Bản án số 702/2026/DS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 702/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 702/2026/DS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 702/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án 702-21-5-2026- Th - T- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH TÂY NINH
Bn án s: 702/2026/DS-PT
Ngày: 21-5-2026
V/v yêu cu tuyên b văn bản
công chng vô hiu và gii quyết
hu qu pháp lý”
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Nguyn Quc Tun.
Các Thm phán:
1 Bà Hoàng Th Thuý Lành;
2 Ông Đinh Tiền Phương.
Thư phiên tòa: Ngô Thanh Xuân, Thư Tòa án nhân dân tnh Tây
Ninh.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh y Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Nguyn Tn Phát, Kim sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số 127/TLPT-DS ngày 09 tháng 3
năm 2026, về “Yêu cầu tuyên b văn bản ng chng hiu, gii quyết hu
qu pháp lý khi vô hiệu văn bản công chứng”.
Do Bản án dân sthẩm số 185/2025/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 200/2026/QĐ-PT ngày
27 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959 (đã chết ngày 02-10-
2023 theo Trích lục khai tử số 78/TLKT ngày 09-10-2023 của UBND T,
huyện Đ, tỉnh Long An).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T:
1/ Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1989; có mặt;
2/ Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1993; vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Ấp T, T, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay H, tỉnh Tây
Ninh).
2
Người đại diện theo y quyền: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1959. Địa
chỉ: Số A A, thị trấn T, huyện T, huyện T, tỉnh Long An (Nay T, tỉnh Tây
Ninh); có mặt.
Bị đơn:
1/ Ông Đào Minh T3, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu V, thị trấn Đ, huyện Đ,
tỉnh Long An (Nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt.
2/ Đỗ Hoàn Kim P, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số E đường N - T, phường
T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh);
có mặt.
3/ Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1956 (đã chết ngày 09-6-2024 theo Trích lục
khai tử số 43/2024/TLKT ngày 24-6-2024 của UBND phường T, quận T, Thành
phố Hồ Chí Minh).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N:
1/ Bà Đỗ Hoàn Kim P, sinh năm 1980; có mặt;
2/ Bà Trương Thị Kim L, sinh năm 1956; vắng mặt;
3/ Ông Đỗ Hoàn Q, sinh năm 1981; vắng mặt;
Địa chỉ: Số E đường N - T, phường T, quận T, Thành phố HChí Minh
(nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình P1, sinh năm 1984. Địa
chỉ: Số F L, Phường A, Quận A, Tp . (phường P, Thành phố Hồ Chí Minh);
mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Trương Thị Kim L, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số E đường N - T,
phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh); vắng mặt.
2/ Bà Nguyễn Thị Phương T4, sinh năm 1981; có mặt;
3/ Ông Nguyễn Minh T5, sinh năm 1977; vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Số C Ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (nay
xã B, Thành phố Hồ Chí Minh)
4/ Văn phòng C nay Văn phòng C1 (xin vắng mặt). Địa chỉ: Ấp C, xã
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Mộng T6 Trưởng Văn phòng;
vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn Đỗ Hoàn Kim P; Trương Thị Kim L
Đỗ Hoàn Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện ngày 29-5-2022 đơn khởi kiện bổ sung ngày 08-01-
2024 trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn T do ông
Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 người kế thừa quyền nghĩa vụ tố
tụng (có ông Nguyễn Văn T2 đại diện theo ủy quyền) trình bày như sau:
Ngày 02-02-2021, ông Nguyễn Văn T vay ông Đào Minh T3 số tiền
55.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 12 tháng, khi vay có lập “Giấy
mượn tiền ngày 02-02-2021”. Để đảm bảo số tiền vay này ông T3 yêu cầu ông T
đến Văn phòng C hợp đồng ủy quyền cho ông T3 đối với thửa đất số 169, tờ
bản đồ số 17, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ông T trả tiền lãi cho ông T3 được hơn 01 năm trả tiền vay gốc, lãi còn
lại để lấy lại giấy đất nhưng không liên hệ được ông T3. Từ trước đến nay đất
này vẫn do ông T quản sdụng, con ông T ông Nguyễn Văn Y trồng lúa
trên đất.
Sau đó, ông T phát hiện ông T3 đã chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất
(Viết tắt QSDĐ) này cho Đỗ Hoàn Kim P bằng hình thức ủy quyền; bà P tiếp
tục chuyển nhượng cho ông Đỗ Văn N (Cha ruột bà P). Hiện nay ông N L
(vợ ông N) đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Phương T4.
Ngày 02-10-2023, ông T chết, cha mẹ vợ ông T đã chết trước ông T;
ông T 02 con ông Nguyễn Văn Y Nguyễn Thị Thanh T1, ngoài ra
không còn con riêng hay con nuôi nào khác.
Nay ông Y T1 người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông T
yêu cầu:
- hiệu Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C2 số 861 ngày 02-02-2021,
giữa ông Nguyễn Văn T với ông Đào Minh T3 đối với thửa đất số 169, tờ bản
đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- hiệu Hợp đồng ủy quyền lại do Văn phòng C2 số 1127 ngày 22-02-
2021, giữa ông Đào Minh T3 với Đỗ Hoàn Kim P đối với thửa đất số 169, tờ
bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2
số 5761 ngày 23-10-2021 giữa Đỗ Hoàn Kim P với ông Đỗ Văn N đối với
thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
- hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2
số 6526 quyển số 06/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-6-2022 giữa ông Đỗ
Văn N, Trương Thị Kim L với Nguyễn Thị Phương T4 đối với thửa đất số
169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Để ông Nguyễn Văn Y Nguyễn Thị Thanh T1 được khai đăng ký,
cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4
Đối với giao dịch vay tiền giữa ông T với ông T3, ông Y T1 tự
nguyện hoàn trả số tiền gốc 55.000.000 đồng tiền lãi sau khi khấu trừ số tiền
lãi đã trả trước là 6.400.000 đồng.
Ông Y T1 không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông Đỗ Văn N,
Đỗ Hoàn Kim P; vì ông T không có giao dịch với bà P, ông N.
Bị đơn ông Đào Minh T3: Ông T3 vắng mặt, không có văn bản trình bày.
Bị đơn bà Đỗ Hoàn Kim P trình bày: Ngày 22-02-2021, bà có nhận chuyển
nhượng QSDĐ thửa đất số 169; tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh
Long An từ ông Đào Minh T3 bằng hình thức hợp đồng ủy quyền (do
không đứng tên được đất LUA); gchuyển nhượng 400.000.000 đồng, việc
mua bán có lập hợp đồng đặt cọc với ông T3, bà giao đủ tiền chuyển nhượng đất
cho ông T3.
Sau khi hợp đồng ủy quyền với ông T3, đã chuyển nhượng QSDĐ
này cho ông Đỗ Văn N (Cha ruột P) với giá 550.000.000 đồng, việc mua bán
đã hoàn tất. Trước khi hợp đồng y quyền, ông T3 dẫn đến xem đất
nhưng ông T3 chỉ sai vị trí đất, cụ thể: thay chỉ thửa đất số 169 thì lại chỉ một
thửa đất trồng lúa khác, ông T3 còn gửi cho xem ảnh chụp Trích lục bản đồ
địa chính thể hiện thửa đất số 169 giáp đường đất 4m; đến khi chuyển
nhượng cho ông N, bà kiểm tra lại mới biết vị trí thửa đất ông T3 chuyển
nhượng cho bà, lúc biết chính xác vị trí đất thì đất đang trồng lúa nhưng
không rõ ai đang canh tác.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hiệu các hợp đồng
ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ liên quan đến thửa đất số 169 nêu
trên bà không đồng ý; bà nhận chuyển nhượng hợp pháp; ông N đã được
cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đúng quy định pháp luật; khi nhận chuyển nhượng
đất không ai tranh chấp. Trường hợp Tòa án hủy/vô hiệu các hợp đồng chuyển
nhượng liên quan đến thửa đất số 169 trên, bà yêu cầu ông Đào Minh T3
những người thừa kế hợp pháp của ông Nguyễn Văn T phải liên đới hoàn trả lại
cho số tiền chuyển nhượng đất 400.000.000 đồng bồi thường thiệt hại
cho bà theo chênh lệch giá so với chứng thư thẩm định giá trong hồ sơ vụ án.
Đỗ Hoàn Kim P không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông N, vì ông T
chủ sử dụng đất ban đầu hợp đồng ủy quyền cho ông T3 nên ông T
trách nhiệm, bà không có trách nhiệm đối với ông N.
Bị đơn ông Đỗ Văn N do ông Nguyễn Đình P1 đại diện theo ủy quyền trình
bày: Ngày 23-10-2021, ông Đỗ Văn N nhận chuyển nhượng QSDĐ thửa đất
số 169; tbản đồ số 17 tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An từ Đỗ Hoàn
Kim P; giá chuyển nhượng là 550.000.000 đồng; việc chuyển nhượng có lập hợp
đồng chuyển nhượng, ông N giao đầy đủ tiền chuyển nhượng cho bà P.
5
Sau khi hợp đồng ông N L (vợ ông N) đã chuyển nhượng QSDĐ
này cho Nguyễn Thị Phương T4 với giá 700.000.000 đồng, việc chuyển
nhượng đã hoàn tất.
Trước khi hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với P, P dẫn đến
xem đất đang do chủ cũ trồng lúa.
Nay ông N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; ông N
nhận chuyển nhượng đất hợp pháp đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ,
khi nhận chuyển nhượng không ai tranh chấp. Trường hợp Tòa án tuyên hủy hay
hiệu các hợp đồng chuyển nhượng liên quan đến thửa đất số 169 trên, những
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Đỗ Văn N yêu cầu ông
Đào Minh T3 những người thừa kế hợp pháp của ông Nguyễn Văn T phải có
trách nhiệm liên đới trả lại số tiền chuyển nhượng 550.000.000 đồng và bồi
thường thiệt hại cho ông N L theo chênh lệch giá so với chứng thư thẩm
định giá trong hồ sơ vụ án.
Ông Đỗ Văn N không đồng ý với yêu cầu độc lập của T4, ông T chủ
sử dụng đất ban đầu hợp đồng ủy quyền cho ông T3 nên ông T trách
nhiệm, ông N không có trách nhiệm đối với bà T4.
Ngày 09-6-2024, ông Đỗ Văn N chết những người thừa kế theo pháp luật
của ông N gồm: bà Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q do
ông Nguyễn Đình P1 đại diện theo ủy quyền xác định yêu cầu Tòa án tiếp tục
xem xét, giải quyết yêu cầu phản tố của ông N trong vụ án.
Người quyền li nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Phương T4 trình
bày: Ngày 27-6-2022, nhận chuyển nhượng QSDĐ của ông Đỗ Văn N
Trương Thị Kim L diện tích đất, thửa 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại T,
huyện Đ, tỉnh Long An; bà đã trả đủ tiền chuyển nhượng đất cho ông N, bà L và
đã nhận đất từ ông N, bà L.
Đến đầu năm 2023 nộp hồ đăng đứng tên trên Giấy chứng nhận
QSDĐ và được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 18-7-2023. Trước khi
nhận chuyển nhượng đất, đến xem đất, ông N, L nói đang cho người ta
trồng lúa trên đất, không ai tranh chấp và đã giao đất này cho bà từ ngày hợp
đồng chuyển nhượng nhưng không lập văn bản. Hiện nay, vẫn đứng tên
giữ bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ này.
Nay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bà nhận
chuyển nhượng đất hợp pháp và đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đúng quy
định pháp luật, khi nhận chuyển nhượng đất không ai tranh chấp.
được Tòa án giải thích, trường hợp Tòa án tuyên hủy hay hiệu các
hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng ủy quyền liên quan đến thửa đất số 169, tờ
bản đồ số 17 thì bà yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn ông Đỗ Văn N Trương Thị Kim L phải hoàn trả lại cho số tiền đã
nhận 700.000.000 đồng bồi thường thiệt hại số tiền chênh lệch theo giá thị
6
trường, cụ thể số tiền yêu cầu 585.756.000 đồng, tổng cộng
1.285.756.000 đồng.
Trương Thị Kim L là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xin vắng
mặt, văn bản trình bày ngày 05-3-2024: vợ ông Đỗ Văn N. Việc
nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là việc giữa
ông T P, không liên quan đến bà. Việc Nguyễn Thị Phương T4 đơn
phản tố cũng không liên quan đến bà; chỉ tên trên các hợp đồng, văn
bản công chứng đphù hợp với quy định pháp luật (vì ông Đỗ Văn N
vợ chồng). Việc giao dịch giữa các bên, bà hoàn toàn không được biết.
Ông Nguyễn Minh T5 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xin vắng
mặt, văn bản trình y: Ông chồng Nguyễn Thị Phương T4, ông thống
nhất với yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của bà T4 trong vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C (nay Văn phòng
C1) trình bày: Văn phòng C có công chứng các văn bản công chứng gồm:
- Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C2 số 861 ngày 02-02-2021 giữa ông
Nguyễn Văn T với ông Đào Minh T3 đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17,
tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- Hợp đồng ủy quyền lại do Văn phòng C2 ngày 22-02-2021 giữa ông Đào
Minh T3 với bà Đỗ Hoàn Kim P đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc
tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2 s5761
ngày 23-10-2021 giữa bà Đỗ Hoàn Kim P với ông Đỗ Văn N đối với thửa đất số
169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2 s6526
quyển số 06/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-6-2022 giữa ông Đỗ Văn N,
Trương Thị Kim L với Nguyễn Thị Phương T4 đối với thửa đất số 169, tờ
bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Việc công chứng các hợp đồng trên đúng trình tự, thủ tục theo quy định
pháp luật. Văn phòng C không yêu cầu trong vụ án, đề nghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định pháp luật và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (đã chết) do ông Nguyễn Văn Y,
Nguyễn Thị Thanh T1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông
Nguyễn Văn T2 đại diện theo ủy quyền giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, tự
nguyện trả số tiền vay 55.000.000 đồng lãi suất phát sinh 1,66%/tháng từ
ngày 02-02-2021 đến khi xét xử sơ thẩm (04 năm 06 tháng 24 ngày); đề nghị
khấu trừ số tiền này vào số tiền nghĩa vụ hoàn lại trong quá trình xử hậu
quả pháp khi chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông
7
Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 không yêu cầu khấu trừ stiền lãi
mà ông T đã thanh toán cho ông T3.
Bị đơn Đỗ Hoàn Kim P trình bày: xác định không phải người
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 169 từ ông T3, thực chất người
nhận chuyển nhượng ông N bà L. Ông T3 cũng không phải bên chuyển
nhượng, bên chuyển nhượng ông T; giá chuyển nhượng 400 triệu đồng do
ông N L giao trực tiếp tiền chuyển nhượng cho ông T tại Văn phòng C
(việc giao nhận không lập giấy tờ), việc đứng tên trên hợp đồng ủy quyền
lại từ ông T3 theo yêu cầu của ông N, L; sau đó bà đã chuyển nhượng
lại quyền sử dụng thửa đất số 169 cho ông N L; không còn liên quan
đến thửa đất số 169. Ngoài ra, P xác định giữa ông N, L với không
việc giao nhận số tiền chuyển nhượng 550 triệu đồng như đã từng trình bày,
tự nguyện rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố của bà về việc xử hậu quả pháp
của văn bản công chứng vô hiệu, bà không có yêu cầu phản tố nào khác trong
vụ án.
Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Đỗ Văn N
do ông Nguyễn Đình P1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với ý kiến
trình bày của P tại phiên tòa, xác định ông N L nhận chuyển nhượng
QSDĐ từ ông T, trực tiếp giao số tiền chuyển nhượng 400 triệu đồng cho ông T
(việc giao nhận không lập giấy tờ), ông T3 P chỉ trung gian các
hợp đồng y quyền; giữa ông N, L với P không việc giao nhận số tiền
chuyển nhượng 550 triệu đồng. Do đó, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của bị đơn ông Đỗ Văn N do ông Nguyễn Đình P1 đại diện theo ủy quyền
xác định yêu cầu phản tố về việc xử lý hậu quả pháp lý của văn bản công chứng
hiệu trong vụ án yêu cầu ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T (đã chết) trả lại
số tiền đã nhận 400 triệu đồng bồi thường thiệt hại theo chênh lệch gso
với chứng thư thẩm định giá trong hồ sơ vụ án; xác định không có yêu cầu gì đối
với Đỗ Hoàn Kim P ông Đào Minh T3. Ngoài ra, trường hợp chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của
T4, đề nghị xem xét trách nhiệm liên đới của Văn phòng C liên quan đến lỗi làm
cho các văn bản công chứng vô hiệu.
Tại Bản án Dân sự thẩm số 185/2025/DS-ST ngày 27-8-2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 35, Điều 39, Điều 184, Điều 186, Điều 271, Điều 273,
Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 124, Điều 131, Điều 137, Điều
357, Điều 466, Điều 468, Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100,
Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
8
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T do ông Nguyễn
Văn Y, bà Nguyễn Thị Thanh T1 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng về
việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” đối với ông Đào Minh T3,
Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Văn N.
Tuyên bố các văn bản công chứng sau đây vô hiệu:
- Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C2 số 861 quyển số 02TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 02-02-2021 giữa ông Nguyễn n T với ông Đào Minh T3
đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- Hợp đồng ủy quyền lại do Văn phòng C2 số 1127 quyển số 02TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 22-02-2021 giữa ông Đào Minh T3 với Đỗ Hoàn Kim P
đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2 s5761
quyển số 10/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23-10-2021 giữa bà Đỗ Hoàn Kim P
với ông Đỗ Văn N đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại T,
huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2 s6526
quyển số 06/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-6-2022 giữa ông Đỗ Văn N,
Trương Thị Kim L với Nguyễn Thị Phương T4 đối với thửa đất số 169, tờ
bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 quyền, nghĩa vụ trách
nhiệm liên hệ với quan thẩm quyền để đăng ký, khai, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp
luật về đất đai. Ủy ban nhân dân các cấp, Văn phòng đăng đất đai, quan
Nông nghiệp Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải
quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù
hợp với kết quả giải quyết vụ án. Vị trí đất theo Mảnh trích đo địa chính số 172-
2023 do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ lập ngày 02-7-2023 được Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 04-8-2023 đối với thửa đất
số 169 tờ bản đsố 17, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H,
tỉnh Tây Ninh).
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của Đỗ Hoàn Kim P vviệc giải quyết hậu
quả pháp lý khi tuyên văn bản công chứng vô hiệu.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đỗ Văn N (do Trương Thị
Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng) đối với ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 là người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T về việc giải quyết hậu quả
pháp lý khi tuyên văn bản công chứng vô hiệu.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị Phương T4 về việc giải
quyết hậu quả pháp khi tuyên văn bản công chứng hiệu đối với ông Đỗ
9
Văn N (do Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q là người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) và bà Trương Thị Kim L.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1
người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T trách
nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Phương T4 số tiền 105.263.000 đồng.
Ông Đỗ Văn N (do Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ
Hoàn Q là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) và bà Trương Thị Kim L
trách nhiệm liên đới trả cho Nguyễn Thị Phương T4 tổng số tiền
1.004.766.000 đồng.
Về thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông Đỗ Văn N để lại: đối với phần nghĩa
vụ tài sản của ông Đỗ Văn N thì hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn N gồm
Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q phải nghĩa vụ
thực hiện trong phạm vi di sản do ông Đỗ Văn N chết để lại. Trường hợp nghĩa
vụ để lại lớn hơn phần di sản để lại thì hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn N
gồm bà Trương Thị Kim L, bà Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q chỉ có nghĩa vụ
thanh toán trong phạm vi di sản do ông Đỗ Văn N để lại, trừ khi các bên có thỏa
thuận khác.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ do
chậm thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 10-9-2025, bà Đỗ Hoàn Kim P đơn kháng cáo yêu cầu huỷ bản án
sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 15-10-2025, ông Đỗ Hoàn Q có đơn kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ
thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 15-10-2025, Trương Thị Kim L đơn kháng cáo yêu cầu huỷ
bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đỗ Hoàn Kim P ông Nguyễn Đình P1
người đại diện hợp pháp trình bày: Ông Q, P, L xin thay đổi yêu cầu
kháng cáo, cụ thể: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Trường hợp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
thì xác định lỗi của nguyên đơn để cùng những người kế thừa của ông N bồi
thường thiệt hại cho T4.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo
của bà Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Qbà Trương Thị Kim L; sửa bản án sơ
10
thẩm; xác định lỗi của nguyên đơn để cùng những người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của ông N bồi thường thiệt hại cho T4.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét kháng
cáo của đương sự Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q và bà Trương Thị Kim
L kháng cáo bản án thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ
Hoàn Q và Trương Thị Kim L, yêu cầu huỷ bản án thẩm hoặc sửa bản án
sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:
2.1. Về tài sản tranh chấp: Theo Mảnh trích đo địa chính số 172-2023 do
Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ lập ngày 22-7-2023 được Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 04-8-2023; tài sản tranh chấp là thửa đất
số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An, vị trí: Đông
giáp thửa đất số 168; Tây giáp thửa đất số 135; Nam giáp thửa đất số 170, 175;
Bắc giáp thửa đất số 136, 137. Tổng diện tích đo đạc thực tế là 2.863m
2
.
Hiện trạng đất trồng lúa do ông T quản lý, sử dụng. Sau khi ông T chết, ông
Nguyễn Văn Y người canh tác lúa, quản lý và sử dụng đất.
Theo Chứng thư thẩm định giá số 335 ngày 10-8-2023 của Công ty cổ phần
T8: Quyền sdụng thửa đất số 169, tờ bản đsố 17, tọa lạc tại T, huyện Đ,
tỉnh Long An, có giá trị thành tiền là 1.285.756.000 đồng.
2.2. Xét Hợp đồng ủy quyền công chứng số 861 quyển số 02TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 02-02-2021, giữa ông Nguyễn Văn T với ông Đào Minh T3,
nhận thấy:
Theo nguyên đơn trình bày: Ngày 02-02-2021, ông T vay ông T3 số tiền
55.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 12 tháng, khi vay có lập “Giấy
mượn tiền ngày 02-02-2021”. Để đảm bảo số tiền vay này ông T3 yêu cầu ông T
đến Văn phòng C hợp đồng ủy quyền nêu trên cho ông T3 và đất vẫn do ông
T con ông T quản sử dụng trồng lúa đến nay; nên không việc ông T
chuyển nhượng đất này cho ông T3, chỉ lập uỷ quyền để làm tin bảo đảm
việc ông T vay tiền ông T3. Nay nguyên đơn yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng
uỷ quyền này và các hợp đồng liên quan đến thửa đất này.
Bị đơn ông Đào Minh T3 biết việc nguyên đơn khởi kiện được Tòa án
triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt và không ý kiến đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn không ý kiến phản đối chứng cứ nguyên đơn cung
cấp “Giấy mượn tiền ngày 02-02-2021” thể hiện nội dung ông T vay tiền của
ông T3 thế chấp cho ông T3 bằng quyền sử dụng thửa đất số 169, tờ bản đồ
11
số 17 nêu trên (Bút lục 309) và giấy xác nhận nội dung ông T thanh toán lãi cho
ông T3 đến ngày 12-11-2021.
Hội đồng xét xử nhận thấy, lời trình bày của ông Nguyễn Văn T ông
Nguyễn Văn Y, bà Nguyễn Thị Thanh T1 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của ông T trình bày là có căn cứ nên cần chấp nhận; đồng thời, lời trình bày
các chứng cứ này cũng phù hợp với lời trình bày của ông Trần Văn T7
người làm chứng (có tên người làm chứng trong các chứng cứ này) cũng
xác định bản chất của hợp đồng ủy quyền giữa ông T ông T7 nhằm bảo
đảm cho việc ông T vay tiền của ông Đào Minh T3. Do đó, căn cứ xác định
Hợp đồng ủy quyền công chứng số 861 quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày
02-02-2021, giữa ông T với ông T3 giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài
sản nên hợp đồng uỷ quyền này bị vô hiệu do giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân
sự.
2.3. Xét Hợp đồng ủy quyền lại được Công chứng số 1127 ngày 22-02-
2021 giữa ông Đào Minh T3 với Đỗ Hoàn Kim P; Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được Công chứng số 5761 ngày 23-10-2021 giữa bà Đỗ Hoàn
Kim P với ông Đỗ Văn N Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được
Công chứng số 6526 quyển số 06/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-6-2022
giữa ông Đỗ Văn N, Trương Thị Kim L với Nguyễn Thị Phương T4 đối
với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Các văn bản công chứng này được xác lập
thông qua Hợp đồng y quyền công chứng số 861 quyển số 02TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 02-02-2021, giữa ông T với ông T3, nhưng hợp đồng ủy
quyền này là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay, nên bị vô hiệu như nhận định
nêu trên; đồng thời, phần đất này vẫn do ông T con ông T quản lý, sử dụng
canh tác trồng lúa cho đến nay. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, tuyên bố hiệu các hợp đồng nêu trên phù hợp với quy
định của pháp luật; nên không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q và bà Trương Thị Kim L.
2.4. Xét hậu quả pháp của việc tuyên bố các văn bản công chứng nêu
trên vô hiệu, nhận thấy:
+ Đối với số tiền ông Nguyễn Văn T đã vay của ông Đào Minh T3, do ông
T3 vắng mặt, không ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên
cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn do ông Nguyễn Văn Y,
Nguyễn Thị Thanh T1 người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông T về
việc tự nguyện trả thay cho ông T3 số tiền vay gốc 55.000.000 đồng tiền lãi
vay 50.263.000 đồng; tổng cộng là 105.263.000 đồng.
+ Đối với hậu quả pháp khi vô hiệu Hợp đồng ủy quyền lại được công
chứng s1127 quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22-02-2021 giữa ông Đào
Minh T3 với Đỗ Hoàn Kim P: Do tại phiên tòa thẩm P tự nguyện rút
12
yêu cầu xử hậu quả pháp khi hiệu hợp đồng ủy quyền lại này, nên cấp
sơ thẩm đình chỉ yêu cầu phản tố của bà P là phù hợp. Trường hợp các đương sự
phát sinh tranh chấp thì quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng vụ án
khác theo quy định của pháp luật.
+ Đối với hậu quả pháp khi hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được công chứng số 5761 quyển số 10/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày
23-10-2021 giữa Đỗ Hoàn Kim P với ông Đỗ Văn N: Ông P1 (đại diện theo
ủy quyền của những người kế thừa quyền nghĩa vụ ttụng của ông N) xác
định yêu cầu ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 (người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T) trả lại số tiền đã nhận của
ông N 400.000.000 đồng bồi thường thiệt hại theo chênh lệch giá so với
chứng thư thẩm định giá, không yêu cầu đối với P ông T3. Nhận thấy,
ông T3 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không ý kiến phản
hồi về việc giao nhận tiền liên quan đến hợp đồng ủy quyền lại hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng này. P, ông P1 xác định ông N, L đã giao
cho ông T số tiền 400.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ
chứng minh việc giao nhận số tiền 400.000.000 đồng này cho ông T. Đồng thời
tại phiên tòa sơ thẩm, bà P và ông P1 thay đổi lời trình bày, cho rằng P không
giao stiền 400.000.000 đồng cho ông T3 ông N, L không giao cho P
số tiền 550.000.000 đồng.
Do đó, không căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đỗ Văn N (do
Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng) đối với ông Nguyễn Văn T (do ông Nguyễn Văn Y
và bà Nguyễn Thị Thanh T1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng); nên bà
Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q quyền khởi kiện
P, ông T3 bằng vụ án khác về giải quyết hậu quả pháp khi hiệu hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P và ông N. Đồng thời, ông T lập văn
bản uỷ quyền theo yêu cầu của ông T3 nhằm bảo đảm việc ông T vay tiền của
ông T3; ông T không biết việc ông T3 uỷ quyền lại chuyển nhượng đất này
cho nhiều người khác, nhưng đất vẫn do ông T quản sử dụng; nên việc ông N
chuyển nhượng đất cho T4 ông T không biết, không tham gia giao dịch nên
ông T không lỗi làm cho giao dịch này vô hiệu; do đó, không chấp nhận lời
đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
+ Đối với hậu quả pháp khi hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được Công chứng số 6526 quyển số 06/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày
27-6-2022 giữa ông Đỗ Văn N, Trương Thị Kim L với Nguyễn Thị
Phương T4, nhận thấy:
Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Phương T4; ghi
nhận stự nguyện của ông Y, bà T1 (người kế thừa quyền và nghĩa vụ ttụng
của ông T) trách nhiệm trả cho T4 số tiền 105.263.000 đồng; đồng thời
xác định mức độ lỗi buộc bà Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ
13
Hoàn Q (người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Đỗ Văn N)
Trương Thị Kim L có trách nhiệm liên đới trả cho bà T4 tổng số tiền là
1.004.766.000 đồng (có nghĩa vụ thanh toán trong phạm vi di sản do ông Đỗ
Văn N chết để lại) là phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân ch trên, không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng o
của Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q Trương Thị Kim L; không chấp
nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên
Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q phải chịu tiền án phí
dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà Trương Thị Kim L người cao tuổi nên bà L
được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q
Trương Thị Kim L,
2. Giữ nguyên Bản án Dân sự thẩm số: 185/2025/DS-ST ngày 27 tháng
8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh.
3. Căn cứ Điều 35, Điều 39, Điều 184, Điều 186, Điều 271, Điều 273, Điều
227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 124, Điều 131, Điều 137, Điều 357,
Điều 466, Điều 468, Điều 615 Bluật n sự năm 2015; Điều 100, Điều 166
Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016,
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T do ông Nguyễn
Văn Y, bà Nguyễn Thị Thanh T1 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng về
việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” đối với ông Đào Minh T3,
Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Văn N.
Tuyên bố các văn bản công chứng sau đây vô hiệu:
- Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C2 số 861 quyển số 02TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 02-02-2021 giữa ông Nguyễn n T với ông Đào Minh T3
đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- Hợp đồng ủy quyền lại do Văn phòng C2 số 1127 quyển số 02TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 22-02-2021 giữa ông Đào Minh T3 với Đỗ Hoàn Kim P
đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2 số 5761
quyển số 10/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23-10-2021 giữa bà Đỗ Hoàn Kim P
14
với ông Đỗ Văn N đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại T,
huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C2 số 6526
quyển số 06/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-6-2022 giữa ông Đỗ Văn N,
Trương Thị Kim L với Nguyễn Thị Phương T4 đối với thửa đất số 169, tờ
bản đồ số 17, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 quyền, nghĩa vụ và trách
nhiệm liên hệ với quan thẩm quyền đđăng ký, khai, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp
luật về đất đai. Ủy ban nhân dân các cấp, Văn phòng đăng đất đai, quan
Nông nghiệp Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải
quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù
hợp với kết quả giải quyết vụ án. Vị trí đất theo Mảnh trích đo địa chính số 172-
2023 do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ lập ngày 02-7-2023 được Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 04-8-2023 đối với thửa đất
số 169 tờ bản đsố 17, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H,
tỉnh Tây Ninh).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu quan
Nhà nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền s
dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã cấp).
3.2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Đỗ Hoàn Kim P về việc giải quyết hậu
quả pháp lý khi tuyên văn bản công chứng vô hiệu.
3.3. Không chấp yêu cầu phản tố của ông Đỗ Văn N (do Trương Thị
Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng) đối với ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 là người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T về việc giải quyết hậu quả
pháp lý khi tuyên văn bản công chứng vô hiệu.
3.4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Phương T4 về việc giải
quyết hậu quả pháp khi tuyên văn bản công chứng hiệu đối với ông Đỗ
Văn N (do Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q là người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) và bà Trương Thị Kim L.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1
người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T trách
nhiệm trả cho Nguyễn Thị Phương T4 số tiền 105.263.000 (Một trăm lẻ năm
triệu, hai trăm sáu mươi ba ngàn) đồng.
Ông Đỗ Văn N (do Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ
Hoàn Q là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) và bà Trương Thị Kim L
trách nhiệm liên đới trả cho Nguyễn Thị Phương T4 tổng số tiền
15
1.004.766.000 (Một tỷ, không trăm bốn triệu, bảy trăm sáu mươi sáu ngàn)
đồng.
Về thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông Đỗ Văn N để lại: đối với phần nghĩa
vụ tài sản của ông Đỗ Văn N thì hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn N gồm
Trương Thị Kim L, Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q phải nghĩa vụ
thực hiện trong phạm vi di sản do ông Đỗ Văn N chết để lại. Trường hợp nghĩa
vụ để lại lớn hơn phần di sản để lại thì hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn N
gồm bà Trương Thị Kim L, bà Đỗ Hoàn Kim P, ông Đỗ Hoàn Q chỉ có nghĩa vụ
thanh toán trong phạm vi di sản do ông Đỗ Văn N để lại, trừ khi các bên có thỏa
thuận khác.
3.5. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: ông Đào Minh
T3 trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn T do ông Nguyễn Văn Y,
Nguyễn Thị Thanh T1 người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng số tiền
27.000.000 đồng.
3.6. Về chi phí giám định 5.000.000 đồng, ông Đỗ Văn N đã nộp chi
phí xong.
3.7. Khi án hiệu lực pháp luật, kể tngày đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên
nghĩa v chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền
chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số
91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông Đào Minh T3 phải chịu 1.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Đỗ Hoàn Kim P phải chịu 7.023.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm;
khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 25.290.000 đồng theo biên lai thu số
0006517 ngày 11-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân shuyện Đức Hòa (nay
là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 Tây Ninh). H lại cho bà Đỗ Hoàn Kim
P số tiền 18.287.000 đồng.
+ Ông Đỗ Hoàn Q phải chịu 7.023.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1 liên đới chịu 5.263.000
đồng án phí dân sự thẩm; khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000
đồng theo biên lai thu số 0005941 ngày 08-01-2024; 300.000 đồng theo biên lai
thu số 0006807 ngày 01-11-2023, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006805
ngày 01-11-2023 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006806 ngày 01-11-
2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 3 Tây Ninh). Ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Thị Thanh T1
phải nộp tiếp số tiền 4.063.000 đồng.
16
+ H lại cho bà Nguyễn ThPhương T4 số tiền tạm ứng án phí đã nộp
25.290.000 đồng theo biên lai thu số 0005660 ngày 18-12-2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Đức Hòa (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3
Tây Ninh).
+ Bà Trương Thị Kim L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
+ Bà Trương Thị Kim L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
+ Đỗ Hoàn Kim P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí
dân sự phúc thẩm; được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên
lai thu số 0005629 ngày 03-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Hoàn trả cho P 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số
0007615 ngày 15-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
+ Ông Đỗ Hoàn Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân
sự phúc thẩm; được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai
thu số 0007616 ngày 15-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
6. Các quyết đnh khác ca bản án thm không kháng cáo, kháng
ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
7. Trường hp bản án được thi hành theo quy đnh ti Ðiu 2 ca Lut Thi
hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành
án hoc b ng chế thi nh án theo quy đnh tại các điều 6, 7, 7a 9 ca
Lut Thi hành án; thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định ti Ðiu 30
ca Lut Thi hành án dân s
8. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND khu vc 3;
- Phòng THADS khu vc 3;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Quc Tun
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất