Bản án số 1387/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1387/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1387/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1387/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Võ Thị Đ - T/c QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1387/2026/DS-PT Bản án số 1387/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1387/2026/DS-PT Bản án số 1387/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1387/2026/DS-PT
Ngày 18/9/2026
V/v tranh chấp đòi quyền sử dụng
đất bị lấn chiếm, yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất và hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Hải;
Bà Đào Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Sơn Cươl, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 810/2026/TLPT-DS ngày 02 tháng 6
năm 2026, về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm, yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1253/2026/QĐ-PT ngày
06 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959;
2. Bà Võ Thị Ú, sinh năm 1961;
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ. ( có mặt)
Người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn: Ông Lư Trường T1, sinh
năm 1989; địa chỉ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ; là người đại diện theo ủy
quyền của ông Nguyễn Văn T (văn bản ủy quyền ngày 03/4/2026). ( mặt)
- Bị đơn: Bà Võ Thị Đ (Võ Thị Hồng Đ), sinh năm 1968;
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ. ( mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Văn S, sinh năm 1968;
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980;
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ. ( có mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị H: Ông
Nguyễn Văn B, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu V L, phường L, thành phố Cần Thơ;
là người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị H (văn bản
ủy quyền ngày 03/4/2026). ( mặt)
3. Bà Trần Thị H1;
4. Bà Võ Thị L;
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ. ( vắng mặt)
5. Bà Võ Thị T2;
Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã Đ, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt)
6. Bà Võ Thị T3;
Địa chỉ: Ấp K, xã K, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã Đ, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt)
7. Bà Võ Thị Kiều O;
Địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã Đ, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt)
8. Ông Võ Văn Đ1;
Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã Đ, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt)
9. Ông Võ Văn V;
Địa chỉ: Khu V, phường P, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã
Đ, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
10. Ông Võ Văn Ú1;
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ. ( mặt)
11. Bà Võ Thị M;
Địa chỉ: Ấp H, xã V, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã Đ, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt)
12. Ông Võ Văn S1, sinh năm 1962;
13. Bà Võ Thị Kim L1, sinh năm 1971;
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ. ( vắng mặt)
14. Bà Võ Thị Tuyết L2, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Ấp F, xã Đ, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã Đ, thành
phố Cần Thơ (có mặt)
15. Bà Võ Thị Mỹ P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Ấp I, xã A, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp E, xã Đ, thành
phố Cần Thơ (có mặt)
16. Bà Võ Thị Cẩm N, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ. ( mặt)
17. Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng (người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố Cần Thơ). ( mặt)
- Người kháng cáo:
1. Ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Ú - Nguyên đơn;
2. Ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị H - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Ú đều trình bày:
Ông, bà sử dụng phần đất tại thửa số 127, tờ bản đồ số 17, diện tích
4.124,4m
2
(đất ở tại nông thôn 300m
2
+ đất chuyên trồng lúa nước 3.824,4m), tọa
lạc tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nay thuộc ấp E, xã Đ, thành phố Cần
Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số DG 595880, số vào sổ cấp GCN: CS03816 ngày 29/12/2022,
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông, bà. Bà Đ sử dụng phần đất
liền kề tại thửa số 126, tờ bản đồ số 17. Trong quá trình sử dụng đất, bà Đ đã lấn,
chiếm phần đất của ông, bà khoảng 161,42m
2
(ngang 01m, dài 161,42m).
Ông, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại cho ông, bà
phần đất đã lấn, chiếm có diện tích khoảng 161,42m
2
(ngang 01m, dài 161,42m),
thuộc một phần thửa số 127, tờ bản đồ số 17, diện tích 4.124,4m
2
(đất ở tại nông
thôn 300m
2
+ đất chuyên trồng lúa nước 3.824,4m), tọa lạc tại ấp E, xã B, huyện
K, tỉnh Sóc Trăng, nay thuộc ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
DG 595880, số vào sổ cấp GCN: CS03816 ngày 29/12/2022, do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh S cấp cho ông, bà.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông, bà yêu cầu bà Đ trả lại cho ông, bà phần đất đã
lấn, chiếm, diện tích theo đo đạc thực tế là 92,3m
2
, thuộc một phần thửa số 127.
Đối với yêu cầu phản tố của bà Đ, ông, bà chỉ đồng ý với việc bà Đ yêu cầu
công nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bà Đ, còn phần đất mà bà Đ đã lấn,
chiếm của ông, bà thì ông, bà không đồng ý công nhận cho bà Đ.
Đối với yêu cầu độc lập của ông S và bà H thì ông, bà không có ý kiến gì.
Theo đơn phản tố và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Võ Thị Đ
(Võ Thị Hồng Đ) trình bày:
Cha mẹ của bà là ông Võ Văn T4 (chết ngày 13/4/2016) và bà Hồ Thị N1
(chết ngày 19/7/1984) có 06 người con gồm các ông, bà Võ Văn S1, Võ Thị Đ,
Võ Thị Kim L1, Võ Thị Tuyết L2, Võ Thị Mỹ P, Võ Thị Cẩm N. Ông T4 và bà
N1 không có con riêng, con nuôi và cha mẹ cũng đều đã chết hết.
Ông T6 là anh ruột của ông T4 và là bác ruột của bà. Ông T6 đã chết nhưng
không rõ chết lúc nào, bà H1 là vợ của ông T6. Ông T6 và bà H1 có 09 người con
gồm các ông, bà Võ Thị L, Võ Thị T2, Võ Thị T3, Võ Văn S, Võ Thị Kiều O, Võ
Văn Đ1, Võ Văn V, Võ Văn Ú1, Võ Thị M.
Ông T4, bà N1 chết không có để lại di chúc. Lúc sinh thời, hai ông, bà có
tạo lập được phần đất tại thửa số 258, tờ bản đồ số 4, nay là thửa số 126, tờ bản
đồ số 17, diện tích 8.400m
2
, loại đất 2L), tọa lạc tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc
Trăng, nay thuộc ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ nhưng chưa cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Hai ông, bà có nói miệng là tặng cho bà phần đất này, do bà
sống cùng cha mẹ và phụng dưỡng cha mẹ, thờ cúng ông bà. Bà đã canh tác, sử
dụng phần đất này từ lúc ông T4, bà N1 còn sống cho đến nay. Các anh, chị, em
của bà đều biết việc ông T4, bà Nho T5 cho bà phần đất này, không có ai phản
đối việc bà quản lý, sử dụng đất. Khi giải quyết tranh chấp với gia đình ông T6
tại Ủy ban nhân dân (UBND) huyện K, tỉnh Sóc Trăng, các anh, chị, em của bà
cũng có lập biên bản họp gia tộc đồng ý giao cho bà được quyền đứng tên quyền
sử dụng đối với phần đất này.
Sau khi ông T4, bà N1 chết, bà đi lập thủ tục thừa kế thì mới biết UBND
huyện K, tỉnh Sóc Trăng đã cấp nhầm phần đất này cho ông T6 đứng tên theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 414093, trong khi phần đất này có nguồn
gốc là của gia đình bà, do ông T4, bà N1 tạo lập chứ không có liên quan gì đến
gia đình ông T6. Trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa hai bên, UBND huyện
K cũng đã xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng của gia đình bà nhưng đã
cấp nhầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T6 và có yêu cầu ông T6
cùng gia đình giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để gia đình bà
đăng ký, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông T6 và gia đình
ông T6 không giao.
Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận phần đất tại thửa số 258, tờ
bản đồ số 4, nay là thửa số 126, tờ bản đồ số 17, diện tích 8.400m
2
(loại đất 2L),
tọa lạc tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nay thuộc ấp E, xã Đ, thành phố
Cần Thơ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà và hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số T 414093 (không có ngày tháng năm cấp) do UBND huyện K cấp
cho ông T6 đối với phần đất này.
Ông T và bà Ú1 đang sử dụng phần đất tại thửa số 127, còn bà đang sử
dụng phần đất tại thửa số 126, ông S và bà H đang sử dụng phần đất tại thửa số
125. Phần đất thửa số 126 có vị trí nằm giữa phần đất thửa số 125 và 127. Hiện
nay, ông T và bà Ú1, ông S và bà H đang tranh chấp cho rằng bà lấn, chiếm các
phần đất của các ông, bà. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T và bà Ú1, yêu cầu
độc lập của ông S và bà H thì bà không đồng ý, bà sử dụng đất đúng ranh đất của
gia đình bà và không có lấn, chiếm đất của ông T và bà Ú1 cũng như ông S và bà
H.
Theo đơn yêu cầu độc lập và trong quá trình giải quyết vụ án, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị H đều trình bày:
Ông, bà sử dụng phần đất tại thửa số 125, tờ bản đồ số 17, diện tích
7.128,5m
2
(đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng,
nay thuộc ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 546332, số vào sổ
cấp GCN: CH01033 ngày 16/12/2015 do UBND huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp cho
ông, bà. Bà Đ sử dụng phần đất liền kề tại thửa số 126, tờ bản đồ số 17. Trong
quá trình sử dụng đất, bà Đ đã lấn, chiếm phần đất mương của ông, bà diện tích
khoảng 215,98m
2
(ngang 1,5m, dài 143,99m).
Cha, mẹ ông S là ông Võ Văn T6 (đã chết nhưng không rõ lúc nào) và bà
Trần Thị H1. Ông T6 và bà H1 có 09 người con gồm các ông, bà Võ Thị L, Võ
Thị T2, Võ Thị T3, Võ Văn S, Võ Thị Kiều O, Võ Văn Đ1, Võ Văn V, Võ Văn
Ú1 và Võ Thị M, không có con riêng, con nuôi và cha mẹ cũng đều đã chết hết.
Ông T và bà Ú1 đang sử dụng phần đất tại thửa số 127, bà Đ sử dụng phần
đất tại thửa số 126, ông, bà sử dụng phần đất tại thửa số 125. Phần đất tại thửa số
126 có vị trí nằm giữa phần đất tại thửa số 125 và 127. Hiện nay, ông T, bà Ú1 và
ông, bà tranh chấp ranh đất với bà Đ.
Phần đất tại thửa số 125 có nguồn gốc của ông T6 và bà Hai T7 cho ông,
bà cách đây khoảng 40 năm, trước đó ông T6, bà H1 có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hay không thì ông, bà không rõ. Đến năm 2009, ông S mới làm thủ
tục kê khai, đăng ký và được UBND huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào năm 2015. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp ghi cấp cho hộ ông S, bà H là do ghi theo mẫu chứ phần đất này có
nguồn gốc do cha mẹ ông S tặng cho và là tài sản chung của vợ chồng ông, bà
chứ không có liên quan gì đến người khác. Phần đất tại thửa số 126 có nguồn gốc
là của gia đình bà Đ và do gia đình bà Đ quản lý, sử dụng từ trước đến nay không
có ai tranh chấp, còn phía gia đình ông T6, bà H1 từ trước đến nay không có quản
lý, sử dụng phần đất này. Lý do gì UBND huyện K đã cấp nhầm giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông T6 đối với phần đất này thì ông, bà không rõ.
Ông, bà có yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại cho
ông, bà phần đất đã lấn, chiếm có diện tích khoảng 215,98m
2
(ngang 1,5m, dài
143,99m), thuộc một phần thửa số 125, tờ bản đồ số 17, diện tích 7.128,5m
2
(đất
trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nay thuộc ấp
E, xã Đ, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 546332, số vào sổ cấp GCN:
CH01033 ngày 16/12/2015 do UBND huyện K cấp cho ông, bà.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại
cho ông, bà phần đất đã lấn, chiếm có diện tích theo đo đạc thực tế là 88,9m
2
,
thuộc một phần thửa số 125.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Ú1 thì ông, bà không có ý kiến.
Đối với yêu cầu phản tố của bà Đ thì ông, bà chỉ đồng ý với việc bà Đ yêu cầu
công nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bà Đ, còn phần đất mà bà Đ đã lấn,
chiếm của ông, bà diện tích 88,9m
2
thì ông, bà không đồng ý công nhận cho bà
Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Võ Thị Tuyết L2, bà Võ Thị Mỹ P, bà Võ Thị Cẩm N đều trình bày:
Các bà thống nhất với yêu cầu và ý kiến của bà Đ. Phần đất tại thửa số 126
có nguồn gốc do cha mẹ của các bà là ông T4 và bà N1 tạo lập. Khi còn sống, cha
mẹ các bà đã giao phần đất này cho bà Đ canh tác, sử dụng để phụng dưỡng cha
mẹ và thờ cúng ông bà, các anh, chị, em trong gia đình đều biết rõ và đồng ý, sau
này các anh, chị, em trong gia đình cũng có lập biên bản họp gia tộc đồng ý giao
cho bà Đ được quyền đứng tên quyền sử dụng đối với phần đất này.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T và bà Ú1 và yêu cầu độc lập của ông
S và bà H thì các bà không đồng ý, do bà Đ không có lấn, chiếm đất của ông T,
bà Ú1 cũng như ông S, bà H.
Tại Bản án số 38/2026/DS-ST ngày 11/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực
10 - Cần Thơ đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản
1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều
227, Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án
nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; các 166, 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều
203 Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018); khoản 1 Điều 11, khoản
1 Điều 17, khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 31, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024
(sửa đổi, bổ sung năm 2024); điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, điểm a khoản 1
và khoản 2 Điều 24, khoản 1 và khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị
Ú, về việc yêu cầu bà Võ Thị Đ (Võ Thị Hồng Đ) trả lại cho ông, bà phần đất có
diện tích thực tế 92,3m
2
được xác định thuộc một phần thửa đất số 126, tờ bản đồ
số 17, tọa lạc tại ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ (thửa đất cũ số 258, tờ bản đồ
cũ số 4, tọa lạc tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng). Phần đất này trên sơ đồ
thửa đất có ký hiệu là P2b và có số đo, tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất thửa số 126 có số đo 161,09m;
- Hướng Tây giáp phần đất thửa số 127 có số đo 161,39m;
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Lê Văn D có số đo 1,19m;
- Hướng Bắc là đỉnh tam giác giáp nét ranh pháp lý kênh U có số đo 0,00m.
(Có các Mảnh trích đo địa chính số 135-2024 và 146-2024 của Công ty
TNHH Đ2 kèm theo bản án)
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị
H, về việc yêu cầu bà Võ Thị Đ (Võ Thị Hồng Đ) trả lại cho ông, bà phần đất có
diện tích thực tế 88,9m
2
được xác định thuộc một phần thửa đất số 126, tờ bản đồ
số 17, tọa lạc tại ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ (thửa đất cũ số 258, tờ bản đồ
cũ số 4, tọa lạc tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng).Phần đất này trên sơ đồ
thửa đất có ký hiệu là P3 và có số đo, tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất thửa số 125 có số đo 142,49m + 1,50m;
- Hướng Tây giáp phần đất thửa số 126 có số đo 142,10m + 2,13m;
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Lê Văn D có số đo 0,77m;
- Hướng Bắc giáp nét ranh pháp lý kênh Út Tấn có số đo 0,49m.
(Có các Mảnh trích đo địa chính số 135-2024 và 146-2024 của Công ty
TNHH Đ2 kèm theo bản án)
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Võ Thị Đ (Võ Thị Hồng Đ), về việc
yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 414093 do Ủy ban nhân dân
huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Võ Văn T6 đối với phần đất có diện tích
8.400m
2
, loại đất 2L, thuộc thửa đất cũ số 258, tờ bản đồ cũ số 4, tọa lạc tại ấp
E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Công nhận cho bà Võ Thị Đ (Võ Thị Hồng Đ) được quyền sử dụng phần
đất có diện tích theo đo đạc thực tế 7.407m
2
, hiện trạng là đất trồng cây lâu năm,
thuộc thửa số 126, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ
nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 414093 do Ủy ban nhân dân
huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Võ Văn T6 đối với phần đất có diện tích
8.400m
2
, loại đất 2L, thuộc thửa đất cũ số 258, tờ bản đồ cũ số 4, tọa lạc tại ấp
E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Phần đất này trên sơ đồ thửa đất gồm 03 phần
có ký hiệu là P3, P2a, P2b và có số đo, tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất thửa số 125 có số đo 142,49m + 1,50m;
- Hướng Tây giáp phần đất thửa số 127 có số đo 161,39m;
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Lê Văn D có số đo 0,77m + 49,50m
+ 1,19m;
- Hướng Bắc giáp nét ranh pháp lý kênh Út Tấn có số đo 0,49m + 46,95m
+ 0,00m.
(Có Sơ đồ thửa đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai
huyện K, tỉnh Sóc Trăng kèm theo bản án)
Bà Võ Thị Đ (Võ Thị Hồng Đ) có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đối với phần đất được công nhận quyền sử dụng nêu trên
theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 20/3/2026, ông T và bà Ú cùng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông, bà; công nhận diện tích đất 92,3m
2
cho ông, bà.
Ngày 20/3/2026, ông S và bà H cũng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu độc lập của ông, bà; buộc bà Đ trả cho ông, bà diện tích đất bị lấn
chiếm 88,9m
2
, thuộc 01 phần thửa số 125, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp E, xã Đ,
thành phố Cần Thơ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các ông, bà Võ Thị H2, Võ Thị L, Võ Thị T2, Võ Thị T3, Võ Thị Kiều O,
Võ Văn Đ1, Võ Văn V, Võ Văn Ú1, Võ Thị M, Võ Văn S1, Võ Thị Kim L1 và
Chủ tịch UBND xã Đ, thành phố Cần Thơ đều vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông T và bà Ú1 không rút đơn khởi kiện,
không rút kháng cáo nhưng xin thay đổi kháng cáo, yêu cầu bà Đ trả cho ông T,
bà Ú1 diện tích đất theo đo đạc thực tế của Văn phòng ký đất đai thành phố C là
84,8m
2
.
Bà Đ không rút đơn phản tố.
Người đại diện hợp pháp của ông S và bà H không rút đơn yêu cầu độc lập,
không rút kháng cáo nhưng xin thay đổi kháng cáo, yêu cầu bà Đ trả cho ông S,
bà H diện tích đất theo đo đạc thực tế của Văn phòng ký đất đai thành phố C là
66,5m
2
.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ
vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của ông
T và bà Ú1, ông S và bà H thì sau khi xét xử sơ thẩm, các ông, bà không đồng ý
với các số đo theo Mãnh trích đo địa chính của Công ty TNHH Đ2 nên Tòa án
cấp phúc thẩm đã trưng cầu Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C đo đạc lại.
Tuy nhiên, khi đo đạc lại thửa 127 thì ông T không thống nhất được ranh đất với
hộ liền kề là ông Lê Văn D nên không thể xác định được chính xác diện tích thửa
127 của ông T, bà Ú1 hay thiếu, đây là tình tiết mới phát sinh, cấp phúc thẩm
không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp
dụng khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm,
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm
các ông, bà Võ Thị H2, Võ Thị L, Võ Thị T2, Võ Thị T3, Võ Thị Kiều O, Võ Văn
Đ1, Võ Văn V, Võ Văn Ú1, Võ Thị M, Võ Văn S1, Võ Thị Kim L1 và Chủ tịch
UBND xã Đ, thành phố Cần Thơ: Tất cả đều đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần
thứ hai để tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan và cũng không có kháng cáo. Do đó, căn cứ khoản
3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa phúc
thẩm xét xử vắng mặt đối với các ông, bà.
[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn
Văn T và bà Võ Thị Ú, ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị H đảm bảo về hình thức
và nội dung, đúng người có quyền kháng cáo, còn trong thời hạn kháng cáo theo
quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp
lệ, đủ điều kiện để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của ông T, bà Ú và
người đại diện hợp pháp của ông S, bà H thay đổi kháng cáo, yêu cầu bà Đ trả cho
ông T, bà Ú diện tích đất theo đo đạc thực tế của Văn phòng ký đất đai thành phố
C là 84,8m
2
; yêu cầu bà Đ trả cho ông S, bà H diện tích đất theo đo đạc thực tế
của Văn phòng ký đất đai thành phố C là 66,5m
2
. Việc thay đổi kháng cáo này
không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, do đó căn cứ khoản 2 Điều 284 Bộ
luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của ông T và bà Ú, ông S và bà H, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận thấy:
[5] Thửa đất của ông T, bà Ú là thửa số 127, thửa đất của bà Đ là thửa số
126 và thửa đất của ông S, bà H là thửa số 125, đều thuộc tờ bản đồ số 17, tọa lạc
tại ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nay thuộc ấp E, xã Đ, thành phố Cần Thơ.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông T và bà Ú, ông S và bà H không thống nhất với các
số đo, diện tích thực tế theo các Mảnh trích đo địa chính số 135-2024 và 146-2024
của Công ty TNHH Đ2 cung cấp và có yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét,
thẩm định tại chỗ lại đối với các thửa đất trên. Tòa án cấp phúc thẩm trưng cầu
Văn phòng ký đất đai thành phố C đo đạc lại các thửa đất số 125, 126 và 127. Tuy
nhiên, khi Văn phòng ký đất đai thành phố C đo đạc thửa số 127 của ông T và bà
Ú thì không thống nhất được ranh đất với hộ liền kề, cạnh tiếp giáp với thửa số
157 của ông Lê Văn D, diện tích đất tranh chấp giữa ông T, bà Ú với phía gia đình
ông D là 23,3m
2
nên chưa thể xác định được số đo cụ thể tứ cận, diện tích thực tế
thửa 127 của ông T, bà Ú là dư hay thiếu, để từ đó có chấp nhận hay không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Ú đối với bà Đ cũng như yêu cầu phản tố
của bà Đ. Việc phát sinh tranh chấp ranh đất giữa ông T, bà Ú với phía gia đình
ông D mới phát sinh ở giai đoạn phúc thẩm, cấp phúc thẩm không thể thực hiện
bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần thiết phải hủy bản
án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ
thẩm. Khi thụ lý, giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giải thích cho ông
T và bà Ú khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp ranh đất với ông Lê Văn D và nhập
vào vụ án này để giải quyết thì mới đảm bảo khách quan, toàn diện và chính xác.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị
của Kiểm sát viên, căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[7] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở giai đoạn phúc thẩm: Chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ là 12.869.512 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm sẽ xem xét
khi giải quyết lại vụ án.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên theo quy
định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông T và bà Ú, ông S và bà H không phải
chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 11 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ.
2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Ú không phải chịu.
- Ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị H không phải chịu và được hoàn lại số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), theo các biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005189 và 0005191, cùng ngày 20 tháng 3
năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố C.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 10 - Cần Thơ;
- VKSND TP Cần Thơ;
- VKSND khu vực 10 - Cần Thơ;
- THADS TP Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hoàng Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1387/2026/DS-PT Bản án số 1387/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1387/2026/DS-PT Bản án số 1387/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất