Bản án số 1153/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1153/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1153/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1153/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sở hữu vụ Đ-N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1153/2026/DS-PT Bản án số 1153/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1153/2026/DS-PT Bản án số 1153/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1153/2026/DS-PT
Ngày 26/8/2026
“Tranh chấp đòi lại tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Phượng.
Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Chúc, Thẩm tra viên Tòa án
nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1269/2026/TLPT-DS ngày 21
tháng 7 năm 2026, về “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 214/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm
2026, Tòa án nhân dân KV, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1410/2026/QĐ-PT
ngày 23 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Tấn Đ, sinh năm 1953, địa chỉ: Số A, khu vực
T, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Văn S, sinh năm 1971, địa chỉ:
Khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn: Bà Trương Thị N, sinh năm 1950, địa chỉ: Khu V, phường T,
thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Trương Thị N là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và
người đại diện trình bày:
Vào năm 1998, ông Trương Tấn Đ có cho bà Trương Thị N mượn số vàng
là 35 chỉ vàng 24K để trang trải cuộc sống gia đình nhưng đến nay bà N vẫn
chưa trả lại số vàng trên cho ông Đ. Sự việc mượn vàng đã được bà N thừa nhận
trong biên bản hòa giải ngày 18/3/2025 trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển
2
nhượng quyền sử dụng đất đã được Tòa án nhân dân KV - Cần Thơ giải quyết
cũng như trong suốt quá trình giải quyết trong vụ án này. Vì vậy, nguyên đơn
khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại 35 chỉ vàng 24K.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương Thị N trình bày:
Bị đơn thừa nhận vào năm 1998 có mượn của nguyên đơn 35 chỉ vàng
24K nhằm trang trải cuộc sống gia đình và đến nay chưa trả. Tuy nhiên, số vàng
35 chỉ vàng 24K mà bị đơn mượn thì hai bên đã cấn trừ rồi, cụ thể bị đơn đã
đồng ý công nhận một phần đất cho nguyên đơn tại thửa 170
1
và cho nguyên
đơn nhận thêm ½ số tiền giá trị thu hồi đất bằng Quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự số 75/2025/QĐST-DS ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân
dân KV - Cần Thơ. Như vậy, bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ đối với số vàng
đã mượn của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 214/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm
2026, Tòa án nhân dân KV, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
“Tuyên án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Tấn
Đ.
Buộc bà Trương Thị N có nghĩa vụ trả cho ông Trương Tấn Đ 35 chỉ vàng
24K.”
Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của
các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Trương Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông Trương Tấn Đ về việc buộc bà trả 35 chỉ vàng 24K.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến: Về
việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà
Trương Thị N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn Trương Tấn Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị N xác nhận vào năm
1998, bà có mượn của ông Trương Tấn Đ 35 chỉ vàng 24K nhằm mục đích trang
trải cuộc sống gia đình, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo
Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Việc bà N trình bày là giữa bà và ông Đ đã thỏa thuận cấn trừ xong số
vàng 35 chỉ vàng 24K khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hai bên
3
theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 75/2025/QĐST-
DS ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân KV - Cần Thơ, cụ thể là: Bà đồng ý
cho ông Đ được quyền sử dụng một phần diện tích đất tại thửa 170
1
và nhận
thêm ½ số tiền giá trị thu hồi đất, để xem như bà đã thực hiện xong nghĩa vụ trả
35 chỉ vàng cho ông Đ. Qua xem xét, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự số 75/2025/QĐST-DS ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân KV -
Cần Thơ, nhận thấy nội dung thỏa thuận của các bên ghi trong Quyết định
không có đề cập đến việc xử lý số vàng 35 chỉ giữa ông Đ và bà N. Tại biên bản
hòa giải lập ngày 13/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ ghi nhận ý kiến
bà N là “…Bà N đồng ý hỗ trợ cho ông Đ ½ số tiền bồi thường, hỗ trợ với số
tiền 244.568.160 đồng.” việc này thể hiện bà N không có yêu cầu cấn trừ số
vàng 35 chỉ vào số tiền bồi thường theo bà trình bày. Đồng thời, tại biên bản
phiên tòa lập ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân KV – Cần Thơ, ghi nhận nội
dung trả lời của bà N theo câu hỏi của Chủ tọa như sau:
“Hỏi: Tại phiên tòa hôm nay, bà vẫn đồng ý giao ½ diện tích đất còn lại
sau thu hồi và ½ giá trị bồi thường đất cho ông Đ đúng không?
Đáp: Thưa đúng.
Hỏi: Tại sao bà đồng ý cho ông Đ đất và tiền?
Đáp: Do chúng tôi là chị em trong nhà nên cho”.
Qua nội dung trả lời nêu trên thể hiện ý kiến của bà N không có yêu cầu
hoặc thỏa thuận với ông Đ là cấn trừ đất và tiền bồi thường vào số vàng 35 chỉ.
Phía bà N cho rằng các bên thỏa thuận xử lý riêng bên ngoài, tuy nhiên bà không
cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh được việc này, do vậy kháng cáo
của bà không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Từ các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị N và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
về việc sửa bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị N là người cao tuổi nên
thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị N, giữ nguyên
bản án sơ thẩm số 214/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2026, Tòa án nhân dân
KV, thành phố Cần Thơ.
2/ Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị N là người cao tuổi nên
thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm.
3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
4
4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
điều 4, 6, 7, 8, 36, 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- Phòng KTNV-TT-THA TA TPCT;
- TAND KV – Cần Thơ;
- VKSND TP Cần Thơ;
- VKSND KV – Cần Thơ;
- Phòng THALĐ KV – Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Quang Nhuận
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1153/2026/DS-PT Bản án số 1153/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1153/2026/DS-PT Bản án số 1153/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất