Bản án số 613/2026/DS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 613/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 613/2026/DS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 613/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: BTTH ngoài hợp đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận
Ông Lê Minh Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Lê Thị
Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2026/TLPT-DS ngày 27 tháng
5 năm 2026 về việc tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây
ra.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 108/2026/DS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 553/2026/QĐ-PT ngày 05
tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 716/2026/QĐ PT ngày 25
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974 (vắng)
Địa chỉ: Số E, đường C, Phường A, thành phố V (nay phường L), tỉnh Vĩnh
Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Số A, đường A, phường T, tỉnh Vĩnh. Theo văn bản ủy quyền ngày
22/02/2024.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu
H: Luật sư Trần Ngọc T1 - Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn E, sinh năm 1965 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, đường N, Phường A, thành phố V (nay phường L), tỉnh Vĩnh
Long.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 613/2026/DS - PT
Ngày 06 - 7 - 2026
V/v “Bồi thường thiệt hại
do công trình xây dựng
khác gây ra
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
2. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1941 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số F, đường C tháng D, Phường A, thành phố V (nay phường L,
tỉnh Vĩnh Long).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành T2 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo:Nguyễn Thị Thu H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu
H trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Tấn T người đại diện hợp pháp
của nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Thu H là chủ sử dụng hợp pháp của thửa
đất số 22, tờ bản đồ số 14, diện tích 34,6m
2
, tọa lạc số A, đường N, khóm H, Phường
A, thành phố V (nay phường L), tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BV 003282 do Ủy
ban nhân dân thành phố V cấp ngày 13/4/2015. Hiện trạng căn nhà cấp 4, loại nhà
ở: Nhà riêng lẻ, diện tích sàn: 69,2m
2
, diện tích xây dựng: 34,6m
2
; kết cấu nhà: 01
trệt + 01 lầu ván, khung tông cốt thép, mái tole, vách tường, nền lát gạch men.
Nguồn gốc nhà đất trên do H nhận chuyển nhượng năm 2008, tại thời điểm nhận
chuyển nhượng đã ntrên đất, không biết căn nhà này được xây dựng vào năm
nào. Từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay thì H chỉ sơn tường lại, ngoài
ra không sửa chữa bộ phận nào khác. Căn nhà số A của H liền kề với căn nhà
số 14 của Thị H1. H1 chủ sử dụng hợp pháp của căn nhà và phần đất
thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 14, diện tích khoảng 70m
2
, tọa lạc số 14, đường N,
Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Vào ngày 26/11/2023, H1 bắt đầu khởi công xây dựng nhà, tháo dỡ đập
phần gác nhà của H1, do cây đà ngang gác nhà của H1 đâm xuyên qua nhà
H, cho n khi đập đã ảnh hưởng đến cột vách nhà của H. Tối ngày
25/11/2023, E báo cho H biết E xây cất đến đâu sẽ vạt cột tường nhà
H đến đó, do bà E người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà - đất. H không đồng
ý và có yêu cầu bà E ngừng việc thi công để đảm bảo quyền lợi của H nhưng bà E
và bà H1 vẫn tiếp tục thi công công trình xây dựng nhà ở.
Đến nay hiện trạng tường nhà bà H và cột đã có vết nứt làm ảnh hưởng đến kết
cấu của căn nhà số A H đang sinh sống gây thiệt hại về tài sản. Tại thời
điểm tranh chấp thì E là người trực tiếp quản thi công công trình nên Ủy ban
Phường 1 đã mời E người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng sau thời điểm hòa giải tại Ủy ban
P thì bà E đã sang tên cho bà Võ Thị H1 là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất. Ngày 11/01/2024, Ủy
ban Phường 1 mời các bên hòa giải nhưng không thành. Từ khi bà H1 làm ảnh hưởng
thiệt hại nhà H cho đến nay, H1 không khắc phục hoặc bồi thường thiệt hại
3
phần nào hiện nay bà H H1 cũng không thỏa thuận việc khắc phục hay
bồi thường thiệt hại.
Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Thị H1 trách
nhiệm bồi thường các khoản chi phí vtiền công thợ sửa chữa khoảng 30.000.000
đồng, tiền vật khoảng 20.000.000 đồng, ước tính với tổng số tiền khoảng
50.000.000 đồng do hành vi xây dựng không đảm bảo an toàn cho nhà liền kề. Đồng
thời cam kết đảm bảo xây dựng an toàn không ảnh hưởng đến tài sản của bà H.
Đến ngày 10/7/2024, bà H rút yêu cầu khởi kiện đối với Nguyễn E (BL 48)
đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung (BL 49) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc
Thị H1 trách nhiệm bồi thường và có trách nhiệm chi trả các khoản chi phí về tiền
công thợ sửa chữa khoảng 30.000.000 đồng, tiền vật tư khoảng 20.000.000 đồng, ước
tính với tổng số tiền khoảng 50.000.000 đồng do hành vi xây dựng không đảm bảo an
toàn cho nhà liền kề. Đồng thời cam kết đảm bảo xây dựng an toàn không ảnh hưởng
đến tài sản của bà H.
Bị đơn Nguyễn E trình bày: E người mang một quốc tịch quốc tịch
Úc, theo hchiếu thì chỉ sinh sống Việt Nam đến ngày 29/7/2024. Trước đây E
chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 30; tờ bản đồ số 14; diện tích 79,9m
2
; địa
chỉ: Số A, đường N, Phường A, thành phố V (nay phường L), tỉnh Vĩnh Long
căn nhà cấp 4, loại nhà riêng lẻ, diện tích sàn: 143,0m
2
, diện tích xây dựng: 79,9m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số DK 717670 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh V cấp ngày 24/4/2023.
Nguồn gốc nhà đất trước đây là của bà H1 tặng cho bà E. Hiện trạng là căn nhà cấp 4,
loại nhà riêng lẻ, diện tích sàn: 143,0m
2
, diện tích xây dựng: 79,9m
2
; kết cấu nhà:
01 trệt + 01 lầu ván, khung cột cây và cột sắt, mái tole, vách tường, nền lát gạch men.
E được nhận tặng cho nhà - đất nêu trên vào năm 2023, tại thời điểm nhận
tặng cho đã nhà trên đất, căn nhà được xây dựng vào năm nào thì E không biết
rõ. Từ thời điểm được nhận tặng cho đến nay thì E không sửa chữa. E đã
tặng cho nhà - đất nêu trên cho bà H1 theo hồ số 003486.TA.002, được Chi nhánh
Văn phòng Đăng đất đai thành phố V xác nhận ngày 19/01/2024. Sau nhiều năm
nhà số 14 xuống cấp, H1 xin phép xây dựng được Ủy ban nhân dân thành phố
V cấp giấy phép xây dựng, H1 đã cung cấp cho Tòa án giấy phép xây dựng số
95/GPXD ngày 04/3/2024. Trong quá trình xây dựng nhà H1, thì H gửi đơn
hòa giải tại Ủy ban P, thành phố V nhưng kết quả hòa giải không thành.
Đối với yêu cầu khởi kiện của H tE không đồng ý, bởi công trình
nhà số A xây dựng không có gây thiệt hại cho nhà số A của bà H. Bà H cho rằng nhà
H có những vết nứt trên tường cột nhà H; một lỗ hỏng vách tường; nhà
hiện trạng bị nghiêng do công trình xây dựng nhà số A gây ra thì H phải
chứng minh, E không đồng ý phần trình bày của H. Công trình nhà số 14 được
Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng số 95/GPXD ngày 04/3/2024 cho bà
H1 chủ đầu thửa đất số 30 chủ sử dụng bà H1. E chỉ phụ giúp bà H1
trông coi công trình, không phải là chủ sở hữu tài sản.
Trước khi xây dựng nhà số A (nhà H1), thì tường nhà đã cũ, bong tróc, các
cây đà ngang đã hỏng do lâu năm bị mối mọt, cây đà ngang nhà số 14 không
4
đâm xuyên qua nhà H. Khi tháo dỡ nhà thì nhà thầu cắt từng mảng tường chứ
không đập tường, cây đà ngang bị mối mọt chỉ lấy tay khều cũng bể ra chứ không vạt
cột để gây ảnh hưởng đến nhà liền nhà H. Hiện trạng chỉ còn một mảng tường
nhỏ phía trước giáp H chưa được tháo dỡ, do H ngăn cản không cho tháo dỡ
dùng lời lẽ thô tục để xúc phạm E. Tường nhà thuộc quyền sở hữu nằm
trong phạm vi quyền sử dụng đất của gia đình E thì quyền tháo dỡ, H không
có quyền ngăn cản. Theo bà E được biết thì tường nhà của bà H đã bị nứt trước khi bà
H1 thi công nhà bà H1, trước đó khi E và bà H chưa mâu thuẫn thì H có dẫn bà
E qua nhà H xem hiện trạng nhà H thì đã thấy nhà H những vết nứt
rồi. Công trình xây dựng nhà số 14 khi thi công đã rất chấp hành an toàn trong xây
dựng, giảm thiểu tối đa tiếng ồn cho hàng xóm.
Hiện trạng H1 xây dựng mới nhà khung tông cốt thép, 01 trệt, 01 lầu,
mái tole, vách tường riêng, nền lát gạch. Công trình nhà số 14 được khởi công thi
công ttháng 01/2024 đến nay tiến độ thi công chưa hoàn thành. Nhà của bà H
những vết nứt trên tường cột nhà H; một lỗ hỏng vách tường; nhà hiện
trạng bị nghiêng không căn cứ xác định nguyên nhân do việc xây dựng nhà số
14 của bà H1. Do đó, việc bà H yêu cầu H1 bồi thường là không có căn cứ.
Bị đơn Thị H1 trình bày: H1 mẹ ruột của E, H1 thống nhất
lời trình bày của E. H1 chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 30; tờ bản đồ s
14; diện tích 79,9m
2
; địa chỉ: Số A, đường N, Phường A, thành phố V (nay là phường
L), tỉnh Vĩnh Long căn nhà cấp 4, loại nhà ở: Nhà riêng lẻ, diện tích sàn:
143,0m
2
, diện tích xây dựng: 79,9m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 717670 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh V cấp ngày 24/4/2023. Bà H1 được E tặng cho nhà - đất nêu trên theo
hồ số 003486.TA.002, được Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai thành phố V
xác nhận ngày 19/01/2024. Đối với yêu cầu khởi kiện của H, bà H1 không đồng ý
bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, bởi vì công trình nhà số A không có gây thiệt hại
cho nhà số A của H.
H cho rằng nhà H những vết nứt trên tường cột nhà bà H; một
lỗ hỏng vách tường; nhà hiện trạng bị nghiêng do công trình xây dựng nsố
A gây ra thì H phải có căn cứ chứng minh. Công trình nhà số 14 được Cơ quan
thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng số 95/GPXD ngày 04/3/2024 cho H1 là chủ
đầu tư, căn nhà gắn liền với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 14, H1 là chủ sử dụng.
Trước khi xây dụng nhà số A thì tường nhà đã cũ, bong tróc, các cây đà ngang
đã hư hỏng do lâu năm bị mối mọt, cây đà ngang nhà số 14 không có đâm xuyên qua
nhà bà H. Khi tháo dỡ nhà cũ thì nhà thầu cắt từng mảng tường chứ không đập tường,
cây đà ngang bị mối mọt chỉ lấy tay khều cũng bể ra chứ không vạt cột đgây ảnh
hưởng đến nhà liền kề là nhà của bà H.
Hiện trạng, chỉ còn một mảng tường nhỏ phía trước giáp nhà bà H chưa được
tháo dỡ, do H ngăn cản không cho tháo dỡ dùng lời lẽ thô tục để xúc phạm
H1. Tường nhà thuộc quyền sở hữu nằm trong phạm vi quyền sử dụng đất của
gia đình bà H1 thì có quyền tháo dỡ, H không có quyền ngăn cản. Nhà của bà H có
những vết nứt trên tường cột nhà H; một lỗ hỏng vách tường; nhà hiện
5
trạng bị nghiêng không căn cứ xác định nguyên nhân do việc xây dựng nhà số
14 của bà H1.
Do đó, việc H yêu cầu H1 bồi thường không căn cứ. Đối với yêu
cầu khởi kiện của bà H yêu cầu Tòa án buộc H1 trách nhiệm bồi thường
trách nhiệm chi trả các khoản chi phí về tiền công thợ sửa cha khoảng 30.000.000
đồng, tiền vật khoảng 20.000.000 đồng, ước tính với tổng số tiền khoảng
50.000.000 đồng do hành vi xây dựng không đảm bảo an toàn cho nhà liền kthì
H1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành T2: Vắng mặt trong
quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 108/2026/DS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 Vĩnh Long đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thu H về việc yêu
cầu bà Võ Thị H1 có nghĩa vụ bồi thường và có trách nhiệm chi trả các khoản chi phí
về tiền công thợ sửa chữa khoảng 30.000.000 đồng, tiền vật khoảng 20.000.000
đồng, tổng cộng khoảng 50.000.000 đồng do hành vi xây dựng không đảm bảo an
toàn cho nhà liền kề. Đồng thời cam kết đảm bảo xây dựng an toàn không ảnh hưởng
đến tài sản của bà H.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thu H về việc
yêu cầu Nguyễn E nghĩa vụ bồi thường số tiền khoảng 50.000.000 đồng do
hành vi xây dựng không đảm bảo an toàn cho nhà liền kề. Đồng thời cam kết đảm
bảo xây dựng an toàn không ảnh hưởng đến tài sản của H.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20 tháng 4 năm 2026, nguyên đơn Nguyễn Thị Thu H kháng cáo bản
án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm
theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của H, buộc Thị H1 bồi
thường thiệt hại cho bà Hằng số tiền 50.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, anh Nguyễn Tấn T người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H không rút yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng: Ngày
26/11/2023 bị đơn Thị H1 khởi công xây dựng nhà, đến ngày 04/3/2024 mới
giấy phép xây dựng; việc H1 xây dựng nhà không đảm bảo nên làm cho tường
nhà bà H bị nứt. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà H, buộc bà H1
bồi thường thiệt hại cho bà Hằng số tiền 50.000.000 đồng.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
6
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Theo biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 04/04/2025 thể hiện nhà bà Nguyễn Thị Thu H có 18 vết nứt nhưng
H không chứng cứ chứng minh các vết nứt này là trước hay sau ngày
Thị H1 xây dựng nhà của bà H1; trong khi đó bà H1 không thừa nhận các vết nứt này
do H1 xây dựng nhà của H1 gây ra H1 cho rằng các vết nứt này là
trước khi H1 xây dựng nhà của H1. Tòa án cấp thẩm đã yêu cầu bà H nộp
chi phí tố tụng để tiến hành giám định nguyên nhân gây ra các vết nứt nhưng H
không nộp chi phí tố tụng. Theo Điều 91 của Bộ luật ttụng dân sự thì bà H phải
nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nhưng bà H không chứng minh
được các vết nứt tường nhà của bà H do H1 xây dựng nhà gây ra. Do đó, kháng
cáo của H không sở chấp nhận; đề nghị Hội đồng xét xử ginguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt đương sự: Bị đơn bà Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Nguyễn Thành T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt;
bị đơn Nguyễn E đơn xin giải quyết vắng mặt. Phiên tòa hôm nay phiên tòa
mở lần thứ hai nên căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét
xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Nguyễn Thị Thu H cho rằng do bà Võ Thị H1 xây dựng nhà đã làm cho
nhà H bị nứt nên yêu cầu H1 bồi thường chi phí H sửa chữa nvới số tiền
50.000.000 đồng (gồm tiền công thợ 30.000.000 đồng, tiền vật 20.000.000 đồng).
H1 không thừa nhận nhà H bị nứt H1 xây dựng nhà gây ra nên không
đồng ý bồi thường.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/04/2025 ghi nhận căn nhà số
A của H có 18 vết nứt, cụ thể như sau: Vết nứt số 1 chiều dài 1,55 mét, vết nứt
số 2 có chiều dài 0,75 mét, vết nứt số 3 có chiều dài 1,1 mét, vết nứt số 4 có chiều dài
2,1 mét, vết nứt số 5 có chiều dài 1,7 mét, vết nứt số 6 chiều dài 1,1 mét, vết nứt
số 7 có chiều dài 0,9 mét, vết nứt số 8 có chiều dài 1,15 mét, vết nứt số 9 có chiều dài
1,9 mét, vết nứt số 10 có chiều dài 0,7 mét, vết nứt số 11 có chiều dài 0,8 mét, vết nứt
số 12 có chiều dài 0,5 mét, vết nứt số 13 được tính vào vết nứt số 16, vết nứt số 14 có
chiều dài 1,8 mét, vết nứt số 15 chiều dài 0,5 mét, vết nt số 16 chiều dài 1,8
mét +1,5 mét + 3,1 mét, vết nứt số 17 có chiều dài 1,7 mét, vết nứt số 18 có chiều dài
2,1 mét.
[3] Ngày 16/7/2024, Tòa án cấp thẩm ban hành quyết định Trưng cầu giám
định số: 470/2024/QĐ-TCGĐ trưng cầu Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng -
Sở Xây dựng tỉnh V giám định: Nguyên nhân gây ra xuất hiện các vết nứt, nghiêng
của căn nhà số A (nhà H), xác định thiệt hại thực tế tại thời điểm, tính chi phí để
khắc phục thiệt hại; xác định căn nhà số A (nhà H1) xây dựng đúng với bản v
hồ xin phép xây dựng hay không, độ chịu lực của nền, móng căn s 14 (nhà
H1) đúng với hồ thiết kế hay không xác định thiệt hại thực tế tại thời điểm,
tính chi phí để khắc phục thiệt hại (BL 470).
7
Tại Công văn số: 508/GĐCL-XD ngày 24/7/2024 của Trung tâm Giám định
chất lượng xây dựng, thuộc Sở Xây dựng tỉnh V có ý kiến: Trung tâm không có đủ cơ
sở xác định thiệt hại thực tế tại thời điểm tính chi phí để khắc phục thiệt hại căn
nhà số A (nhà bà H). Trung tâm sẽ thực hiện kiểm định chất lượng hiện trạng căn nhà
số A (nhà bà H) gồm các công việc đo kích thước hiện trạng mặt bằng, vẽ mặt cắt ghi
nhận kích thước hình học các cấu kiện chính, đào móng kiểm tra kích thước hình học
móng, khoan lấy lõi bêtông móng xác định cường độ, c định độ nghiêng cột, lên
dốc nền, đo về vết nứt, đánh ghiện trạng mặt ngoài, đánh giá mức độ nguy hiểm
của công trình, xác định % giá trị còn lại căn nhà tại thời điểm kiểm định, chụp ảnh
hiện trạng. Hiện trạng căn nhà số A (nhà H1) đang trong quá trình thi công xây
dựng (phần thô tầng trệt, đã đổ tông cột lầu 1, xây tường bao che lầu 1) qua
xem xét hồ xin phép xây dựng. Trung tâm nhận thấy bộ phận, cấu kiện căn nhà bị
che khuất (phần móng cọc) nên việc kiểm tra xem xây dựng có đúng với bản vẽ và hồ
sơ xin phép xây dựng đối với bộ phận, cấu kiện căn nhà bị che khuất là không thể đào
để kiểm tra kích thước hình học, tiết diện chiều dài của tất cả các tim cọc bêtông
cốt thép. Trong hồ sơ xin phép xây dựng căn nhà số A (nhà bà H1), không có thể hiện
sức chịu tải cọc trong bản vnên không xác định được đchịu lực của nền móng
đúng với hồ thiết kế hay không. Từ đó, đối với căn nsố A (nhà H1), Trung
tâm sẽ thực hiện kiểm định chất lượng hiện trạng, gồm: đo kiểm tra kích thước hiện
trạng mặt bằng, ghi nhận một số kích thước hình học cấu kiện chính phần thân tại
thời điểm khảo sát; đào móng kiểm tra kích thước hình học móng; khoan lấy lõi cấu
kiện bêtông móng xác định cường độ; đo võng nghiêng sàn, đo nghiêng cột khảo
sát hiện trạng mặt ngoài của toàn bộ công trình, tính toán tải trọng tại thời điểm hiện
trạng truyền lên hệ móng (móng theo hxin phép xây dựng nếu Trung tâm được
cung cấp bản vẽ hoàn công thi công cọc trong đó thể hiện sức chịu tải của cọc bêtông
cốt thép). Trung tâm cần thực hiện tư vấn kiểm định chất lượng hiện trạng công trình
cả hai căn n(căn nhà số A căn nhà số A), tên công việc được thể hiện trong
dự toán chi phí tư vấn kiểm định chất lượng hiện trạng công trình xây dựng kèm theo,
để từ đó đánh giá, phân tích nguyên nhân gây ra nứt, bị nghiêng các cấu kiện của căn
nhà số A (nhà bà H) (BL 209).
Theo đó, dự toán kinh p Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng,
thuộc Sở Xây dựng tỉnh V đưa ra để thực hiện các công việc trên với số tiền
100.777.335 đồng.
[4] Tòa án cấp thẩm đã ra thông báo yêu cầu H nộp số tiền 100.777.335
đồng để Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng, thuộc Sở Xây dựng tỉnh V thực
hiện các công việc đã nêu tại Công văn số: 508/GĐCL-XD ngày 24/7/2024 nhưng bà
H không đồng ý nộp tiền tạm ứng do chi phí cao, không đủ khả năng nên yêu cầu Tòa
án giải quyết vụ án theo quy pháp luật và không đồng ý giám định (BL 53).
[5] Ngày 28/11/2025, Tòa án cấp sơ thẩm Văn bản số 579/TANDKV1 ngày
28/11/2025 gửi UBND phường L yêu cầu cung cấp thông tin về niên hạn sử dụng;
giá trị sử dụng còn lại và việc tháo dỡ phần gác nhà của bà H1 ảnh hưởng đến cột,
vách, thiệt hại, hư hỏng nhà liền kề hay không (BL 243). Tại văn bản số: 621/UBND-
KT ngày 11/3/2026, UBND phường L ý kiến như sau: Ủy ban nhân dân không
chuyên môn chức năng thẩm định chất lượng, kết cấu gtrị công trình, việc
8
này do quan chuyên môn năng lực thực hiện. Theo quy định của Bộ X về thời
hạn sử dụng theo thiết kế của công trình thì nhà cấp 4 thời hạn không quá 25 năm.
Trường hợp trong thời gian sdụng cải tạo, sửa chữa nhà thì tùy theo hiện trạng,
lập hồ sơ kiểm định xác định giá trị sử dụng còn lại. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xác
định căn nhà số A của bà H được xây dựng từ năm 1990 đến nay (tháng 4/2026) là 36
năm không sửa chữa, cải tạo gì, chỉ sơn tường lại nên thể xác định căn nhà của
bà H đã hết thời hạn sử dụng.
[6] H yêu cầu bồi thường chi phí sửa chữa nhà với số tiền 50.000.000 đồng
nhưng H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Tại phiên tòa phúc
thẩm hôm nay, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà H cũng thừa nhận số tiền
50.000.000 đồng H yêu cầu H1 bồi thường, số tiền này H chỉ ước tính,
trên thực tế H chưa thực hiện việc sửa chữa nhà.
[7] Tại khoản 1 Điều 584 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người nào
hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
quyền, li ích hợp pháp khác của người khác gây thiệt hại thì phải bồi thường,
trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác liên quan quy định khác Tại khoản 1 Điều
2 Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
584 của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi đầy đủ các yếu tố sau đây: (1) hành vi
xâm phạm; (2) Có thiệt hại xảy ra; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra
và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm
ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại”.
[8] Từ những chứng cứ và quy định trên của pháp luật [2], [3], [4], [5], [6], [7],
Hội đồng xét xử xét thấy không sở xác định c vết nt của nhà H do bà
H1 xây dựng nhà của H1 gây ra. Việc Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà H căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo của bà H
không có cơ sở chấp nhận.
[9] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn,
như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận.
[10] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích phần trên, Hội đồng xét
xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0007837 ngày 23/4/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
9
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 108/2026/DS-ST ngày 07 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 Vĩnh Long.
Áp dng Điều 584 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dng Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật
Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Áp dng Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý
và s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu H
về việc yêu cầu Thị H1 bồi thường cho H chi phí sửa chữa nhà với số tiền
50.000.000 đồng (gồm tiền công thợ 30.000.000 đồng, tiền vật tư 20.000.000 đồng).
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0007837 ngày 23/4/2026 của Thi hành án
dân sự tỉnh Vĩnh Long.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị,
không bị cải sửa có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8, 34, 36, 71 và 72 của
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 1 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất