Bản án số 114/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 114/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 114/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 114/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 114/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Cần Đước (TAND tỉnh Long An) |
Số hiệu: | 114/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 30/09/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN ĐƯỚC
TỈNH LONG AN
Bản án số: 114/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Phượng
Ông Phạm Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Cần Đước, tỉnh Long An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước tham gia phiên
tòa: Ông Phạm Quốc Huy – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cần Đước
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 6
năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết
định hoãn phiên tòa số: 70/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An
-Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1995 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Vàm Lớn, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long
An
2. Ông Nguyễn Phi H, sinh năm: 1960
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị M, sinh năm 1968 (có mặt)
2
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày:
Bà và ông Nguyễn Tấn L quen biết nhau vì trước đó giữa hai bên đã từng
giao dịch mua bán xe. Do ông L có nhu cầu bán tiếp xe nên ông L điện thoại cho
bà và gửi hình ảnh chiếc xe qua zalo cho bà xem loại xe cuốc bánh xích đã qua
sử dụng hiệu Komatsu (không có giấy tờ) với giá 180.000.000đồng. Do tin
tưởng ông L nên sau khi hai bên thỏa thuận xong thì vào ngày 26/02/2024 bà
chuyển khoản trước 40.000.000đồng, ngày 01/3/2024 chuyển khoản tiếp
40.000.000đồng (do con bà là anh Nguyễn Văn T số tài khoản 6860161483
chuyển khoản dùm, số tiền này bà đã trả lại cho anh T) cho ông L tại Ngân hàng
TMCP Đ – Chi nhánh M1 – Phòng G (diễn giải: MB-TKThe: 0792999956, tại
S. ND MAI CT). Khi nhận được tiền, ông L hứa đến ngày 03/3/2024 sẽ lập giấy
mua bán, bà giao số tiền còn lại cho ông L 100.000.000đồng và ông L sẽ giao xe
cho bà. Sau đó, bà liên lạc nhiều lần nhưng ông L không bắt máy, lúc thì ông L
nói xe chưa dọn dẹp lau chùi xong nên chưa giao và sau này ông L tắt mọi liên
lạc với bà nên bà không gặp được ông L cũng như chưa trực tiếp nhìn thấy chiếc
xe. Việc mua bán xe có con ruột bà là anh Nguyễn Văn T biết thông qua việc bà
nhờ anh T chuyển tiền.
Do ông L vi phạm hợp đồng nên bà không yêu cầu tiếp tục thực hiện việc
mua bán xe, bà chỉ giao dịch với ông L nên bà khởi kiện riêng cá nhân ông L trả
lại cho bà số tiền 80.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, bà không
yêu cầu gì khác.
Tòa án tiến hành lập thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án và phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo quy
định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn ông Nguyễn Tấn L vắng mặt và không
cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T trình bày lời
khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà như sau:
Anh là con bà Lê Thị M và ông Nguyễn Phi H, anh biết ông L do trước đó
mẹ anh và ông L có giao dịch mua bán xe với nhau. Khi ông L có nhu cầu bán
tiếp 01 chiếc xe cuốc bánh xích thì ông L tiếp tục điện thoại cho mẹ anh để giao
dịch. Anh không có trực tiếp chứng kiến việc thỏa thuận mua bán xe giữa bà M
và ông L nhưng anh biết bà M mua xe ông L và bà M có nhờ anh chuyển tiền
cho ông L, cụ thể: Ngày 26/02/2024 anh chuyển khoản số tiền 40.000.000đồng,
ngày 01/3/2024 anh chuyển khoản tiếp số tiền 40.000.000đồng tại Ngân hàng
TMCP Đ – Chi nhánh M1 – Phòng G với tên tài khoản: Nguyen Van T1, số tài
khoản: 6860161483, diễn giải: MB-TKThe: 0792999956, tại S. ND MAI CT. Số
3
tiền này bà M đã trả lại cho anh xong nên anh không có tranh chấp hay yêu cầu
gì trong vụ kiện này, số tiền bà M tranh chấp với ông L thì bà M có toàn quyền
quyết định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phi H, do bà Lê Thị
M là người đại diện theo ủy quyền trình bày: ông H là chồng bà, hợp đồng mua
bán xe giữa bà và ông Nguyễn Tấn L do bà trực tiếp tham gia giao dịch nên bà
sẽ đứng ra khởi kiện, ông H không tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ kiện này
mà để cho bà có toàn quyền quyết định trong vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh
Long An phát biểu ý kiến tại phiên Tòa:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng Dân sự. Ông Q vắng mặt nhưng được Tòa án triệu tập hợp lệ lền
thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên xét xử vắng mặt ông Q theo quy định tại Điều
227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xét nội dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án nhận thấy:
Do có mối quen hệ quen biết nên bà M và ông L có thỏa thuận miệng qua
điện thoại, ông L có nhu cầu bán cho bà M 01 chiếc xe cuốc bánh xích với giá
180.000.000 đồng. Bà M đã chuyển cho ông L 80.000.000 đồng, ông L hứa
ngày 03/3/2024 hai bên sẽ tiến hành giao dịch lập giấy mua bán, bà M sẽ giao
cho ông L 100.000.000đồng còn lại và ông L sẽ giao xe. Giao dịch giữa bà M và
ông L không có hợp đồng cụ thể. Tuy nhiên căn cứ vào Công văn số 856 ngày
26/8/2024 của Ngân hàng TMCP Đ-Chi nhánh M1 cung cấp thể hiện: ngày
26/02/2024 và ngày 01/3/2024, tài khoản ngân hàng S của Nguyễn Tấn L có
nhận 80.000.000đ với nội dung C.Mai: CT là phù hợp với lời trình bày của bà M
và ông T1.
Từ những chứng cứ nêu trên có cơ sở xác định giữa bà Lê Thị M và ông
Nguyễn Tấn L có thỏa thuận mua bán 01 chiếc xe cuốc bánh xích đã qua sử
dụng, hiệu Komatsu với giá 180.000.000 đồng, bà M đã trả cho ông L số tiền
80.000.000đ, nhưng ông L không giao xe như đã thỏa thuận. Do đó, bà M yêu
cầu ông L hoàn trả số tiền 80.000.000đ là có căn cứ chấp nhận
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước: căn cứ Điều
227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 430, 437 Bộ luật dân sự, Nghị quyết
326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đề nghị giải quyết theo hướngchấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc ông Nguyễn Tấn L có trách
nhiệm hoàn trả cho bà Lê Thị M số tiền 80.000.000 đồng.
Về án phí: ông L chịu án phí dân sự sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
4
[1.1] Nguyên đơn bà Lê Thị M khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Tấn
L có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền 80.000.000đồng từ hợp đồng mua bán xe nên
xác định quan hệ “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Bị đơn ông Nguyễn
Tấn L có địa chỉ tại xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện
Cần Đước thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3
Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015.
[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Tấn L vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ
án nên Tòa án căn cứ vào Điều 207, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự giải
quyết vắng mặt đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà Lê Thị M thấy rằng:
Bà Lê Thị M khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Tấn L có nghĩa vụ trả
cho bà M số tiền 80.000.000đồng từ hợp đồng mua bán xe, không yêu cầu tính
lãi. Nguyên nhân bà M khởi kiện là do ông L không thực hiện đúng thỏa thuận,
cụ thể bà M mua của ông L 01 chiếc xe cuốc bánh xích đã qua sử dụng hiệu
Komatsu (không có giấy tờ) với giá 180.000.000đồng, ngày 26/02/2024 bà
chuyển khoản trước 40.000.000đồng, ngày 01/3/2024 chuyển khoản tiếp
40.000.000đồng (do con bà là anh Nguyễn Văn T chuyển khoản dùm). Ngày
03/3/2024 bà M giao tiếp số tiền còn lại 100.000.000đồng và ông L có nghĩa vụ
giao xe cho bà M. Giao dịch giữa bà M và ông L không có hợp đồng cụ thể tuy
nhiên nguyên đơn cung cấp “giấy báo nợ” ngày 26/02/2024 và ngày 01/3/2024
nhưng ông L không có ý kiến phản đối nên đây là tình tiết không cần phải chứng
minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó chứng cứ của nguyên đơn cung cấp được xem xét làm căn cứ để giải
quyết vụ án. Ngoài ra, theo công văn phúc đáp số: 856/BIDV.MH-QLRR ngày
26/8/2024 của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh M1 xác định “giấy báo nợ”
ngày 26/02/2024: tên người nhận tiền: NGUYEN TAN LOI; Số tài khoản
0792999956; Ngân hàng T2: S; Nội dung chuyển tiền: C.MAI CT và “giấy báo
nợ” ngày 01/3/2024: tên người nhận tiền: NGUYEN TAN LOI; Số tài khoản
0792999956; Ngân hàng T2: S; Nội dung chuyển tiền: M2. Như vậy có căn cứ
xác định giữa bà Lê Thị M và ông Nguyễn Tấn L có thỏa thuận mua bán 01
chiếc xe cuốc bánh xích đã qua sử dụng, hiệu Komatsu với giá 180.000.000
đồng, bà M đã thanh toán trước cho ông L số tiền 80.000.000đồng nhưng ông L
không thực hiện như đã thỏa thuận, như vậy ông L đã vi phạm hợp đồng. Vì
vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M, cần buộc
ông L có trách nhiệm trả lại cho bà M số tiền 80.000.000đồng. Bà Lê Thị M
không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Anh Nguyễn Văn T không tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án nên
Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án
phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí: ông Nguyễn Tấn L có nghĩa vụ chịu án phí trên số tiền phải
trả cho bà Lê Thị M theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
5
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39,
Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân
sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 430, Điều 440, Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm
2015;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu,
miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12
năm 2016.
Tuyên xử:
[1].Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M về việc “tranh chấp hợp
đồng mua bán tài sản” với ông Nguyễn Tấn L.
Buộc ông Nguyễn Tấn L có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị M số tiền
80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng).
[2] Về nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đựơc thi hành án cho
đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải
chịu thêm khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại
khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
[3] Về án phí:
[3.1] Ông Nguyễn Tấn L phải chịu 4.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[3.2] Hoàn trả cho bà Lê Thị M số tiền 2.000.000đồng tạm ứng án phí đã
nộp tại biên lai số 0011771 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Cần Đước.
[4] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
[5]. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định đựơc thi
hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành
án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quỳên thoả thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án
theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6
.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Long An;
- VKSND huyện;
- Chi cục THA DS huyện;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án; án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Thanh Nhung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 24/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm