Bản án số 323/2026/DS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 323/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 323/2026/DS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 323/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 323/2026/DS-PT Bản án số 323/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 323/2026/DS-PT Bản án số 323/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 232/2026/DS-PT
Ngày 22 - 6 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Văn Toàn
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và bà Lưu Thị Thu Hường
- Thư ký phiên t: Bà Trần Thị Thu Uyên - Tký Toà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 6 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 91/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Do bản án dân sự thẩm
số: 01/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 263/2026/QĐ-PT ngày
19/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Li Huy C Nguyn Th T; Đa ch: Thôn H, Đ,
tỉnh Đắk Lk; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- B đơn: Ông Phm Xuân D bà Nguyn Th Liên N; Địa ch: Thôn Q,
Đ, tỉnh Đắk Lk. (Có mặt)
Người đại din theo y quyn ca bà Nguyn Th Liên N: Ông Phm Xuân D;
Địa ch: Thôn Q, xã Đ, tỉnh Đắk Lk. (Có mặt)
Người bo v quyn li ích hp pháp ca ông Phm Xuân D: Luật
Nguyn Huy H; Địa ch: D H, phường B, tỉnh Đắk Lk. (Vng mt)
* Người kháng cáo: Ông Phạm Xuân D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên
đơn ông Li Huy C và bà Nguyn Th T trình bày:
2
Gia đình ông bà kinh doanh phân bón và thu mua nông sản. Thông thường ông
bán n phân bón hoc cho cht phê (Hình thc cht giá, quy ra tin cho ng
tiền, giao phê sau), đến v mùa s thu n. Gia ông bà vi v chng ông bà Phm
Xuân D - Nguyn Th Liên N quan h mua bán vi nhau t năm 2017. Ông
bán n phân bón cho ông D N, hoc cho ông D N chốt phê, đến v
mùa s tính toán thanh toán vi nhau. Nếu khon n lớn hơn khon thanh toán
thì hai bên s đối chiếu lp giy biên nhn n, ông D ký xác nhn n đối vi s
n còn li ti mục “Đại diện bên B” của giy biên nhn n. Nhng giao dch phát
sinh sau khi cht n đưc ghi mt sau giy biên nhn n. Kết thúc năm 2021, ngày
28/02/2022 hai bên đã đi chiếu n với nhau xác định ông D còn n 4.039kg cà
phê nhân s tiền 125.960.000đ, ông D đã xác nhận s n ti Giy biên nhn
n đề ngày 28/02/2022. Trong năm 2022 ông D N tiếp tc mua n phân bón
vi s tiền 92.510.000đ ng thêm 500kg phê. Cuối năm 2022 đầu năm
2023 ông D tr được 200.000.000đ và 2.204kg phê nhân xô. S tin phê
ông Dương N1 tr đưc ghi trc tiếp mt sau giy biên nhn n lp ngày
28/02/2022. Kết thúc quá trình giao dịch (năm 2023) ông D và bà N còn n ông bà
s tiền 18.470.000đ 2.335kg phê nhân xô. S n này ông đã yêu cầu
nhiu lần, nhưng đến nay ông D và bà N vẫn chưa trả. Hin nay ông bà yêu cu Tòa
án buc ông D và bà N phải liên đới tr cho ông bà s n18.470.000đ (Mười tám
triệu bốn trăm bảy ơi ngàn đồng) 2.335kg (Hai ngàn ba trăm ba mươi lăm ki
lô gam) cà phê nhân xô.
- Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa bị đơn và người đại diện
theo ủy quyền của đồng bị đơn, ông Phạm Xuân D trình bày: Ông thừa nhận vợ
chồng ông và ông Li Huy C, Nguyn Th T có quan h mua bán t năm 2017. Ông
bà mua n phân bón ca ông C và bà T, hoc ng (cht) cà phê (Hình thc nhn tin
trước, giao phê sau), đến v mùa s tính toán thanh toán vi nhau. Toàn bộ quá
trình giao dịch mua bán đều do ông thực hiện. Khi ông đến chốt phê để lấy tiền
hoặc mua nợ phân bón thì ông C và T ghi số lượng chốt hoặc mua nợ và ông ký
vào bên cạnh. Sau đó vào đầu năm hoặc cuối năm dương lịch thì hai bên sẽ chốt số
nợ và ghi số nợ vào giấy biên nhận nợ. Sau khi đã chốt và ký giấy biên nhận nợ thì
các lần mua bán/chốt cà phê tiếp theo hoặc thanh toán nợ được ghi vào mặt sau của
giấy biên nhận. Các khoản nợ ứng phê mua nợ phân bón đều nhằm phục vụ
mục đích của gia đình. Ông công nhận hiện nay còn nợ ông C T số tiền
18.470.000đ (Mười tám triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).
Đối với khoản nợ cà phê thì hiện nay ông xác định là đã thanh toán đủ cho ông
C và bà T. Ông C cho rằng vợ chồng ông còn nợ 2.335kg cà phê nhân xô không
đúng, các khoản nợ không chữ của ông tại các tài liệu do nguyên đơn cung
cấp, gồm: Khoản nợ 419kg theo Giấy biên nhận nlập ngày 25/4/2018; khoản nợ
3.503kg theo Giấy biên nhận nợ lập ngày 01/12/2018, khoản nợ 1.500kg tại mục
“Chốt phê nhân 1.500kg” giấy biên nhận nngày 05/01/2021 khoản nợ
3
4.039kg phê nhân ti Giy biên nhn n lp ngày 28/02/2022. Đối với Giấy
xác nhận nợ ngày 28/02/2022, ông thừa nhận có ký vào giấy này; tuy nhiên, tại thời
điểm ký, trong giấy chưa ghi số nợ 4.039kg 2.335kg phê nhân xô, nên ông
không thừa nhận còn nợ số cà phê nêu trên.
Nay vchồng ông thừa nhận đồng ý trả số tiền 18.470.000đ. Không chấp
nhận trả 2.335kg cà phê nhân xô.
Tại Bản án dân sthẩm số 01/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng
dân sự; các Điều 351, 352, 356, 357, 430, 436, 440 Bộ luật dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại Huy C và bà Nguyễn Thị T:
Buộc ông Phạm Xuân D và Nguyễn Thị Liên N phải liên đới trả cho ông Lại
Huy C Nguyễn Thị T 18.470.000đ (Mười tám triệu bốn trăm bảy mươi ngàn
đồng) và 2.335kg (Hai ngàn ba trăm ba mươi lăm ki lô gam) cà phê nhân xô.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/02/2026, bị đơn ông Phạm Xuân D kháng cáo toàn bbản án thẩm,
đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện ca nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Ông
Phạm Xuân D thừa nhận giữa bị đơn nguyên đơn quan hệ mua bán từ năm
2017; các lần giao dịch trước đây đều được thực hiện theo cùng một phương thức
hai bên không có ý kiến, yêu cầu gì khác. Tuy nhiên, đối với giấy biên nhận nợ cuối
cùng lập ngày 28/02/2022, ông D thừa nhận có vào giấy biên nhận nợ, nhưng cho
rằng tại thời điểm ký, giấy chưa ghi số nợ cụ thể. Theo ông D, số lượng cà phê ghi
trong giấy biên nhận nợ do ông Lại Huy C và Nguyễn Thị Tình T1 ghi thêm
sau khi ông đã ký. vậy, ông D không đồng ý trả 2.335kg phê đề nghị Hội
đồng xét xphúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
4
Về tố tụng: Trong quá trình thụ giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của B luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Xuân D, giữ nguyên
Bản án thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực
10 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ vụ án, được thẩm
tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý
kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phạm Xuân D nộp trong thời
hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Nguyên đơn đơn xin xét xử vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị đơn vắng mặt nhưng gửi luận cứ bảo vệ. Tại phiên tòa, bị đơn mặt,
không đề nghị hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử đã công bố nội dung luận cứ của luật
tại phiên tòa xét thấy việc vắng mặt của những người nêu trên không gây trở
ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.
[2] Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử
thấy:
[2.1] Tại cấp thẩm trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm
Xuân D đã thừa nhận còn nợ ông C, bà T số tiền mua phân bón là 18.470.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông D, bà N trả số tiền này là có căn cứ.
[2.2] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 2.335kg cà phê nhân xô dựa vào hệ thống
sổ sách theo dõi nợ tính kế thừa từ năm 2018, phản ánh tính liên tục của chứng
cứ qua nhiều năm. Sliệu này không phải con số đơn lẻ là kết quả của quá
trình chốt nợ, cộng dồn nợ mới và khấu trừ các đợt trả hàng thực tế. Hồ sơ thể hiện
tại thời điểm đối chiếu nợ ngày 28/02/2022, ông D đã trực tiếp ký xác nhận còn nợ
nguyên đơn 4.039kg cà phê nhân xô. Đâychứng cứ trực tiếp, quan trọng nhất xác
định nghĩa vụ của bị đơn trước khi phát sinh các giao dịch cuối cùng dẫn đến tranh
chấp. Sau thời điểm chốt nợ trên, bị đơn ứng thêm 500kg và đã thực hiện 03 đợt tr
hàng vào các ngày 10/12/2022, 21/12/2022 và 13/02/2023 với tổng khối lượng
2.204kg. Các lần trả này đều được nguyên đơn thừa nhận và khấu trừ vào nợ cũ. Do
đó nguyên đơn yêu cầu thanh toán 2.335kg là sở thực tế phù hợp với các
tài liệu chứng cứ chứng minh quá trình giao dịch giữa các bên với nhau.
[2.3] Xét thấy vụ án khi thụ lý là tranh chấp hợp đồng vay, nhưng tại phiên tòa
HĐXX thẩm đã xác định lại đúng quan hệ pháp luật "Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản". Bởi bị đơn đã nhận tiền/tài sản từ nguyên đơn nhưng không thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ giao cà phê nhân đúng số lượng và thời hạn như đã cam kết
tại các biên bản chốt nợ, nên bị đơn phải chịu trách nhiệm thanh toán phần tài sản
còn thiếu. Việc Tòa thẩm buộc bị đơn trả nợ bằng hiện vật (cà phê nhân xô)
hoàn toàn đúng quy định về thực hiện hợp đồng mua bán tại các Điều 430, 436
440 Bộ luật Dân sự.
5
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Phạm Xuân D:
[3.1] Bị đơn ông Phạm Xuân D kháng cáo không đồng ý với bản án thẩm,
cho rằng ông đã thực hiện xong nghĩa vụ giao/trả cà phê cho nguyên đơn; đồng thời
cho rằng theo bảng do ông lập thì ông đã trả phê cho ông Lại Huy C,
Nguyễn Thị T nên không còn nghĩa vụ phải trả slượng 2.335kg cà phê như bản án
sơ thẩm đã tuyên.
[3.2] Xét quá trình giao dịch, các bên đều thừa nhận giữa ông Lại Huy C,
Nguyễn Thị T với ông Phạm Xuân D quan hệ giao dịch cà phê kéo dài từ khoảng
năm 2017 đến năm 2023. Quá trình giao dịch giữa các bên được thể hiện thông qua
việc giao nhận phê, đối chiếu công nợ lập các giấy biên nhận nợ qua từng năm.
Nguyên đơn trình bày hằng năm, các bên đối chiếu số cà phê ông D đã nhận, số đã
trả và số còn nợ; số còn nợ được chuyển sang giấy biên nhận nợ mới. Lời trình bày
này phù hợp với các giấy biên nhận nợ có trong hồ sơ và quá trình giao dịch thực tế
giữa các bên.
[3.3] Đối với Giấy biên nhận nợ ngày 28/02/2022, bị đơn ông Phạm Xuân D
thừa nhận chữ trên giấy chữ của mình; thừa nhận biết giấy này liên quan
đến việc giao dịch mua bán phê giữa ông với phía nguyên đơn; đồng thời thừa
nhận ông người biết đọc, biết viết trực tiếp tham gia giao dịch phê trong
nhiều năm. Ông D trình bày khi giấy không đọc kỹ nội dung do tin tưởng phía
ông C, bà T. Vì trong thời gian dài từ năm 2017 đến năm 2022, các bên đã nhiều lần
giao dịch đều thực hiện việc nhận nợ theo phương thức tương tự Giấy biên
nhận nợ ngày 28/02/2022; trong quá trình đó, các bên không ai ý kiến phản đối
cũng không phát sinh tranh chấp, nên ông D đã xác nhận công nợ. Hội đồng
xét xử xét thấy, việc ông D vào văn bản liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ công nợ
nên phải chịu trách nhiệm đối với số nợ tại giấy biên nhận nợ.
[3.4] Bị đơn không đồng ý với số nợ 4.039kg phê được ghi nhận tại Giấy
biên nhận nợ ngày 28/02/2022; đồng thời không thừa nhận số nợ còn lại 2.335kg cà
phê nguyên đơn yêu cầu thanh toán. Tuy nhiên, ông D cũng không xác định được
tại thời điểm ngày 28/02/2022 số nợ cà phê chính xác bao nhiêu; đồng thời không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào thể hiện tại thời điểm này số nợ không phải là
4.039kg. Trước khi phát sinh tranh chấp, ông D cũng không yêu cầu đối chiếu hoặc
phản đối số nợ 4.039kg phê. Do đó, lời trình bày không đồng ý với số nợ 4.039kg
của bị đơn chỉ là lời khai đơn phương, không chứng cứ để bác bỏ giá trị chứng
minh của Giấy biên nhận nợ ngày 28/02/2022.
[3.5] Đối với số nợ 2.335kg cà phê mà nguyên đơn yêu cầu, Hội đồng xét xử
thấy rằng nguyên đơn không yêu cầu ông D trả toàn bộ số nợ 4.039kg ghi tại mặt
trước Giấy biên nhận nợ ngày 28/02/2022, chỉ yêu cầu số còn nợ sau cùng
2.335kg phê. Nguyên đơn giải thích số 4.039kg số nđược chốt tại ngày
28/02/2022; sau đó ông D có 03 lần trả cà phê với tổng số lượng 2.204kg, đồng thời
3 khoản ứng thêm tổng 500kg (vào ngày 1/8/2022; 30/8/2022; 23/11/2022), nên
số còn lại được xác định là: 4.039kg + 500kg - 2.204kg = 2.335kg phê. Việc
nguyên đơn chỉ yêu cầu số nợ còn lại 2.335kg thể hiện nguyên đơn đã khấu trừ các
lần trả cà phê ca bị đơn trong số 4.039kg + 500kg cà phê.
6
[3.6] Bị đơn chỉ thừa nhận khoản nợ tiền phân bón 18.470.000 đồng ghi tại mặt
sau Giấy biên nhận nợ ngày 28/02/2022 nhưng không thừa nhận khoản nợ phê
2.335kg ng được ghi nhận tại mặt sau. Hội đồng xét xử thấy rằng hai khoản này
đều được ghi nhận trên cùng tài liệu, trong cùng quá trình theo dõi công ngiữa các
bên. Bị đơn không đưa ra được căn cứ khách quan để lý giải vì sao khoản tiền phân
bón thì được thừa nhận, còn khoản nợ cà phê lại bị phủ nhận.
[3.7] Đối với lập luận cho rằng đã trả hết nợ, bị đơn thừa nhận có 03 lần trả cà
phê sau ngày 28/02/2022 vào các ngày 10/12/2022, 21/12/2022 13/02/2023, tổng
cộng 2.204kg. Tuy nhiên, sau ngày 13/02/2023, bị đơn không cung cấp được chứng
từ nào chứng minh đã trả thêm cà phê cho nguyên đơn; các bên cũng không lập biên
bản tất toán, biên bản đối chiếu công nợ hoặc giấy xác nhận hết nợ. Ngược lại,
nguyên đơn xác định sau lần trả cuối ngày 13/02/2023, bị đơn vẫn còn nợ 2.335kg
phê; nguyên đơn đã nhiều lần điện thoại, tìm gặp yêu cầu bị đơn thanh toán nhưng
bị đơn né tránh. Trước khi nguyên đơn khởi kiện, bị đơn không ý kiến phản đối
số nợ này, cũng không yêu cầu đối chiếu lại công nợ. Việc bị đơn cho rằng đã trả
hết nợ, nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình
nên không có căn cứ chấp nhận.
[3.8] Đối với bảng do bị đơn lập ngày 11/12/2025, sau khi phát sinh tranh
chấp; bảng được lập dựa trên các giấy biên nhận ndo phía nguyên đơn cung
cấp; bị đơn không lưu giữ tài liệu, chứng cứ gốc nào khác. Bảng này không
xác nhận của ông Lại Huy C hoặc Nguyễn Thị T, không được nguyên đơn thừa
nhận không chứng cứ độc lập kèm theo để chứng minh nội dung bảng
chính xác. Do đó, bảng kê do bị đơn tự lập chỉ là tài liệu thể hiện ý kiến đơn phương
của bị đơn, không đủ căn cứ để bác bỏ các giấy biên nhận nợ và quá trình đối chiếu
công nợ đã được thể hiện trong hồ sơ.
[3.9] Bị đơn cho rằng theo bảng do mình lập thì đã trả cà pcho nguyên
đơn. Tuy nhiên, bị đơn không biết mình trả dư, không yêu cầu nguyên đơn trả lại cà
phê, trả lại tiền hoặc lập giấy xác nhận nguyên đơn nợ ngược lại. Bị đơn cũng không
yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập buộc nguyên đơn trả lại số phê bị
đơn cho rằng đã trả dư. Ý kiến cho rằng đã trả một số lượng phê lớn nhưng
không có yêu cầu hoàn trả, không có giấy xác nhận nợ ngược lại và vẫn tiếp tục ký
các giấy biên nhận nợ qua các năm không phù hợp với diễn biến giao dịch mua
bán cà phê có giá trị lớn và kéo dài nhiều năm.
[3.10] Đối với các giấy biên nhận nợ các năm 2018, 2019, 2020, 2021, nguyên
đơn trình bày đây các tài liệu thể hiện quá trình giao dịch chốt công nợ từng
năm; sau mỗi năm, số lượng phê ông D n nợ được tính toán chuyển sang
giấy biên nhận nợ mới; đến năm 2022, các khoản nợ cũ đã được tổng hợp, đối chiếu
và chuyển thành số nợ 4.039kg ghi tại Giấy biên nhận nợ ngày 28/02/2022.
[3.11] Đối với luận cứ bảo vệ của Luật Nguyễn Huy H, Hội đồng xét xử thấy
rằng các nội dung luật nêu đã được xem xét, đánh giá trong các phần nhận định
trên. Bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh đã trả hết nợ
hoặc nguyên đơn còn nợ ngược lại bđơn. Do đó, luận cứ của người bảo vquyền
và lợi ích hợp pháp của bị đơn không có căn cứ làm thay đổi nội dung vụ án; không
có cơ sở chấp nhận đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
7
[3.12] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định ông
Phạm Xuân D còn nợ ông C, bà T số lượng cà phê nhân 2.335kg. Tòa án cấp
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ
đối với số cà phê còn thiếu là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn không xuất trình
được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình.
Do đó, kháng cáo của bị đơn ông Phạm Xuân D không căn cứ nên không
được chấp nhận;
[4] Xét thấy, quyết định của Bản án dân sự thẩm số 01/2026/DS-ST ngày
22/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 Đắk Lắk về việc chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Xuân D. Giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án nhân
dân khu vực 10 – Đắk Lắk.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phạm Xuân D phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Xuân D. Giữ nguyên Bản án
dân sự thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực
10 Đắk Lắk.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại Huy C và bà Nguyễn Thị T:
Buộc ông Phạm Xuân D và Nguyễn Thị Liên N phải liên đới trả cho ông Lại
Huy C và Nguyễn Thị T số tiền 18.470.000đ (Mười tám triệu bốn trăm bảy mươi
ngàn đồng) và 2.335kg (Hai ngàn ba trăm ba mươi lăm ki lô gam) cà phê nhân xô.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015.
[2] V án phí:
- Án phí dân s thẩm: Ông Phạm Xuân D Nguyễn Thị Liên N phải
nộp 12.598.500đ (Mười hai triệu năm trăm chín mươi tám ngàn năm trăm đồng) án
phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Lại Huy C Nguyễn Thị T số tiền 7.050.000đ (Bảy triệu
không trăm năm ơi ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 10 – Đắk Lắk theo biên lai số 0001631 ngày 07/10/2025.
- Án phí dân s phúc thm: Ông Phạm Xuân D phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng
8
tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0001634 ngày 06/02/2026 tại Phòng
Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Đắk Lắk.
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND KV10 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS KV10 - Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trịnh Văn Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 323/2026/DS-PT Bản án số 323/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 323/2026/DS-PT Bản án số 323/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất