạm
Văn N - Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị T3, Đoàn Luật sư Thành phố H; ngày
25/4/2025 ông N đã nộp đủ giấy tờ gồm Phiếu yêu cầu Luật sư của bà H1, Giấy giới
thiệu Luật sư tham gia tố tụng của VPLS Nguyễn Thị T3 và bản sao có công chứng
Thẻ Luật sư của ông N để được đăng ký tham gia tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm đã
thực hiện công khai các giấy tờ này tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận
và công khai chứng cứ (BL 78,79,80,335) nhưng lại không đưa ông N vào tham gia
tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1 mà không có
bất cứ văn bản nào ghi rõ lý do là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự.
[6] Từ những phân tích trên thấy rằng cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn,
hủy Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo
thủ tục chung.
[7] Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: sẽ được xem xét, giải quyết khi
vụ án được giải quyết lại.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bà H1 không
phải chịu.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai không
được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Thái Thị H1;
Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2026/DS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu
vực 2 – Đồng Nai để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: sẽ được xem xét khi vụ án được giải
quyết lại.
Án phí dân sự phúc thẩm: bà Thái Thị H1 không phải chịu. Thi hành án dân
sự Thành phố Đ hoàn trả cho bà H1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010468 ngày 07/5/2026.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đồng Nai;
- TAND khu vực 2 - Đồng Nai;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
- Phòng THADS khu vực 2 - Đồng
Nai;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: hồ sơ vụ án, TDS, HCTP.
Đinh Thị Quý Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 667/2026/DS-PT Bản án số 667/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 667/2026/DS-PT Bản án số 667/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất