Bản án số 117/2026/DS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 117/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 117/2026/DS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 117/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 117/2026/DS-PT Bản án số 117/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/DS-PT Bản án số 117/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 117/2026/DS-PT
Ngày: 06-7-2026
"V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Phượng
Ông Vũ Duy Luân
Ông Trương Quang Tú
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Đông - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên tiến
hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ số: 109/TLPT-DS ngày 26/5/2026 về
việc Tranh chấp quyền sử dụng đất. Do Bản án dân sự thẩm số: 26/2026/DS-
ST ngày 11/02/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2- ng Yên bị kháng cáo,
giữa các đương sự :
1. Nguyên đơn: Luyện Thị H, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn L, N,
tỉnh Hưng Yên. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Lưu Hữu H1, sinh năm
1976; địa chỉ: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Lưu Hữu H2, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn L, xã N, tỉnh
Hưng Yên. Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị C,
Chi nhánh Công ty L2 Ngân hàng tại tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Lưu Hữu M, sinh năm 1949; địa chỉ: Thôn L, N, tỉnh Hưng
Yên. Vắng mặt.
3.2. Anh Lưu Hữu H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn L, N, tỉnh Hưng
Yên. Có mặt.
3.3. Anh Lưu Hữu H3, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn L, N, tỉnh Hưng
Yên. Vắng mặt.
3.4. Chị Lưu Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, Y, tỉnh Hưng Yên.
Có mặt.
3.5 Lưu Thị D, sinh năm 1957 ; địa chỉ: Thôn L, N, tỉnh Hưng Yên.
Có mặt.
4. Người làm chứng : Lưu Thị L Lưu Thị L1 (em gái ông M, ông
H2). Có mặt.
5. Người kháng cáo: Ông Lưu Hữu H2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm, bà
Luyện Thị H trình bày:
Năm 1993 hộ gia đình ông Lưu Hữu M, Luyện Thị H được Nhà nước
giao đất nông nghiệp, trong đó thửa 438, tờ bản đồ số 03, diện tích 480m² tại
xứ đồng Mả a, thôn L và năm 1996 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Trước năm 1993, hộ ông Lưu Hữu H2 hộ ông M cùng canh tác một
phần diện tích tại khu vực này. Sau khi được giao đất, do anh em ruột nên gia
đình ông M vẫn để gia đình ông H2 tiếp tục sử dụng một phần diện tích thuộc
thửa 438. Đến khi gia đình ông M nhu cầu sdụng lại diện tích đất này thì
phát sinh tranh chấp. H yêu cầu Tòa án xác nhận diện tích 168,1m² thuộc
thửa đất số 1043, tờ bản đồ số 72 của hộ gia đình ông Lưu Hữu M, Luyện
Thị H; buộc ông H2 và gia đình không được ngăn cản việc quản lý, sử dụng diện
tích đất nêu trên.
Bị đơn ông Lưu Hữu H2 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Ông H2 cho
rằng nguồn gốc khu đất tranh chấp là đất của bố mẹ ông là cụ Lưu Hữu H4 và cụ
Đỗ Thị N. Trước năm 1993, cụ H4 cụ N đã phân chia cho ông và ông M mỗi
người 4,5 thước đất để sử dụng riêng; hai bên đã sử dụng ổn định từ đó đến nay.
Năm 1993 hộ ông được giao ruộng tại đội 13, không được giao đất tại đội 19
do phần diện tích này đã được bố mẹ phân chia từ trước. Do đó ông xác định
diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình ông.
Ông Lưu Hữu M, anh Lưu Hữu H3 chị Lưu Thị T những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm
định tại chỗ, đo đạc hiện trạng đất tranh chấp thu thập hồ sơ địa chính. Kết
quả xác minh thể hiện năm 1993 hộ ông Lưu Hữu M được giao thửa 438, tờ bản
đồ số 03, diện tích 480m² tại xứ đồng Mả a; hộ ông Lưu Hữu H2 được giao
các thửa đất khác không được giao thửa đất này. Năm 1996 hộ ông M được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất được giao, trong đó
thửa 438. Bản đồ địa chính VLAP lập năm 2015 thể hiện thửa 438 được
chỉnh thành thửa 1042 diện tích 298,9m² do ông M đứng tên khai thửa
1043 diện tích 183,7m² do ông H2 đứng tên kê khai; diện tích thực tế tranh chấp
đo được 168,1m². Trên diện tích đất tranh chấp hiện một ngôi mộ của anh
Lưu Hữu H5 (con ông H2) được chôn cất từ năm 2005. Hồ địa chính không
tài liệu thể hiện hộ ông M đã chuyển quyền, tặng cho hoặc giao dịch m
phát sinh quyền sử dụng đất của hộ ông H2 đối với phần diện tích đất đang tranh
chấp.
Tại Bản án dân sự thẩm số 26/2026/DS-ST ngày 11/02/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên nhận định thửa đất tranh chấp nguồn gốc từ
thửa 438 được Nhà nước giao cho hộ ông Lưu Hữu M năm 1993 và đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996; ông H2 không chứng minh được
việc được tặng cho, chuyển quyền hoặc được xác lập quyền sử dụng hợp pháp
đối với diện tích đất đang tranh chấp. Từ đó, Tòa án cấp thẩm quyết định
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Luyện Thị H; xác nhận thửa đất số 1043, tờ
bản đồ số 72, diện tích 168,1m² thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Lưu
Hữu M, Luyện Thị H; ông Lưu Hữu H2 gia đình không được ngăn cản
việc quản lý, sử dụng diện tích đất nêu trên.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Lưu Hữu H2 kháng cáo toàn bộ Bản án
dân sự thẩm số 26/2026/DS-ST ngày 11/02/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Hưng Yên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Lưu
Hữu H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, cho rằng diện tích đất tranh chấp
nguồn gốc do cụ Lưu Hữu H4 cụ Đỗ Thị N để lại, đã được các cụ phân
chia cho ông từ trước năm 1993; gia đình ông quản lý, sử dụng ổn định, liên tục
trong thời gian dài nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Luyện Thị H. Lưu Thị D trình bày thống nhất với ông Lưu
Hữu H2 về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý
do Tòa án cấp thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, chưa lấy lời khai của
người làm chứng Lưu Thị L1 Lưu Thị L; chưa xác minh, làm số
nhân khẩu được giao đất năm 1993; chưa đưa bà Lưu Thị D tham gia tố tụng với
cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; chưa đánh giá đầy đủ quá trình
quản lý, sử dụng đất, hiện trạng phần mộ con ông Lưu Hữu H2 trên diện tích
đất tranh chấp và việc xây tường ngăn giữa hai phần đất.
Người làm chứng bà Lưu Thị L1 Lưu Thị L trình bày thống nhất:
diện tích đất tranh chấp nguồn gốc đất của cụ Lưu Hữu H4 cụ Đỗ Thị
N; trước năm 1993 các cụ đã phân chia cho hai con trai ông Lưu Hữu H2
ông Lưu Hữu M, mỗi người quản lý, sử dụng một phần; việc phân chia chỉ được
thực hiện bằng lời nói, không lập thành văn bản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến: Quá trình
giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của ông Lưu Hữu H2 không có căn
cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lưu Hữu H2, giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm số 26/2026/DS-ST ngày 11/02/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Hưng Yên; miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lưu Hữu H2 theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu c tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bđơn ông Lưu Hữu H2 được nộp trong thời hạn
luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Lưu Hữu H2, Hội đồng xét xử thấy: Ông H2
Lưu Thị D cho rằng diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do cụ Lưu Hữu H4
cụ Đỗ Thị N phân chia cho ông H2 từ trước năm 1993; gia đình ông H2 đã
quản lý, sử dụng ổn định, liên tục trong thời gian dài; trên đất phần mộ con
trai ông H2, giữa hai phần đất tường ngăn năm 2015 ông H2 khai s
dụng khi lập bản đồ địa chính VLAP. Tại phiên tòa, người làm chứng Lưu
Thị L1Lưu Thị L cũng trình bày thống nhất với ông H2 về việc cụ H4, cụ
N đã phân chia đất cho hai con trai từ trước năm 1993 bằng lời nói.
Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của ông H2, D lời khai của hai người
làm chứng, các đương sự không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng
minh cụ H4, cụ N được giao riêng diện tích đất tranh chấp hoặc đã tặng cho,
phân chia hợp pháp diện tích đất này cho ông H2. Lời khai của L1 L
không được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ khách quan khác không phù
hợp với hồ giao đất nông nghiệp năm 1993, hồ cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất năm 1996 cũng như kết quả xác minh của quan chuyên
môn nên không đủ căn cứ để chấp nhận.
Ngược lại, hồ giao đất nông nghiệp năm 1993, Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp năm 1996 kết quả xác minh tại địa phương đều thể hiện thửa
đất số 438, tờ bản đồ số 03, diện tích 480m² tại xứ đồng Mả Hóa được giao cho
hộ ông Lưu Hữu M; hộ ông H2 được giao các thửa đất khác và không được giao
thửa đất này. Nếu diện tích đất tranh chấp thực sự đã được cụ H4, cụ N phân
chia cho ông H2 từ trước năm 1993 thì không căn cứ để Nhà nước tiếp tục
giao toàn bộ thửa đất số 438 cho hộ ông M cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất này. Hơn nữa, hồ vụ án cũng không tài liệu,
chứng cứ nào thể hiện ông H2 đã khiếu nại, kiến nghị hoặc yêu cầuquan nhà
nước thẩm quyền điều chỉnh việc giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất này.
Việc gia đình ông H2 quản lý, sử dụng đất trong thời gian dài, trên đất
phần mộ con trai ông H2, tường ngăn giữa hai phần đất việc ông H2
khai đứng tên thửa đất số 1043 trên bản đồ địa chính VLAP năm 2015 chỉ phản
ánh hiện trạng sử dụng đất, không phải là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất. Hồ
địa chính không tài liệu nào thể hiện hông M đã chuyển nhượng, tặng
cho hoặc giao dịch hợp pháp khác làm phát sinh quyền sdụng đất của hộ
ông H2; cơ quan chuyên môn cũng xác định việc ông H2 đứng tên kê khai là do
tự khai theo hiện trạng sử dụng. Do đó, kháng cáo của ông Lưu Hữu H2
không có căn cứ chấp nhận.
[3] Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục
tố tụng do chưa đưa bà Lưu Thị D tham gia tố tụng, chưa lấy lời khai của bà Lưu
Thị L1, Lưu Thị L và chưa xem xét đầy đủ hiện trạng sử dụng đất, Hội đồng
xét xử thấy rằng tại phiên tòa phúc thẩm Lưu Thị D đã tham gia tố tụng
trình bày đầy đủ ý kiến; Lưu Thị L1 Lưu Thị L đã được triệu tập tham
gia phiên tòa với cách người làm chứng; các đương sự được thực hiện đầy đủ
quyền trình bày, cung cấp chứng cứ và tranh luận. Hội đồng xét xử cũng đã xem
xét đầy đủ các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án, kết quả xem xét, thẩm
định tại chỗ, đo đạc hiện trạng, kết quả xác minh lời trình bày của những
người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Do đó, không căn cứ xác định Tòa án
cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục ttụng làm ảnh hưởng đến việc
giải quyết đúng đắn vụ án.
Đối với phần mộ anh Lưu Hữu H5 hiện trên diện tích đất tranh chấp,
nguyên đơn không yêu cầu giải quyết việc di dời phần mộ; các đương sự cũng
không yêu cầu Tòa án giải quyết quyền quản phần mộ nên Hội đồng xét xử
không xem xét trong vụ án này. Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp liên
quan đến phần mộ hoặc cho rằng diện tích đất tranh chấp di sản của cụ Lưu
Hữu H4, cụ Đỗ Thị N thì quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy
định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Luyện Thị H căn cứ, đúng
pháp luật; kháng cáo của ông Lưu Hữu H2 không căn cứ chấp nhận, cần giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số 26/2026/DS-ST ngày 11/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên theo khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về án phí: Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lưu Hữu
H2 đề nghị được miễn án phí dân sự phúc thẩm do người cao tuổi. Theo tài
liệu trong hồ vụ án, ông H2 sinh năm 1958, thuộc trường hợp người cao
tuổi theo quy định của Luật Người cao tuổi. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v
Quốc hội, ông H2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Đối với án phí dân sự thẩm, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp
thẩm ông H2 không yêu cầu miễn án phí nên việc Tòa án cấp thẩm buộc
ông H2 phải chịu án phí dân sự thẩm căn cứ, đúng quy định của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Hữu H2; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 26/2026/DS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Luyện Thị H.
Xác nhận thửa đất số 1043, tbản đồ số 72, diện tích 168,1m² theo bản đồ
VLAP lập năm 2015, tại xứ đồng M, thôn L, N, tỉnh Hưng Yên thuộc quyền
sử dụng của hộ gia đình ông Lưu Hữu M, bà Luyện Thị H.
Ông Lưu Hữu H2 các thành viên trong gia đình không được hành vi
ngăn cản việc quản lý, sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất nêu trên của hộ
gia đình ông Lưu Hữu M, bà Luyện Thị H.
3. Về án phí: Miễn án phí phúc thẩm dân sự cho ông Lưu Hữu H2.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 117/2026/DS-PT Bản án số 117/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/DS-PT Bản án số 117/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất