Bản án số 857/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 857/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 857/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 857/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ KIM L - LÊ TẤN Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 857/2026/DS-PT Bản án số 857/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 857/2026/DS-PT Bản án số 857/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 857/2026/DS-PT
Ngày: 30-06-2026
Về việc” tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Thẩm phán: Bà Dương Thúy Hằng
Lê Thị Bích Tuyền
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn, Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Gọn, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số 817/2025/TLPT-DS
ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do Bản án dân ssơ thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 24 tháng 09 năm 2025
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 764/2025/QĐ-PT ngày
11 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1984
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn N, sinh năm 1991
Địa chỉ cư trú: 440 Ấp D, Phường T, tỉnh Tây Ninh (Theo Văn bản uỷ quyền
ngày 28/7/2025) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Tấn Đ, sinh năm 1971
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh ( có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Tấn Đ.
NI DUNG V ÁN:
Theo Đơn khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L lời trình bày
2
trong quá trình giải quyết vụ án của ông Đào Văn N người đại diện theo uỷ quyền
của nguyên đơn có nội dung như sau:
Ngày 08/01/2023, bà Nguyễn Thị Kim L cho ông Tấn Đ vay số tiền
350.000.000đ, thời hạn vay 24 tháng (từ ngày 08/01/2023 đến 08/01/2025), hai bên
thỏa thuận lãi suất 3%/tháng. L đã giao đủ tiền cho ông Đ. Hai bên viết
Giấy mượn tiền ghi ngày 08/01/2023, nội dung giấy mượn tiền do ông Đ viết,
ông Đ ký và ghi rõ họ tên. Phần nội dung ghi “ngày 08/01/2023, người giao tiền đã
giao đủ tiền 350 triệu đồng đến tháng 01/2025 trả tất nợ” là do L viết, ký, ghi
họ tên.
Bà L và ông Đ trước đây có sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký
kết hôn nhưng bà L đã về nhà mẹ ruột L ở. Theo bà L thì bà L cho ông Đ mượn
tiền nhiều lần, thời điểm cho mượn số tiền này hai bên đã phát sinh mâu thuẫn
nên L mới yêu cầu viết lại giấy tờ. L làm công việc nội trợ, ngoài ra may
đồ thêm, L không nghĩa vụ phải chứng minh nguồn tiền từ đâu mà cho ông
Đ vay.
Từ khi vay đến nay thì ông Đ chưa trả cho L được tiền lãi hay gốc nào. Do
đó bà L khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Tấn Đ phải trả số tiền nợ vay, cụ thể nợ gốc
350.000.000đ, nợ lãi với mức lãi suất theo hợp đồng vay 1,6%/tháng từ ngày
08/01/2023 đến ngày 08/01/2025 là 134.400.000đ, nợ lãi trên nợ gốc quá hạn chưa
trả tương ứng với thời gian chậm trả tính từ ngày 09/01/2025 đến ngày 09/07/2025
là 50.400.000đ, tổng cộng cả gốclãi 534.800.000đ. Yêu cầu tiếp tục tính lãi từ
ngày 10/7/2025 đến khi xét xử sơ thẩm.
L đã cung cấp chứng cứ bản chính Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023,
nếu ông Đ cho rằng không phải chữ chữ viết của mình thì đề nghị chứng minh,
bà L không yêu cầu giám định chữ ký chữ viết trong Giấy mượn tiền này.
Bị đơn ông Tấn Đ trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nội dung
như sau: Ông và bà L sống chung như vợ chồng khoảng từ năm 2019 đến trước khi
bà L khởi kiện thì bà L dọn ra riêng, quá trình sống chung với nhau 01 con chung
tên Nguyễn Tuấn T, sinh năm 2024, con chung hiện đang sống với L, ông và
L không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, ông nhiều lần cho tiền để L
trả nợ chứ hoàn toàn không việc ông mượn tiền của bà L như L trình bày, bà
L còn yêu cầu ông ký giấy mượn tiền của người khác dùm L phải trả tiền dùm
bà L nhiều lần (ông mới trả cho ông Nguyễn Minh T1 là anh ruột của bà L dùm cho
L số tiền 340.000.000đ trả dần cho Nguyễn Thị T2 số tiền 210.000.000đ,...).
Trong quá trình sống chung với bà L từ năm 2019 đến ngày 01/8/2025, ông và bà L
không phát sinh mâu thuẫn. L may đồ nhưng thu nhập thấp, cuộc sống rất khổ.
Giấy mượn tiền ghi ngày 08/01/2023 hoàn toàn không phải chữ ký, chữ viết của ông
nên ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của L. Ông làm nghề tự do, ai thuê
làm đó, thu nhập không cố định. Do chữ ký, chữ viết trong Giấy mượn tiền không
phải chữ , chữ viết của ông nên ông không yêu cầu giám định, nếu muốn giám
định tL thể yêu cầu giám định. Ông đề nghị nguyên đơn đưa ra hình ảnh,
chứng cứ chứng minh có cho ông mượn tiền.
3
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Ông Đào Văn N đại diện cho bà Nguyễn Thị Kim L cho rằng, bà L và ông Đ
chung sống thì tiền ai nấy sài, bà L tự lo tiền sinh hoạt chứ không sử dụng tiền của
ông Đ. Theo Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023, bà L cho ông Đ vay s tiền
350.000.000đ, trong đó 50.000.000đ L cho ông Đ ợn trước đó (bà L không
nhớ cụ thể thời gian) nên tổng cộng ông Đ viết giấy mượn tổng cộng 350.000.000đ.
Nay L yêu cầu ông Đ trả stiền tính đến ngày xét xử thẩm 564.939.200đ,
trong đó nợ gốc 350.000.000đ, tiền lãi trong hạn với mức lãi suất 1,6%/tháng từ ngày
09/01/2023 đến ngày 08/01/2025 134.400.000đ, lãi quá hạn với mức lãi suất 150%
x 1,6 = 2,4%/tháng từ ngày 09/01/2025 đến ngày 24/9/2025 là 71.400.000đ, lãi trên
nợ lãi chậm trả với mức lãi suất 0,8%/tháng tính từ ngày 09/01/2025 đến ngày
24/9/2025 9.139.200đ. Ngoài ra L cung cấp thêm bản tường trình của
Nguyễn Thị Thanh H và ông Trần Quốc T3 là những người đã chứng kiến việc ông
Đ mượn viết giấy vay tiền cho L. Đối với những khoản tiền ông Đ nêu tại
phiên toà, phía L không thừa nhận cũng không liên quan đến khoản tiền
vay này nên nếu ông Đ muốn cấn trừ thì L cũng không đồng ý. L không
yêu cầu giám định, nếu ông Đ không thừa nhận tông Đ quyền yêu cầu giám
định. L yêu cầu tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi
hành án.
Ông Đ xác định không có vay mượn bất kỳ số tiền nào của L, không viết
và ký Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023 do bà L cung cấp. Quá trình chung sống với
bà L, bà L rất khổ còn ham cờ bạc (có hộ chiếu của bà L chứng minh L đi
casino rất nhiều lần nhiều giấy cầm đồ), ông phải bỏ tiền ra chăm lo cuộc sống
của mẹ con L, mua rất nhiều tài sản cho L, đồng thời phải trả dùm L rất
nhiều lần mặc dù ông không phải người vay tiền. Ông đã cung cấp một số tài liệu
chữ ký của ông nên Toà án có thể xem xét có phải chữ ký của ông không hoặc bà L
phải đóng tiền để giám định chữ chữ viết trong Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023,
ông không có tiền để đóng và cũng không yêu cầu giám định.
Tại Bản án thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 24 tháng 09 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228
483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466 468 Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kim L về tranh
chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Lê Tấn Đ.
Buộc ông Tấn Đ phải trả cho Nguyễn Thị Kim L số tiền vay
564.939.200đ (năm trăm sáu mươi bốn triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn, hai trăm
đồng), trong đó: nợ gốc 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong
hạn là 134.400.000đ (một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm nghìn đồng), nợ lãi quá
hạn tính đến ngày 24/9/2025 71.400.000đ (bảy mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn
4
đồng), lãi trên nợ lãi chậm trả tính đến ngày 24/9/2025 9.139.200đ (chín triệu,
một trăm ba mươi chín nghìn, hai trăm đồng).
Kể tngày 25/9/2025, ông Tấn Đ phải tiếp tục chịu lãi chậm trả trên số
tiền còn phải thi hành án đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận
nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không thỏa thuận về mức lãi
suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
2. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định số
03/2025/QĐ-BPKCTT ngày 07/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh,
tỉnh Tây Ninh đến khi quyết định thay đổi, huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, thời hạn kháng cáo, quyền
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 09/10/2025, bị đơn ông Lê Tấn Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thoả thuận được với nhau về
việc giải quyềt vụ án, không cung cấp chứng cứ mới.
Bị đơn ông Tấn Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý toàn bộ
bản án thẩm. Ông cho rằng ông không vay của Nguyễn Thị Kim L số tiền
350.000.000 đồng, không viết, không ký vào Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023. Tại
cấp phúc thẩm, ông đã yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết trên giấy mượn tiền; kết
luận giám định của quan chuyên môn không xác định được chữ ký, chviết
của ông. Do đó, ông đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L không
đồng ý với kháng cáo của ông Đ. L xác định cho ông Đ vay số tiền 350.000.000
đồng theo Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023. Việc Kết luận giám định không xác
định được chữ ký, chữ viết không nghĩa chký, chữ viết đó không phải của
ông Đ. Ngoài giấy mượn tiền, L còn người làm chứng Nguyễn Thị Thanh
H và ông Trần Quốc T3 xác nhận việc giao tiền, viết giấy vay. Vì vậy, bà L đề nghị
không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên
tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa và các đương
sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của ông
Lê Tấn Đ hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ Kết luận giám định ngày 16/5/2026 Kết luận giám
định bổ sung ngày 17/6/2026 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phHồ
Chí Minh đều xác định không đủ sở để kết luận chữ chữ viết trên Giấy
mượn tiền ngày 08/01/2023 phải do ông Lê Tấn Đ , viết hay không. Do đó,
Giấy mượn tiền chưa đủ giá trị chứng minh việc ông Đ xác lập giao dịch vay tài
sản với Nguyễn Thị Kim L. Ngoài tài liệu này, nguyên đơn không cung cấp được
5
chứng cứ khác chứng minh việc giao nhận stiền vay 350.000.000 đồng, lời khai
của những người làm chứng chưa bảo đảm nh khách quan, chưa đủ căn cứ để
chứng minh quan hệ vay tài sản giữa các bên.
vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Tấn Đ, sửa Bản án dân sự thẩm số
74/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Tây Ninh,
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Văn Đ1 được
thực hiện đúng theo quy định tại các 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân
sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Căn cứ nội dung đơn kháng cáo của ông
Văn Đ1, cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm bị kháng cáo theo
quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Lê Tấn Đ, thấy rằng:
[2.1] Theo yêu cầu khởi kiện, Nguyễn Thị Kim L cho rằng ngày 08/01/2023
cho ông Tấn Đ vay số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày
08/01/2025, hai bên có lập Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023 và đây là căn cứ để yêu
cầu ông Đ thanh toán tiền gốc và tiền lãi.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Đ không thừa nhận có vay tiền của
L, đồng thời xác định ông không viết, không Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023.
[2.2] Tại cấp sơ thẩm, mặc dù ông Đ không thừa nhận chữ ký, chữ viết trong
Giấy mượn tiền nhưng chưa yêu cầu giám định. Cấp thẩm căn cứ vào Giấy mượn
tiền, lời khai của nguyên đơn người làm chứng để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bà L.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, đlàm nội dung kháng cáo, ông Đ đã yêu
cầu giám định chữ ký, chữ viết trên Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023. Theo Kết luận
giám định ngày 16/5/2026 và Kết luận giám định bổ sung ngày 17/6/2026 của Phân
viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận không đủ cơ sở để kết
luận chữ mang tên "Lê Tấn Đ" và phần chữ viết trên Giấy mượn tiền ngày
08/01/2023 có phải do ông Lê Tấn Đ ký, viết hay không.
Mặc Kết luận giám định không xác định chữ ký, chữ viết là giả hoặc không
phải của ông Đ, nhưng đồng thời cũng không xác định được chữ ký, chữ viết đó là
của ông Đ. Do đó, Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023 không còn đủ giá trị chứng
minh để xác định ông Đ người trực tiếp lập, xác lập giao dịch vay tài sản
như nguyên đơn trình bày.
6
[2.3] Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự đưa ra yêu
cầu thì phải nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu đó căn cứ hợp pháp. Trong
vụ án này, khi ông Đ không thừa nhận toàn bộ việc vay tiền, phủ nhận chữ ký, chữ
viết trên giấy mượn tiền kết quả giám định không xác định được người viết, người
ký là ông Đ thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về bà L.
Ngoài Giấy mượn tiền, L không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác
chứng minh việc thực tế đã giao số tiền 350.000.000 đồng cho ông Đ, như tài liệu
thể hiện việc rút tiền, chuyển khoản, giao nhận tiền trong khi ông Đ không thừa nhận
khoản nợ này.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của L còn trình bày
trong tổng số tiền 350.000.000 đồng thì có 50.000.000 đồng là khoản cho vay trước
đó nhưng không nhớ thời điểm giao tiền, không xác định được cụ thể thời gian, địa
điểm, hình thức giao tiền. Nội dung này không phù hợp với lời trình bày trong đơn
khởi kiện vviệc giao đủ toàn bộ số tiền vào ngày 08/01/2023, thể hiện sự thiếu
thống nhất về diễn biến giao dịch.
[2.4] Đối với lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Thị Thanh H ông
Trần Quốc T3, đây chỉ là bản tường trình do nguyên đơn cung cấp trong quá trình
giải quyết vụ án, những người làm chứng này không ký chứng kiến trong biên nhận
ngày 08/01/2023. Mặt khác, bà H và ông T3 đều có mối quan hệ quen biết với bà L,
lời khai chỉ thể hiện có chứng kiến việc giao tiền và lập giấy vay nhưng không làm
được nguồn gốc số tiền, qtrình giao nhận, số lượng tiền giao, thời gian, địa
điểm và các tình tiết cụ thể của việc vay nên không đủ căn cứ xác định ông Đ có vay
bà L số tiền 350.000.000 đồng như nguyên đơn trình bày.
[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lê Tấn
Đ, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 7 - Tây Ninh, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn
Thị Kim L về việc yêu cầu ông Tấn Đ trả số tiền vay 350.000.000 đồng và tiền
lãi phát sinh. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận
kháng cáo của ông Đ, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm căn cứ, phù hợp nên được
chấp nhận.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên biện
pháp khẩn cấp tạm thời mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng để bảo đảm thi hành án
không còn căn cứ duy trì. Căn cứ Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần
chấp nhận yêu cầu của ông Đ, hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời số 03/2025/QĐ-BPKCTT ngày 07/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây
Ninh.
Đối với số tiền bảo đảm L đã nộp để yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, sau khi bản án hiệu lực pháp luật việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời được thực hiện theo quy định của pháp luật, bà L được nhận lại toàn bộ số
tiền bảo đảm đã nộp.
7
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Tấn Đ
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Lê Tấn Đ.
Sửa toàn bộ bản án Dân sự thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 7 Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 148, 227, 228 và 483 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 29 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L về
việc yêu cầu ông Lê Tấn Đ thanh toán số tiền vay 564.939.200 đồng, gồm tiền gốc
và tiền lãi theo Giấy mượn tiền ngày 08/01/2023.
2. Huỷ bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định
số 03/2025/QĐ-BPKCTT ngày 07/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 Tây
Ninh, đối với các thửa đất số 41,42, cùng tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại xã P, huyện C,
tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh).
Hoàn trả cho Nguyễn Thị Kim L số tiền bảo đảm 100. 000.000 đồng
(Một trăm triệu đồng) đã nộp theo Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số
05/2025/QĐ-BPBĐ ngày 07/8/2025 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực
7 Tây Ninh) tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh C theo Giấy nộp tiền ngày
07/8/2025, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí dân sự thẩm: Buộc Nguyễn Thị Kim L phải chịu 26.597.568
đồng (Hai mươi sáu triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi tám
đồng) nhưng được khấu trừ 12.696.00(mười hai triệu, sáu trăm chín mươi sáu
nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án
số 0002539 ngày 07/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. L còn phải
nộp tiếp 13.901.568 đồng (Mười ba triệu, chín trăm lẻ một nghìn, năm trăm sáu mươi
tám đồng).
4. Về chi phí giám định tại cấp phúc thẩm: 2.411.000đồng (Hai triệu, bốn trăm
mười một nghìn đồng), bà L phải chịu toàn bộ (đã nộp xong).
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Tấn Đ không phải chịu.
8
Hoàn trả cho ông Đ 300.000 đồng( Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc
thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0007544 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân scó quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 7 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diễm Hằng
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 857/2026/DS-PT Bản án số 857/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 857/2026/DS-PT Bản án số 857/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất