Bản án số 22/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 22/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sơn La
Số hiệu: 22/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ĐInh THị B- ĐInh Văn P Tranh chấp xác định di sản và người quản lý di sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 22/2026/DS-PT Bản án số 22/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/DS-PT Bản án số 22/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 22/2026/DS-PT
Ngày 07 - 7 - 2026
V/v Tranh chấp về xác định
di sản thừa kế và người quản
lý di sản thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuấn Minh.
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Tuấn Long; bà Lại Thị Hiếu.
- Thư phiên tòa: Quàng Hồng Nết - Thư Ta án nhân dân tnh
Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Quốc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tnh Sơn La xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 32/2026/TLST-DS ngày 28 tháng 5
năm 2026, về việc Tranh chấp về xác định di sản thừa kế và người quản lý di sản
thừa kế. Do Bản án dân sự thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 5 - Sơn La bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm s32/2026/DS-PT ngày
24 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Đinh Thị B, sinh năm 1965; địa ch: Bản V, xã G, tnh
Sơn La; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Đinh Thị B: Ông Điêu
Chính T - Trợ giúp viên pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp Nnước tnh
S; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đinh Văn P, sinh năm 1978; chị L Thị V, sinh năm 1980;
địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh Đinh Văn P: Ông Tòng
Văn M - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tnh S;
có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lò Thị V: Ông Trần Mạnh
T1 - Trợ giúp viên pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước tnh S;
mặt.
2
- Anh Văn T2, sinh năm 1989, địa ch: Bản T, G, tnh Sơn La; đơn
xin xét xử vắng mặt.
- Anh Đinh Văn V1, sinh năm 1991, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La; có
đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị S, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La; vắng mặt.
- Anh Đinh Văn P1, địa ch: Bản T, G, tnh Sơn La; có đơn xin xét x
vắng mặt.
- Chị Đinh Thị P2, địa ch: Thôn L, xã L, tnh Phú Thọ; có đơn xin xét xử
vắng mặt.
- Chị Đinh Thị Đ, địa ch: Bản C, xã T, tnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng
mặt.
- Anh Đinh Văn Q, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La.
- Chị Đinh Thị H, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La.
- Chị Đinh Thị H1, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La.
- Chị Đinh Thị H2, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La.
- Anh Lò Duy K, địa ch: Bản B, xã G, tnh Sơn La.
- Chị Lò Khánh L, địa ch: Bản B, xã P, tnh Sơn La.
(Các đương sự gồm: Anh Q, chị H, chị H1, chị H2, anh K, chị L đều vắng
mặt tại phiên toà).
- Chị Đinh Thị N, địa ch: Bản T, G, tnh n La. Người đại diện theo
ủy quyền của chị N: Cháu Đinh Thị L1, địa ch: Bản T, G, tnh Sơn La; đơn
xin xét xử vắng mặt.
- Cháu Đinh Thị Thanh L2, sinh ngày 23/3/2011; địa ch: Bản T, G, tnh
Sơn La; vắng mặt. Người đại diện hợp pháp của cháu L2: Chị Đinh Thị N, địa
ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La; vắng mặt.
- Cháu Đinh Thị L1, địa ch: Bản T, G, tnh Sơn La; đơn xin xét xử
vắng mặt.
- Anh Hà Văn T3, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La; có mặt.
- Bà Hoàng Thị B1, địa ch: Bản T, xã G, tnh Sơn La; Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đinh Thị B.
NI DUNG V ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn bà Đinh
Thị B trình bày:
Cụ Đinh Văn Ề (sinh năm 1928, mất ngày 09/6/2023) và cụ Hoàng Thị N1
(sinh năm 1923, mất ngày 07/02/2025) có 05 người con gồm: Ông Đinh Văn T4
(sinh năm 1954, mất năm 2016), ông Đinh Quang T5 (sinh năm 1957, mất năm
2021), bà Đinh Thị S (sinh năm 1960), bà Đinh Thị S1 (sinh năm 1962, mất năm
3
2010), bà Đinh Thị B (sinh năm 1965). Ngoài ra, cụ Ề và cụ N1 cn có 01 người
con nuôi là Hoàng Thị B1, sinh năm 1972 được hai cụ trực tiếp nuôi dưỡng từ
lúc 9 tháng tuổi. Hai cụ chết không để lại di chúc, di sản thừa kế gồm:
- 01 mảnh đất rộng khoảng 15m, sâu 25m thuộc thửa số 548A 548B, trên
đất có ngôi nhà sàn 2 tầng và 2 gian bếp. Nhà bếp đã được anh Đinh Văn P,
chị L Thị V dỡ bỏ. Hiện nay, một phần đất anh Hà Văn T2 đang sử dụng để mở
quán B2, một phần đất anh Đinh Văn V1 làm xưởng cơ khí.
- 03 thửa đất trồng lúa (thửa số 445 - diện tích 247m
2
, thửa số 501 - diện
tích 307,1m
2
và thửa s210 - diện tích 299m
2
), hiện nay do anh P, chị V1 đang
quản lý, sử dụng và 01 đôi hoa tai (01 ch vàng).
Nguồn gốc toàn bộ đất đai tranh chấp là do cụ Ề và cụ N1 khai phá từ năm
1954. Năm 1984, hai cụ đã chia cho ông Đinh Văn T4 khoảng 10.000m² đất để ra
riêng. Năm 1998, do ông T4 cần vốn làm ăn nên ông đã xin phép hai cđược
đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng. Năm
2005 hai cụ đã tổ chức họp gia đình để chia đất cho các cháu. Sau khi chia, diện
tích đất cn lại của hai cụ bao gồm 04 thửa đất nêu trên. Tại biên bản họp gia đình
ngày 20/4/2025, Đinh Thị B, Đinh Thị S các con của ông Đinh Quang
T5 và Đinh Thị S1 đã thống nhất giao toàn bộ di sản cho Đinh Thị B trực
tiếp quản để lập nhà thờ tổ tiên xây lăng m cho bố mẹ. Bà Đinh Thị B khởi
kiện yêu cầu Ta án:
1. Xác định 375m² đất ở và vườn (tại thửa 548A, 548B), 03 thửa đất trồng
lúa (thửa số 445, 501, 210) 01 đôi hoa tai vàng di sản thừa kế của cụ Đinh
Văn Ề và cụ Hoàng Thị N1.
2. Giao toàn bộ di sản thừa kế cho bà Đinh Thị B quản lý.
3. Buộc anh Văn T2 anh Đinh Văn V1 dỡ bỏ công trình trên đất
trả lại đất.
Ngày 09/01/2026, B đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Nội dung sửa
đổi: Xác định diện tích đất tranh chấp là 348m
2
tại thửa số 400 (thay vì thửa 445
như nhầm lẫn ban đầu).
Kèm theo đơn khởi kiện, Đinh ThB đã giao nộp cho Ta án các tài liệu,
chứng cứ: Bản tự khai ngày 17/10/2025; Biên bản hoà giải tranh chấp đất đai giữa
Đinh Thị Banh Đinh Văn P ngày 10/4/2025 của UBND xã G; Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AK584922, mang tên Đinh Văn T4; Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BM687449, mang tên Đinh Văn T4; Căn cước công dân;
Giấy khai sinh; Xác nhận thông tin về trú số 1285, 09/10/2024 của Công an
G; Trích lục khai tử số 19 ngày 12/6/2023 của UBND xã G; Trích lục khai tử số
09 ngày 10/02/2025 của UBND G; Trích lục khai tử số 322 ngày 12/11/2024
của UBND G; Trích lục khai tử số 323, 12/11/2024 của UBND xã G; Trích lục
khai tử số 190 ngày 12/11/2024 của UBND xã G; Giấy xác nhận của Hoàng Thị
C; Biên bản hoà giải ngày 14/01/2025 và Biên bản hoà giải ngày 29/5/2024; Biên
bản họp gia đình ngày 20/4/2025; Đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai ngày
04/3/2025; Hồ chuyển nhượng đất giữa ông Đinh Văn T4 ông n N2
4
năm 2013; Biên bản bàn giao quyền nuôi dưỡng, chăm sóc bố mẹ ngày ngày
02/9/2018; Bản tự khai của Đinh Thị S ngày 01/11/2025; Giấy khai sinh
Đinh Thị S; Căn cước công dân bà Đinh Thị S; Văn bản ghi ý kiến của anh Đinh
Văn Q1, chị Đinh Thị H, chị Đinh Thị H1, chị Đinh Thị H2 ngày 30/10/2025;
Văn bản ghi ý kiến ngày 02/11/2025 của anh Lò Duy K chị Khánh L; Giấy
khai sinh của anh Lò Duy K; Giấy khai sinh của chị Lò Khánh L; Căn cước công
dân của chị Khánh L; Căn cước công dân của anh Duy K; yếu lịch
của chị Đinh Thị H2; Căn cước công dân của chị Đinh Thị H1; Căn cước ng
dân của chị Đinh Thị H2; Căn cước ng dân của chị Đinh Thị H; Công văn số
04/UBND ngày 20/3/2025 của UBND xã G về việc trả lời đơn đề nghị của công
dân; Biên bản xác minh nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng đất của Trợ giúp
viên pháp lý; Giấy khai sinh và căn cước công dân của bà Hoàng Thị B1.
Theo văn bản trình bày ngày 03/11/2025 bản tự khai ngày 05/11/2025,
bị đơn anh Đinh Văn P trình bày:
Ông Đinh Văn T4 và bà Hà Thị V2 có 05 người con gồm anh Đinh Văn P,
anh Đinh Văn P3, anh Đinh Văn P1, chị Đinh Thị P2, chị Đinh Thị Đ.
Anh P không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Đinh Thị B toàn bộ
diện đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bố đẻ anh ông Đinh Văn
T4 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện P cấp. Sau khi bố
mẹ anh mất, vợ chồng anh là người trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng cụ Ề và cụ
N1 từ năm 2017 đến năm 2024 và lo liệu tang lễ cho cụ Ề tại gia đình. Ngoài ra,
năm 1989-1990 B đi lấy chồng đã được cụ Ề chia cho một mảnh đất nhưng sau
đó bà B đã bán đi cho người khác. Về biên bản họp gia đình ngày 20/4/2025, anh
không thừa nhận giá trị pháp của biên bản này ch B một số con
cháu của ông T5 ký.
Đối với việc sử dụng đất của anh Đinh n V1, do quan hệ anh em h
hàng nên anh cho anh V1 mượn đất để làm nhà tạm để vật liệu. Cn phần đất anh
Văn T2 đang sử dụng là đất mà bố anh đã chia cho em trai của anh anh Đinh
Văn P3. Đối với đôi hoa tai của cụ N1, anh P cho rằng đã sử dụng để làm giỗ cho
cụ nên không cn.
Bị đơn chị Lò ThV (vợ của anh Đinh Văn P): Nhất trí với quan điểm của
anh Đinh Văn P về nội dung sự việc. Không có ý kiến gì thêm.
Theo văn bản trình bày ngày 05/11/2025 biên bản lấy lời khai ngày
06/01/2026, anh Đinh Văn V1 trình bày:
Anh V1 em họ của anh P. Tháng 10/2025, anh được vợ chồng anh P cho
mượn khoảng 66m
2
đất để làm nhà kho chứa sắt thép, vật liệu xây dựng. Sau khi
mượn đất, anh V1 đã dựng nhà xưởng khung thép, nền bê tông trị giá khoảng 70
triệu đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của B, anh V1 không ý kiến gì. Tuy
nhiên, trường hợp giao đất cho người khác quản lý sử dụng thì anh yêu cầu được
trả lại giá trị tài sản đã đầu tư là khoảng 70 triệu đồng.
Theo văn bản trình bày ngày 17/10/2025 bản tự khai ngày 13/11/2025,
anh Hà Văn T2 trình bày:
5
Tháng 9/2019, anh Văn T3 anh trai của anh T2 đã mua mảnh đất
200m
2
của chị Đinh Thị N (là vợ của anh Đinh Văn P3). Năm 2024, anh T3 cho
anh T2 ợn đất để làm quán bán hàng, khi mượn đất, trên đất không có tài sản
gì. Anh đã đầu tư xây dựng quán hết hơn 200 triệu đồng. Anh không nhất trí với
yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị B.
Theo bản tự khai ngày 30/12/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan anh Hà Văn T3 trình bày:
Tháng 8/2019, anh đã mua mảnh đất của chị Đinh Thị N. Khi mua, đất
mang tên ông Đinh Văn T4 (bố chồng chị N) không tranh chấp. Hai n
thỏa thuận số tiền mua bán 220 triệu đồng, anh đã trả cho chị N 190 triệu đồng,
số tiền cn lại sẽ được thanh toán khi nào làm xong thủ tục chuyển nhượng. Ngày
14/9/2019, trước sự chứng kiến của đại diện hai bên gia đình, chị N đã bàn giao
đất cho anh quản lý, sử dụng. Sau đó, anh đã cho em trai mượn đất để làm quán
giải khát. Anh không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Đinh Thị B. Anh
Văn T3 đã giao nộp cho Ta án các tài liệu, chứng cứ gồm: Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất ngày 02/8/2019 giữa chị Đinh Thị N anh Hà Văn
T3; Biên bản bàn giao đất ngày 14/9/2019 giữa chị Đinh Thị N anh Văn
T3.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 06/01/2026, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan chị Đinh Thị N trình bày:
Chị vợ của anh Đinh Văn P3 (là con trai của ông Đinh Văn T4, chết năm
2016). Chị và anh P302 con là cháu Đinh Thị L1 và cháu Đinh Thị Thanh L2.
Sau khi kết hôn, anh chị sống chung với bố mchồng 02 năm rồi được bố mcho
khoảng 60m
2
đất chuyển ra riêng. Khoảng năm 2019, chị bán thửa đất cho
anh Văn T3 với giá 220 triệu đồng như anh T3 trình bày. Chị không nhất trí
với yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị B.
Theo bản tự khai ngày 08/11/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan anh Đinh Văn P1 trình bày:
Anh là con trai của ông Đinh Văn T4, em trai của anh Đinh Văn P. Bố mẹ
anh người trực tiếp chăm sóc cụ Ề và cụ N1 từ năm 1996. Sau khi bố mẹ anh
mất thì ba anh em trai của anh cùng nhau chăm sóc hai cụ. Bố anh đã bán một
phần đất để trả nợ khi đưa cụ Ề bị tai nạn xe đi Hà Nội điều trị.
Năm 2015, hai cụ và bố anh cùng các anh đã đo đạc cho anh Phan Đ1 chứ
không phải cụ chia cho năm 2005. Một chvàng cái nhẫn cụ cho anh đeo
năm 2001 nhưng anh không lấy, năm 2004 cụ N1 làm hoa tai. Vườn rau muống
là cái ao do bố anh thtừ năm 2001, đến năm 2003 bị i lập nên cụ N1 mới
trồng rau muống. Đất làm xưởng của anh Đinh Văn V1 do anh P cho mượn.
Đất của anh Hà Văn T3 là phần đất của anh Đinh Văn P3 (đã mất), chị N vợ anh
P3 đã bán cho anh T3 để làm nhà cho các cháu. Anh P1 khẳng định toàn bộ đất
đang tranh chấp của ông Đinh n T4 để lại cho các con, không liên quan
đến bà B.
Theo văn bản trình bày ý kiến ngày 27/10/2025, người quyền lợi, nghĩa
6
vụ liên quan chị Đinh Thị P2 trình bày:
Chị là con của ông Đinh Văn T4, cháu của nguyên đơn bà Đinh Thị B, em
gái của bị đơn anh Đinh Văn P. Khi bố mẹ chị cn sống đã trực tiếp ng
chăm sóc cụ cụ N1. Sau khi bố mẹ chị mất, vợ chồng anh Đinh Văn P
người trực tiếp chăm sóc hai cụ. Chị không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà
Đinh Thị B không có tranh chấp với vợ chồng anh Đinh Văn P.
Theo biên bản lấy lời khai của a án ngày 26/3/2026, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị B1 trình bày:
Bố ruột của Hoàng ThB1 cụ Hoàng Văn Á (tên gọi khác Hoàng
Trọng Á1), mẹ ruột tên là cụ L Thị M1 (cụ Á1 và cụ M1 đều đã chết). CÁ1
em trai của cụ Hoàng Thị N1. Từ khi 09 tháng tuổi, B1 đã được cho đi làm con
nuôi của cĐinh Văn và cụ Hoàng Thị N1. Bà B1 đã ở cùng với cụ Ề cụ N1
đến năm 1995 mới ra riêng sau khi lập gia đình. Do không hiểu pháp luật nên
cụ Ề, cụ N1 không đăng việc nuôi con nuôi. Đối với nội dung sự việc và yêu
cầu khởi kiện của bà Đinh Thị B, B1 hoàn toàn nhất trí.
Theo văn bản trình bày, biên bản lấy lời khai của Tòa án, những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Đinh Thị S, các con của bà Đinh Th
S gồm anh Duy K, chị Khánh L; các con của ông Đinh Quang T5 gồm
anh Đinh Văn Q, chị Đinh Thị H, chị Đinh Thị H1, chị Đinh Thị H2 đều thống
nhất xác định di sản thừa kế của cụ cụ N1 nyêu cầu khởi kiện của Đinh
Thị B. Các đương sự này không yêu cầu chia di sản thừa kế đề nghị giao toàn
bộ di sản cho bà B trực tiếp quản lý và sử dụng để thực hiện các công việc chung
của gia đình nlập nhà thờ tổ tiên, xây dựng lăng mộ cho cụ , cụ N1 làm
các thủ tục tâm linh khác.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/01/2026 ngày 09/01/2026
của Tòa án xác định tài sản tranh chấp như sau:
1. Mt phần đất th cư đất nông nghip ti tha s 548a 548b: Tng
diện tích đất tranh chp là 443,33m
2
, gm 252,3m
2
đất th cư và 191m
2
đất nông
nghiệp. Trong đó:
- Anh Hà Văn T3 đang quản lý, s dng (nhn chuyn nhưng t ch Đinh
Th N) là 172,5m
2
. Gm:
+ Đất th cư: 111,9m
2
(tha 3). Tài sản trên đất: Ngôi nhà khung st, mái
tôn, thưng tôn diện tích 91,7m
2
ca anh Văn T2 xây dựng và đang s dng,
trong đó phần nm trong ch gii giao thông 36,3m
2
; phn nm trong giy
chng nhn quyn s dụng đất là 55,4m
2
.
+ Đất nông nghip: 57,6m
2
(tha 4) + 3m
2
(tha 11) = 60,6m
2
. Tài sn
trên đất: 01 cây nhãn và 02 cây ban.
- Anh Đinh Văn P đang quản lý, s dng: 140,4 +125,2 + 5,2 = 270,8m
2
.
Trong đó:
+ Đất th là: 140,4m
2
(tha 5). Tài sản trên đất: Ngôi nhà khung st,
mái tôn, thưng tôn diện tích 108m
2
ca anh Đinh Văn V1 xây dựng đang sử
7
dng (anh Đinh Văn P cho anh V1 ợn đất để làm nhà xưởng) trong đó phần
nm trong ch gii giao thông là 17,8m
2
; phn nm trong giy chng nhn quyn
s dụng đất là 90,2m
2
.
+ Đất nông nghip là: 125,2 (tha 6) + 5,2 (tha 8) = 130,4m
2
. Tài sn
trên đt: Rau ngắn ngày, các đương s thng nht không yêu cu Tòa án gii
quyết.
2. Thửa đất s 400: Tng din tích thửa đất 400 688m
2
. Phn din tích
đất tranh chp là 348m
2
. Phn diện tích đất còn li không tranh chp. Hin trng:
Rung trng rau ngn ngày. Tài sản trên đất là rau ngắn ngày, các đương s thng
nht không yêu cu Tòa án gii quyết.
3. Thửa đt s 501: Din tích 307,1m
2
. Hin trng: Ao cá. Tài sản trên đt:
Không có.
4. Thửa đất s 210: 299m
2
. Hin trng: Rung trng rau ngn ngày. Tài
sản trên đất là rau ngắn ngày, các đương sự thng nht không yêu cu Tòa án gii
quyết.
Tại Biên bản làm việc ngày 09/01/2026, các đương sự mặt đã thống nhất
giá trị tài sản tranh chấp như sau: Giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp nằm trong
thửa 548A và 548B (gồm diện tích đất chị Đinh Thị N đã chuyển nhượng cho anh
Văn T3, diện tích đất anh Đinh Văn V1 sử dụng làm nhà xưởng diện tích
đất anh P đang quản lý, sử dụng) là 6.000.000 đồng/m
2
(sáu triệu đồng/mét
vuông). Giá trị quyền sử dụng 03 thửa đất nông nghiệp (các thửa số 400, 210,
501) là 65.000 đồng/m
2
(sáu mươi lăm nghìn đồng/mét vuông). Giá trị tài sản trên
diện tích đất anh Hà Văn T3 nhận chuyển nhượng của chị Đinh Thị Nanh Hà
Văn T2 đã xây dựng nhà trên đất: Giá trnhà: 280.000.000 đồng (hai trăm tám
mươi triệu đồng). Giá trị 01 cây nhãn: 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn
đồng). Giá trị 02 cây ban: 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Giá trị nhà xưởng anh
Đinh Văn V1: 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng).
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 5 - Sơn La đã Quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 229; c Điều 267, 271
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Ha giải, đối thoại tại Ta án; Điều 690 Bộ luật
Dân sự 1995; Điều 2 Điều 20 Luật Đất đai 1993; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều
14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Ta án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị B về việc: Xác định
443,33m
2
đất vườn thuộc thửa 548A 548B; 348m
2
đất trồng lúa thuộc thửa
số 400; 307,1m
2
đất trồng lúa thuộc thửa số 501; 299m
2
đất trồng lúa thuộc thửa
số 210 (đều thuộc tờ bản đồ số 29 G, tỉnh Sơn La - đkèm theo) 01
8
đôi hoa tai vàng di sản thừa kế của cĐinh Văn cụ Hoàng Thị N1; giao
toàn bdi sản thừa kế cho Đinh Thị B quản lý; buộc ông Văn T2 và ông
Đinh Văn V1 dỡ bỏ công trình trên đất và trả lại đất.
2. Về chi phí tố tụng: Đinh Thị B phải chịu toàn bộ chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ 12.205.000 đồng (Mười hai triệu hai trăm linh năm nghìn
đồng), được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng chi phí đã nộp.
Ngoài ra, Bản án Ta án cấp thẩm cn tuyên về án phí và quyền kháng
cáo của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
Bị đơn những người quyền lợi, nghĩa vliên quan đều nhất trí với nội
dung bản án sơ thẩm, không kháng cáo.
Ngày 06/4/2026, nguyên đơn Đinh Thị B kháng cáo toàn bộ nội dung
bản án đề nghị Ta án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án sơ thẩm.
Sau khi Ta án nhân dân tnh Sơn La thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm,
nguyên đơn có đơn khiếu nại bản án sơ thẩm của Ta án nhân dân Khu vực 5 và
nộp kèm giấy ra viện của trạm y tế G ngày 23/02/2024; giấy xác nhận đất
của ông Đinh Văn D ngày 27/3/2026; bản xác nhận của Lường Thị Y ngày
27/3/2026; giấy xác nhận Đinh Thị B ngày 30/3/2026; giấy xác nhận của Đinh
Xuân H3 ngày 5/4/2026; giấy xác nhận của Đinh Văn D; giấy xác nhận của Đinh
Thị S ngày 01/4/2026; giấy xác nhận của Đinh Văn T6 ngày 30/4/2026.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn Đinh Thị B đề nghHội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đinh Thị B xác định toàn
bộ di sản thừa kế là do cụ Ề và cụ N1 chết để lại và người quản lý di sản thừa kế
là bà Đinh Thị B.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Đinh Thị B:
Ông Điêu Chính T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà
Đinh Thị B với lý do tài liệu trong hồ đều thể hiện các thửa đất tranh chấp có
nguồn gốc của cụ Đinh Văn Ề cụ Đinh Thị N3 trực tiếp khai phá sử dụng, theo
Điều 612 Bộ luật dân sự 2015 là tài sản hợp pháp của hai cụ và đủ điều kiện xác
định di sản thừa kế. Trong vụ án không tồn tại giao dịch hợp pháp nào chứng minh
việc chuyển quyền cho ông Đinh Văn T4, do đó việc đứng tên trong GCNQSDĐ
không làm phát sinh quyền sở hữu riêng. Biên bản bàn giao quyền nuôi dưỡng
chăm sóc bố mngày 02/9/2018 đã trực tiếp phủ nhận việc cho rằng tài sản chuyển
nhượng của ông Đinh Văn T4. đủ sở xác định toàn bộ các tài sản nguyên
đơn yêu cầu là của ccụ N3. Do đó căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà B xác định toàn bộ di sản của cụ Ề và cụ N3. Xác định là di sản
thừa kế và giao cho bà Đinh Thị B quản lý.
- Bị đơn anh Đinh Văn P, chị L Thị V: Không nhất trí với kháng cáo của
nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Ta án nhân dân Khu vực 5
9
- Sơn La.
+ Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn anh Đinh Văn P: Ông
Tng Văn M đề nghị Ta án không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị
giữ nguyên bản án sơ thẩm của Ta án nhân dân Khu vực 5, bởi lẽ:
Bản án thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 5 - Sơn La đã nhận định,
đánh giá đầy đủ, toàn diện, khách quan vụ án.
Ta án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ (hồ sơ địa chính,
lời khai, xem xét, thẩm định tại chỗ...) để m nguồn gốc đất. Trong khi đó, đơn
kháng cáo của nguyên đơn ch lặp lại nội dung cũ, không chứng cứ mới. Không
có căn cứ xác định đất di sản thừa kế. Nguyên đơn cho rằng đất của cha m(cụ
cụ N3) ch cho ông Đinh Văn T4 đứng tên hộ để vay vốn, nhưng đây lời
khai một phía, không có bất kỳ giấy tờ, văn bản cam kết hay xác nhận nào chứng
minh. Ngược lại, hồ địa chính chứng minh ông T4 đăng ký được cấp Giấy
chứng nhận QSD đất hợp pháp. Suốt thời gian dài trước sau khi ông T4 qua
đời, hai cụ và các đồng thừa kế cũng không hề có khiếu nại hay tranh chấp nào.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chị L Thị V: Ông
Trần Mạnh T1 nhất trí quan điểm của ông Tng Văn M, đề nghị giữ nguyên bản
án sơ thẩm của Ta án nhân dân Khu vực 5 - Sơn La.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Sơn La:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia
tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự. Đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Đinh Thị B; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Ta án nhân dân
Khu vực 5 - Sơn La.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên ta
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên ta, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn Đinh Thị B khởi kiện đề nghị Ta án xác định di sản thừa
kế; yêu cầu giao toàn bộ di sản thừa kế cho nguyên đơn quản lý; yêu cầu anh
Văn T2, anh Đinh Văn V1 phải dỡ bỏ tài sản trên đất và trả lại quyền sử dụng đất.
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ta án nhân dân Khu
vực 5 - Sơn La thụ lý, giải quyết vụ án Tranh chấp về xác định di sản thừa kế,
người quản lý di sản thừa kế là đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật.
Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn Đinh Thị B nộp đúng thời hạn quy
định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải
quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, vắng mặt bị đơn anh Văn T2, anh Đinh Văn
V1 những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Đinh Thị S, anh Đinh
Văn P1, chĐinh Thị P2, chị Đinh Thị Đ, anh Đinh Văn Q, chị Đinh ThH, chị
10
Đinh Thị H1, chị Đinh Thị H2, anh Lò Duy K, chị Lò Khánh L, chị Đinh Thị N,
cháu Đinh Thị Thanh L2, cháu Đinh Thị L1, Hoàng Thị B1 nhưng đã đơn
xin xét xử vắng mặt và ủy quyền tham gia tố tụng tại phiên ta phúc thẩm; hồ sơ
đã thể hiện đầy đủ lời khai của những người này tại cấp thẩm. Kiểm sát viên
các đương sự có mặt tại phiên toà đều đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự
nêu trên. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Ta án cấp phúc thẩm tiến
hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị B:
[2.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp các đương sự xác định do cụ Đinh Văn
cụ Hoàng Thị N1 khai phá, sử dụng. Khi ông Đinh n T4 về ở cùng hai cụ,
ông T4 đã đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
1998. Sau đó, vợ chồng ông T4, các con ông T4 hai cụ cùng sdụng đất. Năm
2007, ông Đinh Văn T4 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong
quá trình sử dụng, anh Đinh Văn P1 đã được ông T4 cho một phần đất từ diện tích
đất nêu trên; năm 2013, ông T4 đã chuyển nhượng 92,9m
2
đất cho anh Văn
N2 đến nay không có tranh chấp. Sau khi cụ N1, cvợ chồng ông T4 chết
(không để lại di chúc), vợ chồng anh Đinh Văn P (con của ông T4) là người trực
tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất tranh chấp. Anh Đinh Văn P3 được ông
C1 cho một phần diện tích đất, sau khi anh P3 chết, chị N vợ anh P3 đã chuyển
nhượng phần đất được chia cho anh Hà Văn T3, sau đó anh T3 đã cho anh Đinh
Văn T4 sử dụng làm quán. Ngoài ra, anh P đã cho anh Đinh Văn V1 mượn một
phần đất để sử dụng làm nhà xưởng.
[2.2] Xét nguồn gốc đất tranh chấp vốn của cụ Đinh Văn (chết năm
2023) cụ Hoàng Thị N1 (chết năm 2025) khai phá. Tuy nhiên, từ năm 1998,
ông Đinh Văn T4 đã tiến hành khai, đăng ký được Ủy ban nhân dân cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một cách công khai. Đến năm 2007, ông T4
tiếp tục được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích này.
Suốt quá trình từ năm 1998 cho đến khi ông T4 qua đời vào năm 2016 và sau đó
con ông T4 anh Đinh Văn P quản lý, sử dụng liên tục, cỀ, cụ N1 khi còn
sống cũng như các đồng thừa kế khác (bao gồm cả nguyên đơn bà Đinh Thị B)
đều biết việc ông T4 được cấp quyền sử dụng đất và thực hiện các quyền của
người sử dụng đất (như chuyển nhượng cho anh Hà Văn N2 năm 2013, phân chia
cho các con) nhưng không ai ý kiến khiếu nại hay tranh chấp đối với các
quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của quan Nhà nước
thẩm quyền. Điều này thể hiện ý chí của các cụ lúc sinh thời đã dịch chuyển quyền
sử dụng đất cho ông Đinh Văn T4 việc dịch chuyển này đã được pháp luật công
nhận, thiết lập bằng quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật.
[2.3] Căn cứ vào Điều 105 Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản
tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của người chết để lại tại
thời điểm họ qua đời. Do quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tranh chấp
nêu trên đã được xác lập quyền sử dụng hợp pháp cho ông Đinh Văn T4 từ năm
1998 (đã được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007) nên tại thời
điểm cụ chết (năm 2023) cụ N1 chết (năm 2025), diện tích đất này không
11
cn nằm trong khối tài sản hợp pháp của hai cụ. Vì tài sản không cn thuộc quyền
sử dụng của các cụ tại thời điểm mở thừa kế, nên không cấu thành di sản thừa kế
theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Ta án cấp sơ thẩm
nhận định diện tích đất trên không cn là di sản thừa kế của cụ Ề, cụ N1không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện xác định di sản thừa ké, yêu cầu quản lý di sản thừa
kế của nguyên đơn bà Đinh Thị B là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.4] Tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn Đinh Thị B nộp bổ sung
một số tài liệu chứng cứ gồm: Giấy ra viện của trạm y tế G ngày 23/2/2024;
các giấy xác nhận đất xác nhận của người làm chứng (ông Đinh Văn D,
Lường Thị Y, cụ Đinh Xuân H3, Đinh Thị S, ông Đinh Văn T6 được lập trong
tháng 3 và 4 năm 2026), Hội đồng xét xử xét thấy, nội dung của các văn bản xác
nhận này chủ yếu chứng minh về nguồn gốc đất ban đầu là của cụ Ề, cụ N1
hiện trạng giáp ranh. Các tình tiết này đã được các bên đương sự thừa nhận xuyên
suốt trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm nên theo quy định tại Điều 92
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đây là những tình tiết không phải chứng minh
và không làm thay đổi bản chất vụ án là quyền sử dụng đất đã được chuyển giao
hợp pháp cho ông Đinh Văn T4 từ năm 1998. Do đó, các tài liệu do nguyên đơn
giao nộp không phải là căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn
Đinh Thị B.
[2.5] Từ những nhận định, phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm giải quyết
vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Sơn La tại phiên toà đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là có sở; do đó cần
giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Ta án
nhân dân Khu vực 5 - Sơn La.
[3] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn bà Đinh Thị B người cao tuổi nên
được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm về chi phí tố tụng không
kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Đinh Thị B; giữ nguyên
Bản án Dân sự thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Ta án nhân dân
Khu vực 5 - Sơn La như sau:
Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 229; c Điều 267, 271
273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản Luật Ha giải, đối thoại tại Ta án; Điều 690
Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 2 Điều 20 Luật Đất đai năm 1993; điểm đ
khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
12
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Ta án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị B về việc: Xác định
443,33m
2
đất vườn thuộc thửa 548A 548B; 348m
2
đất trồng lúa thuộc thửa
số 400; 307,1m
2
đất trồng lúa thuộc thửa số 501; 299m
2
đất trồng lúa thuộc thửa
số 210 (đều thuộc tờ bản đồ số 29 G, tỉnh Sơn La - đkèm theo) 01
đôi hoa tai vàng là di sản thừa kế của cụ Đinh Văn Ề và cụ Hoàng Thị N1; không
chấp nhận yêu cầu giao toàn bộ di sản cho Đinh Thị B quản lý; không chấp
nhận yêu cầu buộc anh Hà Văn T2 và anh Đinh Văn V1 dỡ bỏ công trình trên đất
và trả lại đất cho bà Đinh Thị B.
2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đinh Thị B.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng không
kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 07/7/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tnh Sơn La;
- Toà án nhân dân khu vực 5;
- Phng thi hành án dân sự khu vực 5;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Phạm Tuấn Minh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 22/2026/DS-PT Bản án số 22/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/DS-PT Bản án số 22/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất