Bản án số 369/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 369/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 369/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 369/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Văn Đ; giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 110/2025/DS-ST ngày 24/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 369/2026/DS-PT Bản án số 369/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 369/2026/DS-PT Bản án số 369/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 369/2026/DS-PT
Ngày: 30-6-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng Dân sự
vay tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Thành Trung
Ông Dương Hà Ngân
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Hoàng Thị Hằng
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 23 30 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án n sự số 294/2026/TLPT-DS ngày
15 tháng 5 năm 2026 về tranh chấp: “Hợp đồng Dân sự vay tài sản”.
Do Bn án Dân s thẩm s 110/2025/DS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2025
ca Toà án nhân dân khu vc 4 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 376/2026/QĐ-PT ngày 26
tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 316/2026/QĐ-PT ngày
16 tháng 6 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số
349/2026/QĐ-PT ngày 23/6/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Hoàng Thị N, sinh năm: 1985; địa chỉ: số E, đường N,
phường A, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Mai C, sinh năm: 1985; địa chỉ: số
C, đường L, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền
(Văn bản ủy quyền số 007352, quyển số 05/2025 TP/CC-SCC/HĐGD do n
phòng C1 chứng nhận ngày 05/5/2025), có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Huỳnh
Phước H, sinh năm: 1979. Luật sư của Công ty L1 - Đoàn Luật Thành phố H;
2
địa chỉ: số C, đường L, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, mặt tại phiên tòa
ngày 23/6/2026; xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 30/6/2026.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1947; địa chỉ: xóm I, thôn G, B,
tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Minh Văn T, sinh năm: 1971; địa chỉ: thôn A,
T, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số
1973/2026/CCGD do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 19/6/2026), có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Văn phòng C3; địa chỉ: số D, đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị T1, là người đại diện theo pháp luật
(Trưởng Văn phòng), vắng mặt.
2/ Ông Đinh Văn T2; địa chỉ: xóm D, xã B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
3/ Ông Phạm Duy P; địa chỉ: số A, đường N, phường B B, tỉnh Lâm Đồng,
vắng mặt.
4/ Ông Nguyễn Sơn H1, sinh năm: 1947; địa chỉ: số C, đường N, khu phố M,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
5/ Ông Đ1, sinh năm: 1968; địa chỉ: số A, đường T, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
6/ Ông Công H2, sinh năm: 1972; địa chỉ: số A, đường N, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
7/ Chu Thị V, sinh năm: 1977; địa chỉ: tổ dân phố H, phường T, Thành
phố Hà Nội, vắng mặt.
8/ Ông Nguyễn Đình T3, sinh năm: 1965; địa chỉ: số A, đường P, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
9/ Ông Phan Thành P1, sinh năm: 1987; địa chỉ: số C, ngõ A, phố P, phường
G, quận L (nay là phường V), Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
10/ Ông Nguyễn Văn Q; địa chỉ: số F, ngõ G, phường B, Thành phố Nội,
vắng mặt.
Người kháng cáo: Hoàng Thị N Nguyên đơn; ông Nguyễn Văn Đ Bị
đơn.
NI DUNG V ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 06/12/2023 của Hoàng Thị N, lời
trình bày tại các bản tự khai và trong qtrình tham gia tố tụng tại giai đoạn
thẩm của chị Nguyễn Thị Mai C, người đại diện theo ủy quyền của N, thì: do
quen biết nhau nên ngày 19/01/2017 ông Nguyễn Văn Đ vay của Hoàng Thị
N số tiền 900.000.000đ, lãi suất 01%/tháng, thời hạn vay 12 tháng tính từ ngày
19/01/2017; hai bên đã lập hợp đồng vay tiền không có biện pháp bảo đảm và được
3
công chứng tại Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 001427,
quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD, trước mặt công chứng viên, ông Đ thừa nhận đã
nhận đủ tiền của N. Tuy nhiên, đến nay ông Đ vẫn chưa trả cho N bất kỳ
khoản tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận của hợp đồng. Mặc N đã nhiều lần
gặp và yêu cầu ông Đ thanh toán. Ngày 10/11/2023 bà N gửi thông báo đòi nợ đến
địa chỉ trú của ông Đ, ông Đ đã nhận được thông báo của N vào ngày
11/11/2023 nhưng đến nay ông Đ vẫn không trả tiền gốc và tiền lãi.
Do đó N đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc ông Nguyễn
Văn Đ phải trách nhiệm trả cho tiền vay gốc lãi suất phát sinh tổng
1.645.200.00 (trong đó tiền nợ gốc là 900.000.000đ; tiền lãi tính đến ngày
13/12/2023 là 745.200.000đ).
- Theo nội dung đơn phản tố ngày 02/01/2024 của ông Nguyễn Văn Đ, lời
trình bày tại các bản tự khai và trong qtrình tham gia tố tụng tại giai đoạn
thẩm của ông Minh Văn T, người đại diện theo ủy quyền của ông Đ, thì: Bà Hoàng
Thị N khởi kiện ông Đ theo hợp đồng vay tiền không biện pháp bảo đảm ngày
19/01/2017 được công chứng tại Văn phòng C3 thì ông Đ không đồng ý đây
hợp đồng “khống” để làm bằng chứng về việc Hoàng Thị N đứng ra lo vụ án khi
Tòa án xét xử phúc thẩm tuyên 02 căn nhà phố của ông Đ. Vụ án này N bỏ
tiền ra để lo khi thắng kiện thì ông Đ sẽ đưa cho bà N 900.000.000đ theo hợp đồng
công chứng nhưng vụ kiện không thắng như thỏa thuận, khi hợp đồng vay tiền
không biện pháp bảo đảm mặt ông Đ, N ông Phan Thành P1. Do
Hoàng Thị N chưa đưa số tiền 900.000.00cho ông Đ nên ông không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đồng thời, ông Đ đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Hoàng
Thị N phải trách nhiệm trả lại cho ông số tiền 1.500.000.000đ yêu cầu tính
lãi theo lãi suất của Ngân hàng kể từ ngày 04/7/2018 đến khi xét xử xong vụ án, cụ
thể ông hợp đồng đặt cọc căn ntại thửa 586, tờ bản đồ 24 thôn D, L,
huyện B (nay là xã B), tỉnh Lâm Đồng của ông Nguyễn Sơn H1 với giá
3.500.000.000đ; đã đặt cọc trước 100.000.000đ, thỏa thuận đến ngày 02/7/2018
phải trả tiếp số tiền còn lại nếu không thì bên mua sẽ bị mất tiền cọc, ngày
01/7/2018 do ông không đủ tiền để mua căn nhà nói trên nên ông gọi điện thoại
cho bà N kể hết vấn đề không đủ tiền mua nhà của ông H1, bà N đã dẫn ông Phạm
Duy P là Phó Giám đốc Ngân hàng N2 (A); địa chỉ: quốc lộ B, thôn C, xã L, huyện
B, tỉnh Lâm Đồng đến gặp ông Đ, ông P xem nhà, quyền sử dụng đất do N làm
môi giới đchuyển nhượng cho ông P, ông P đồng ý nhận chuyển nhượng với giá
5.300.000.000đ lời được 1.800.000.000đ với 100.000.000đ đặt cọc thành
1.900.000.000đ. Ông H1 đã nhận đủ số tiền 3.400.000.000đ vào ngày 04/7/2018 và
đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phạm Duy P; được
công chứng tại Văn phòng C4. Số tiền lời được 1.900.000.000đ ông Đ đã nhờ bà N
trả cho ông T2 400.000.000đ ông vay trước đó; số tiền 1.500.000.000đ còn lại
4
N không trả lại cho ông. Do vậy ông yêu cầu N phải trả cho ông số tiền
1.500.000.00tiền lãi phát sinh tngày 04/7/2018 đến 04/7/2025 (84 tháng)
theo mức lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền 1.045.800.000đ. Tổng số tiền
Hoàng Thị N phải trả cho ông là 2.545.800.000đ. Yêu cầu hủy hợp đồng vay tài
sản không có biện pháp bảo đảm tại Văn phòng C3.
- Tại biên bản lấy lời khai và văn bản trình bày của bà Hoàng Thị N thì: Ngày
19/01/2017 tại Văn phòng C3, ông Nguyễn Văn Đ kết hợp đồng vay
tiền không biện pháp bảo đảm số công chứng 001427, quyển số 01 TP/CC-
SCC/HĐGD với số tiền cho ông Đ vay 900.000.000đ, lãi suất 01%/tháng, thời
hạn vay 12 tháng tính từ ngày 19/01/2017. Do ông Đ nêu mục đích vay là để
thanh toán chi phí thuê luật sư trong các vụ án nhân nên nhằm đảm bảo khoản
vay được sử dụng đúng mục đích để bảo vệ quyền lợi của mình, thanh toán
tiền cho các luật sư theo yêu cầu ông Đ, không tý thực hiện chỉ thay mặt
ông Đ chi trả từ khoản vay hai bên đã thỏa thuận, theo đó nhờ ông Phan
Thành P1 chuyển 50.000.00vào tài khoản Công ty L1, đến ngày 21/02/2017
cùng ông P1 ông Nguyễn Văn Đ gặp ông Đ1 để trao đổi thêm về quá
trình thanh toán hợp đồng dịch vụ pháp lý của ông Đ với Công ty luật Chu Vân
R nhờ ông P1 chuyển 650.000.000đ theo schỉ đạo của ông Đ vào tài khoản
của ông Đ1 trước khi mở phiên tòa đã thanh toán 200.000.000đ còn lại cho
Công ty luật Chu Vân R nhưng không có chứng từ cung cấp, theo yêu cầu của ông
Đ bà đã thanh toán 60.000.000đ cho Công ty L1 để hỗ trợ thêm pháp lý cho ông Đ
thỏa thuận Luật tham gia ván Hình sự, thanh toán cho luật Nguyễn
Đình T3 100.000.000đ trong vụ án hình sự “Giao cấu với trẻ em” ông Đ đang
là bị can được ông T3 xác nhận đã nhận số tiền 100.000.000đ nhưng không có hợp
đồng, giấy biên nhận đã lâu bị mất không cung cấp được. Nên việc ông Đ vay bà là
để trả khoản thuê Luật 900.000.000đ theo hợp đồng vay nhưng thực tế số tiền
bà trả nhiều hơn nhưng không có hóa đơn.
- Tại văn bản ghi ngày 18/3/2025, Văn phòng công chứng Nguyễn ThT1
trình bày: Việc N ông Đ hợp đồng vay tiền không biện pháp bảo đảm
đối với số tiền nêu trên được Văn phòng C3 chứng nhận ngày 19/01/2017, số ng
chứng 001427, hai bên đã xuất trình đầy đủ giấy tờ liên quan, việc công chứng hai
hợp đồng nêu trên là đúng trình tự thủ tục quy định pháp luật. Văn phòng công
chứng xin vắng mặt tất cả quá trình tố tụng và xét xử kết thúc vụ án.
- Tại văn bản ghi ngày 13/9/2024 ông Đinh Văn T2 trình bày: Ông không liên
quan đến việc tranh chấp hợp đồng Dân sự vay tài sản giữa bà Hoàng Thị N và ông
Nguyễn Văn Đ, ngoài ra ông không bất kỳ yêu cầu độc lập nào trong vụ án nêu
trên. Ông xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp, phiên hòa giải, phiên
tòa xét xử các cấp.
5
- Tại đơn đề nghị ghi ngày 13/10/2025 ông Nguyễn Sơn H1 trình bày:
do công việc nên ông không thể đến Tòa án làm việc, ông xin đề nghị vắng mặt tất
cả các phiên xét xử tại Tòa án. Ông cam đoan không liên quan đến hợp đồng Dân
sự vay tài sản giữa ông Đ và bà N.
- Tại văn bản ghi ngày 21/10/2025 ông Phan Thành P1 trình bày: Ngày
08/6/2025 ông lời khai gửi Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm (nay Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng) ông có nghe nói N dùng s tiền
900.000.000đ chuyển cho Luật sư tham gia vụ án phúc thẩm thụ số
177/2015/TLPT-DS ngày 10/8/2015 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh đối với ván: “Tranh chấp đòi tài sản” do Bản án Dân ssơ thẩm
số 03/2015/DS-ST ngày 15/5/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng
cáo. Nay ông xin xác nhận lại sự việc như sau: ngày 23/12/2016 Hoàng Thị N
giao cho ông 50.000.000đ để thanh toán pdịch vụ cho ng ty L1 theo hợp
đồng dịch vpháp Luật tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
ông Nguyễn Văn Đ cấp phúc thẩm, đến ngày 21/02/2017 ông ng Hoàng
Thị Nông Nguyễn Văn Đ gặp ông Lê Bá Đ1 để trao đổi về vụ án thanh toán
phí dịch vụ tiếp theo cho Công ty L1 trách nhiệm hữu hạn Chu Vân R. Sau khi gặp
ông Đ1, bà Hoàng Thị N có giao cho ông 650.000.000đ để nhờ đến ngân hàng nộp
vào tài khoản của ông Đ1 theo yêu cầu của N đã giao lại các phiếu
nộp tiền bản gốc cho bà Hoàng Thị Ngọc G. Số tiền 700.000.000đ bà Hoàng Thị N
giao cho ông để thanh toán chi phí cho Luật cho ông Đ. Do khoảng cách địa
lý, bận nhiều việc nhân nên ông xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm
việc, hoà giải, phiên toà xét xử sơ thẩm, phiên toà xét xử phúc thẩm của vụ án trên.
- Tại lời trình bày của Chu Thị V thì: nhận được giấy triệu tập của Tòa
án; theo nội dung của giấy triệu tập thì bà là người liên quan trong vụ án tranh chấp
hợp đồng Dân sự vay tài sản giữa Hoàng Thị N và ông Nguyễn Văn Đ. Tuy
nhiên, việc tranh chấp nói trên là việc của cá nhân của bà N và ông Đ, bà hoàn toàn
không liên quan đồng thời cũng không bất kỳ tranh chấp nào với ông Đ, N,
do đó không để trình bày. Do bận nhiều việc đề nghị Tòa án giải quyết
vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hoà giải, phiên toà xét xử thẩm, phúc
thẩm vụ án trên.
- Tại Văn bản ghi ngày 07/11/2025, ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ngày
31/10/2017 Công ty L1 do ông đại diện hợp đồng dịch vụ pháp số
31/HĐDVPL với Hoàng Thị N, theo thoả thuận của hợp đồng thì N yêu cầu
Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn hãng luật Hưng Yên tham gia tố tụng, bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn Đ, cha nuôi của N, tại cấp
phúc thẩm tại Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vụ án
dân sự “Đòi tài sản” mà ông Nguyễn Văn Đ nguyên đơn, theo thoả thuận thì thù
lao thuê luật sư 60.000.000đ; Hoàng Thị N đã thanh toán toàn bộ số tiền thù
lao 60.000.000đ cho Công ty. Về phía Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Hãng
6
luật L1 cũng cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông
Nguyễn Văn Đ trong vụ án nêu trên đúng theo hợp đồng dịch vụ pháp hai
bên đã kết. Hai bên đã thực hiện đầy đủ các quyền nghĩa vụ của mình theo hợp
đồng nên đồng đã chấm dứt hiệu lực. Ông đnghị giải quyết vắng mặt trong tất cả
các buổi làm việc, hoà giải, phiên toà xét thẩm, phúc thẩm vụ án trên.
- Tại Văn bản ghi ngày 29/11/2025, ông Nguyễn Đình T3 trình bày: Ông
luật bào chữa chính trong vụ án “Giao cấu với trẻ em” cho ông Nguyễn Văn Đ,
sinh năm 1947. Ngày 10/12/2017 ông nhận của Hoàng Thị N 100.000.000đ
để thanh toán đi lại cho 11 luật bào chữa cho ông Đ bị Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Lâm Đồng truy tố về tội giao cấu với trẻ em, ông và các luật sư đã tham gia tố
tụng bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn Đ trong vụ án nêu
trên, kết quả giải quyết ông Đ được miễn trách nhiệm Hình sự, ông đề nghị Tòa
án giải quyết vắng mặt tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm.
- Theo lời trình bày của ông Phạm Duy P thì: Việc tranh chấp hợp đồng vay
tài sản giữa Hòa N1 ông Đ thì nhân ông không liên quan, đồng thời ông
không bất kỳ tranh chấp nào với ông Đ nên xin vắng mặt tất cả các buổi làm
việc cũng như xét xử của Tòa án.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành:
Tại Bản án số 110/2025/DS-ST ngày 24/12/2025, Tòa án nhân dân khu vực 4
Lâm Đồng đã xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị N đối
với khởi kiện yêu cầu tiền lãi phát sinh là 745.000.000đ.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Ngọc B ông
Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Hoàng Thị N số tiền 700.000.000đ.
3. Không chấp nhận một phần khởi kiện của bà Hoàng Thị Ngọc K vay
200.000.000đ.
4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ.
Bị đơn quyền yêu cầu khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định
pháp luật.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo trách nhiệm thi
hành án của các đương sự.
Ngày 08/01/2026 bà Hoàng Thị N kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án
để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà. Ngày 14/01/2026 ông Nguyễn Văn
Đ, ông Minh Văn T, người đại diện theo ủy quyền của ông Đ kháng cáo một
phần Bản án thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng tuyên hợp
đồng vay tài sản hiệu không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
7
Hoàng Thị N, buộc ông Nguyễn Văn Đ phải nghĩa vụ thanh toán cho N số
tiền 700.000.000đ.
Tại phiên tòa,
Ông Nguyễn Văn Đ, ông Minh Văn T, người đại diện theo ủy quyền của ông
Đ, vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên Bản án Dân sự
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng o của bà Hoàng Thị N, ông
Nguyễn Văn Đ; thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều
271, 272, 273 Bộ luật Ttụng Dân sự nên đủ điều kiện đHội đồng xét xử xem
xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của Hoàng Thị N thì thấy rằng: Tại hợp đồng vay tiền
không biện pháp bảo đảm giữa Hoàng Thị N ông Nguyễn Văn Đ được
Văn phòng C3 chứng nhận số 001427, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
19/01/2017, theo đó N cho ông Đ vay số tiền 900.000.000đ, thời hạn vay 12
tháng kể từ ngày hợp đồng, mục đích vay để kinh doanh, lãi suất 1%/tháng
được thanh toán vào ngày 18 dương lịch mỗi tháng.
Theo N trình bày thì việc ông Đ hợp đồng vay tiền nói trên để
đảm bảo khoản vay do hai bên thỏa thuận bà sẽ thanh toán các khoản thuê Luật sư.
Mặc ông Đ hợp đồng vay tiền nhưng không giao tiền cho ông Đ giữ
lại để trả tiền thuê Luật thay cho ông Đ khi các Luật sư này tham gia bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho ông Đ trong vụ án Dân s“Đòi tài sản” bào
chữa cho ông Đ trong vụ án Hình sự “Giao cấu trẻ em”. Ông Đ cũng cho rằng
không nhận tiền trực tiếp từ bà N theo hợp đồng vay tiền nói trên. Tuy nhiên, dù bà
N thanh toán tiền cho Luật trong vụ án “Kiện đòi tài sản” nhưng do không
thắng kiện nên ông không đồng ý trả lại tiền cho N.
Như vậy, giữa bà N ông Đ hợp đồng vay tiền với nội dung ông Đ
vay của bà N 900.000.000đ, tuy nhiên N và ông Đ đều thừa nhận thực tế hai bên
không tiến hành giao nhận tiền theo hợp đồng vay tiền này mà việc hai bên ký hợp
đồng vay là để làm cơ sở cho bà N thanh toán tiền thuê Luật sư nhằm bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp cho ông Đ đối với vụ án Dân sự mà ông Đ nguyên đơn, vấn
đề này được các bên đương sự thừa nhận.
8
[3] Xét thấy, giữa ông Nguyễn Văn Đ ông Đ1 hợp đồng dịch
vụ, theo đó “ông Đ1 đồng ý tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh với cách người đại diện theo ủy quyền trong vụ án
“Kiện đòi tài sản”, trên sở Bản án số 03/2015/DS-ST ngày 15/5/2015 của Tòa
án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, thù lao của hợp đồng 900.000.000đ với điều kiện
ông Đ thắng kiện không phải trả lại tiền cho Nguyễn Thị Thu T4 ông Phan
Thanh L...”.
Tại giấy nộp tiền ngày 21/02/2017 tại Ngân hàng S, Phòng G1 (BL 589) thể
hiện “Người nộp tiền Phan Thành P1 chuyển tiền cho ông Lê Bá Đ1 với nội dung:
ông Nguyễn Văn Đ chuyển tiền theo hợp đồng dịch vụ đòi lại tài sản trên sở
Bản án số 03/2015/DS-ST ngày 15/5/2015, số tiền 650.000.000đ (BL 522)”.
Tại giấy biên nhận ngày 24/02/2017 (BL 590) thể hiện “Tôi Lê Bá Đ1 ông
Công Hoàng H2...chúng tôi nhận của ông Nguyễn Văn Đ ..Nay tôi nhận số
tiền của bác Đ 650.000.000đ để làm theo hợp đồng dịch vụ ngày 28/12/2016
hợp đồng ủy quyền ngày 28/12/2016. Nếu không thực hiện được như trong giấy ủy
quyền, thời hạn là 60 ngày thì tôi Lê Bá Đ1 và Lê Công Hoàng H2 hoàn lại số tiền
cho bác Đ”.
Phiếu thu ngày 23/12/2016 của Công ty Luật trách nhiện hữu hạn Chu Vân R
thể hiện (BL 588) “người nộp Phan Thành P1 cho Công ty số tiền 50.000.000đ”.
Tại Văn bản xác nhận đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 21/10/2025 (BL
560) ông Phan Thành P1 trình bày: “...Ngày 23/12/2016 Hoàng Thị N giao
cho tôi stiền 50.000.000đ để tôi thanh toán phí dịch vụ cho Công ty L1 (Đoàn
Luật Thành phố H) theo hợp đồng dịch vụ pháp luật tham gia bảo vệ
cho ông Đ đối với Bản án số 03/2015/DS-ST ngày 15/5/2015 (ông Đ kháng cáo).
Ngày 21/01/2017 tôi cùng N ông Đ gặp ông Đ1 để trao đổi về vụ án
thanh toán pdịch vụ tiếp theo cho Công ty L1 trách nhiệm hữu hạn Chu Vân
R. Sau khi gặp ông Đ1, N giao cho tôi 650.000.000đ để tôi đến Ngân hàng
nộp vào tài khoản của ông Đ1, trong cùng ngày 21/01/2017 tôi nộp số tiền
650.000.000đ vào tài khoản của ông Đ1 theo yêu cầu của N, sau khi nộp tiền
tôi đã giao các phiếu nộp tiền gốc cho N cất giữ. Toàn bộ số tiền 700.000.000đ
nêu trên tiền của N cho ông Đ vay tiền để thanh toán phí luật cho ông Đ
trong vụ án Dân sự nêu trên...”.
Đồng thời, tại Thông báo ngày 10/10/2017 (BL 606) thể hiện “Tôi tên
Nguyễn Văn Đ...tôi gửi thông báo này đến Luật Chu Thị V Giám đốc Công ty
Luật trách nhiệm hữu hạn Chu Vân R ông Đ1 - Đại diện Công ty..Ngày
15/12/2016 tôi có làm đơn yêu cầu luật sư để ông Đ1V tham gia bảo vệ cho
tôi theo Bản án số 03/2015/DS-ST ngày 15/5/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng (chưa hiệu lực). Ngày 28/12/2016 tôi hợp đồng với ông Đ1
ủy quyền, thù lao 900.000.000đ, nếu trong vòng 60 ngày kể tngày tôi ủy
9
quyền (tức ngày 28/12/2016 đến ngày 28/02/2017) nếu ông Đ1, V không thực
hiện như đã thỏa thuận thì phải trả lại số tiền đã nhận cho tôi. Ngày 23/12/2016
các cháu tôi Phan Thành P1, Hoàng Thị N giao cho ông Công Hoàng H2
50.000.000đ...Ngày 24/02/2017 tôi gặp ông Đ1 ông H2 bàn giao số tiền
650.000.000đ bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng cho đại diện Công ty
của bà, tiếp đó ông Đ1 đã chuyển khoản cho ngày 27/02/2017 đã
phiếu thu cho tôi (có biên lai)...Do đó tôi làm thông báo này gửi đến bà, yêu cầu
bà thanh toán cho tôi số tiền 700.000.000đ đã nhận”.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ thừa nhận có ký vào giấy vay tiền nói trên
nhưng không được nhận tiền; còn số tiền N đã thanh toán cho các Luật
thì ông không biết, không liên quan, những số tiền này không phải của ông
dùng trả cho các Luật sư này. Tuy nhiên; theo hồ sơ thể hiện thì có việc ông Đ yêu
cầu Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Chu Vân R ông Đ1 - Đại diện
Công ty tham gia bảo vệ cho ông theo Bản án s03/2015/DS-ST ngày 15/5/2015
của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng (chưa hiệu lực). Ngày 28/12/2016 ông Đ
hợp đồng với ông Đ1 ủy quyền, thù lao là 900.000.000đ, thỏa
thuận nếu trong vòng 60 ngày kể từ ngày ủy quyền (tức ngày 28/12/2016 đến ngày
28/02/2017) nếu ông Đ1, bà V không thực hiện như đã thỏa thuận thì phải trả lại số
tiền đã nhận cho ông Đ. Trong thực tế N đã thanh toán chi phí Luật cho ông
Đ đối với sự việc nói trên, do vậy việc ông Đ thoái thác trách nhiệm đối với nghĩa
vụ thanh toán tiền thù lao cho các Luật N đã yêu cầu bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp cho ông Đ không căn cứ, cũng không phù hợp với thực tế cũng
như phạm trù đạo đức và mối quan hệ giữa bà N và ông Đ.
[5] Tại hợp đồng dịch vụ pháp số 31/HDDVPL ngày 31/10/2017 thể hiện
giữa N Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 hợp đồng dịch vụ pháp (BL
593) thể hiện nội dung “Xuất phát từ việc ông Nguyễn Văn Đ là bố nuôi của khách
hàng nhu cầu nhờ hãng luật Hưng Yên cử luật Nguyễn Văn Q bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp cho ông Đ trong vụ kiện Dân sự phúc thẩm tại Tòa án nhân
dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Đ là nguyên đơn trong vụ án Dân sự
thẩm “Đòi tài sản” trong suốt quá trình xét xử...Thù lao luật thanh toán:
Không phụ thuộc vào kết quả giải quyết vụ án, các bên thỏa thuận thù lao Luật
trọn gói cho toàn bộ các công việc được quy định tại Điều 1 của Hợp đồng này
60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), chưa bao gồm 10% thuế GTGT. Khoản thù lao
cho Luật nói trên được khách hàng thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển
khoản qua Ngân hàng, chủ tài khoản: Hãng luật Hưng Yên, số tài khoản
0531002478647, Ngân hàng N3 (V1)...”.
Tại phiếu thu ngày 31/10/2017 (BL 587) thể hiện “Người nộp tiền Hoàng
Thị N tạm ứng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 theo hợp đồng pháp số
31/HDDVPT số tiền 10.000.000đ”.
10
Tại Văn bản trình bày của ông Nguyễn Văn Q (BL 498) thể hiện nội dung
“Ngày 31/10/2017 Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hãng luật L1 do tôi (Nguyễn
Văn Q) người đại diện hợp đồng dịch vụ số 31/HDDVPT với Hoàng
Thị N, theo thỏa thuận của hợp đồng thì N yêu cầu thuê Công ty Luật trách
nhiệm hữu hạn hãng luật Hưng Yên tham gia ttụng bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho ông Nguyễn Văn Đ (bố nuôi của N) cấp phúc thẩm với cách
nguyên đơn trong vụ “Đòi tài sản”. Theo thỏa thuận thì thù lao luật sư là
60.000.000đ, N đã thanh toán toàn bộ số tiền 60.000.000đ cho Công ty luật
trách nhiệm hữu hạn hãng luật L1, Công ty đã cử Luật tham gia tố tụng bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho ông Đ trong vụ án nói trên theo thỏa thuận tại hợp
đồng dịch vụ pháp hai bên đã kết, hai bên đã thực hiện đầy đủ các quyền
và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng nên hợp đồng đã chấm dứt hiệu lực...”.
Quá trình giải quyết ván ông Đ cho rằng ông không nhờ N thuê luật
nên không đồng ý với số tiền 60.000.000đ thuê luật sư nói trên. Mặc dù ông Q thừa
nhận đã nhận số tiền này của N, tuy nhiên không hợp đồng dịch vụ pháp lý,
hơn nữa ông Đ không thừa nhận nhờ N thuê luật Q nên cấp thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N đối với số tiền này là phù hợp.
[6] Đối với số tiền 100.000.000đ N trình bày thanh toán cho Luật
Nguyễn Đình T3 (Văn phòng L2, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H), ông T3 có xác
nhận đã nhận số tiền 100.000.000đ (BL 515). Tại giấy xác nhận (BL 515) thể hiện
“Tôi tên Nguyễn Đình T3...Vào năm 2017 tôi có nhận của chị Hoàng Thị N số tiền
100.000.000đ để thanh toán các khoản thuê Luật tham gia bảo vệ cho ông
Nguyễn Văn Đ bị truy tố về tội “Giao cấu với trẻ em” vụ án đã được Tòa án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng giải quyết tại Bản án số 15/2018/HS-ST ngày
12/5/2018”.
Quá trình giải quyết vụ án ông Đ cho rằng ông Đ không nhờ N thuê Luật
nên ông không đồng ý với số tiền 100.000.00thuê Luật sư nói trên. Xét thấy,
đối với số tiền này mặc ông T3 thừa nhận đã nhận số tiền này của N, tuy
nhiên không có hợp đồng dịch vụ pháp lý, hơn nữa ông Đ không thừa nhận nhờ
N thuê Luật sư đối với số tiền này nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của bà N.
Do đó Tòa án cấp thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khỏi kiện của N,
buộc ông Đ phải trách nhiệm trả cho N số tiền 700.000.000đ căn cứ
chấp nhận.
[7] Đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ thì thấy rằng: trên thực tế giữa
N ông Đ hợp đồng vay tiền không biện pháp bảo đảm với số tiền vay
900.000.000đ, tuy nhiên N ông Đ thừa nhận thực tế hai bên không tiến
hành giao nhận tiền theo hợp đồng vay tiền này thực tế ông Đ vay tiền của
N để N thanh toán tiền thuê Luật nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
11
cho ông Đ trong vụ án Dân sự tại Tòa án xảy ra trong thực tế. Như trên đã
phân tích, do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông Đ có trách
nhiệm trả cho N stiền 700.000.000đ nên việc ông Đ kháng cáo không
căn cứ chấp nhận.
[8] Từ những phân tích trên, nguyên đơn bị đơn đơn kháng cáo nhưng
không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới so với các tài liệu, chứng cứ đã
được cấp thẩm thu thập để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên không
căn cứ để chấp nhận kháng cáo của N ông Đ; cần giữ nguyên Bản án
thẩm.
[9] Các phần khác của Bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định.
[10] Về án phí:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên Hoàng Thị N phải chịu án phí
Dân sự phúc thẩm. N phải chịu án phí Dân sự thẩm đối với phần yêu cầu
khởi kiện không được chấp nhận.
Do ông Đ là người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi và có đơn miễn nộp tạm
ứng án phí theo quy định nên căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
để miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm và phúc thẩm ông Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Văn Đ; gi
nguyên Bản án Dân sự thẩm số 110/2025/DS-ST ngày 24/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị N về việc:
“Tranh chấp hợp đồng Dân sự vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn Đ.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ trách nhiệm trả cho Hoàng Thị N số tiền
700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).
12
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị N về việc yêu cầu
ông Nguyễn Văn Đ phải trả số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
3. Các phần khác của Bản án không kháng cáo kháng nghị tđã hiệu
lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định.
4. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Đ.
Hoàng Thị N phải chịu 10.000.000đ án phí Dân sự thẩm; được trừ vào
số tiền 30.678.000đ tạm ứng án phí Dân sự thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006758 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án Dân skhu
vực 4 – Lâm Đồng). Bà N được nhận lại 20.680.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm:
Miễn toàn bộ án phí Dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn Đ.
Hoàng Thị N phải chịu 300.000đ án phí Dân sự phúc thẩm; được trừ vào
số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sphúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002908 ngày 13/02/2026 của Thi hành án Dân
sự tỉnh Lâm Đồng; bà N đã nộp đủ án phí Dân sự phúc thẩm.
5. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể tngày Bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể tngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi nh án (đối với c khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
13
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ, Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 4 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS khu vực 4 - Lâm Đồng
(01);
- Các đương sự (12);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 369/2026/DS-PT Bản án số 369/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 369/2026/DS-PT Bản án số 369/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất