Bản án số 295/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 295/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 295/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 295/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 295/2026/DS-PT
Ngày: 26 - 5 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Quang;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn bà Nguyễn Thị Hải Âu;
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Kim Anh
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 63/2026/TLPT-DS ngày 19
tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DSST ngày 21/01/2026 của a
án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 239/2026/QĐ-PT
ngày 21 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa s 298/2026/QĐ-PT
ngày 12/5/2026, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Văn Thị D, sinh năm 1959; địa chỉ: Buôn M’blớt- Ea
Bông, xã Ea Na, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Nghĩa,
sinh năm 1984; địa chỉ: Số 01 đường N5, buôn Ea Nao A- Ea Tu, phường Tân
An, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
2/ Bị đơn: Ông Đỗ Đình N, sinh năm 1961; địa chỉ: Xóm 2, buôn Rung-
Buôn Trấp, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đỗ Đình Tuyền, sinh năm
1990; địa chỉ: Xóm 2, buôn Rung- Buôn Trấp, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. (có
mặt)
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Vương Vũ, sinh năm 1983. (vắng mặt)
+ Ông Trần Tiến Đạt, sinh năm 1985. (vắng mặt)
+ Bà Trần Thị Phương Thương, sinh năm 1992. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Buôn Rung- Buôn Trấp, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
2
+ Ông Trần Quang Tiến, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn La 1- Nghĩa
Thương, xã Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
Người đại diện theo y quyền của ông Vũ, ông Đạt, Thương, ông
Tiến: Ông Nguyễn Hồng Nghĩa, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 01 đường N5, buôn
Ea Nao A- Ea Tu, phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk.
+ Nguyễn Thị Thoán, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm 2, buôn Rung-
Buôn Trấp, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
+ Nn hàng Nông nghip Phát trin ng thôn Vit Nam Chi nhánh
Kng Ana Đắk Lắk; địa chỉ: Thôn Đt Lý 1, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. (vắng
mặt)
4/ Người kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đỗ Đình
Tuyền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn ThThoán.
N DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khi kiện và quá trình tham gia tố tụng người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Nghĩa trình bày:
Ngày 20/10/1990, ông Đỗ Đình N chuyển nhượng cho vchồng bà
Văn Thị D, ông Trần Quang Vinh ã chết năm 2004) 01 đất buôn Rung,
thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (cũ) diện tích 10m ngang
mặt đường, chiều dài ghi tư (là dài hết đất ông Đỗ Đình N) với giá chuyển
nhượng 1,7 chỉ vàng y. Hai bên lập “Giấy sang nhượng gia cư” ngày
20/10/1990, ông N và ông Vinh đều xác nhận bên dưới, tại mặt sau của
“Giấy sang nhượng gia cư” thể hiện N dung “đã đưa trước 1,5 chỉnghĩa
trước đó ông Vinh đã giao cho ông N 1,5 chỉ vàng y, svàng còn lại 0,2 chỉ
ông Vinh đã giao cho ông N vào ngày 20/10/1990 khi ông Vinh và ông N lập
xong giấy sang nhượng gia cư. Khi ông Vinh giao số vàng liên quan đến
việc chuyển nhượng đất cho ông N, hai bên không lập giấy tờ giao nhận gì
cũng không ai chứng kiến việc giao vàng cũng như vic lập giấy sang
nhượng đất ngày 20/10/1990. Tại thời điểm ông N và ông Vinh lập “Giấy sang
nhượng gia cư” thì ông Vinh không biết ông N đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với phần diện ch đất ông N đã
sang nhượng cho ông Vinh. Sau khi hai bên lập giấy sang nhượng đất, ông N
đã giao đất cho vợ chồng ông Vinh, bà D quản sdụng. ông Vinh, bà D
sợ “Giấy sang nhượng gia cư” lập ngày 20/10/1990 không giá trị pháp
nên đến ngày 08/10/1992, ông Vinh và ông N mới lập “Giấy chuyển nhượng
gia cư” với N dung: Vợ chồng ông N đồng ý chuyển nhượng cho ông Vinh
diện tích đất ngang 10m mặt đường, sâu 90 m với giá chuyển nhượng 01 ch
vàng y (Thực tế giá chuyển nhượng là 1,7 chỉ vàng ông Vinh đã giao đ
cho ông N số vàng này), c nhận của ông Nguyễn Văn Mười là Đại diện
Hợp tác xã ng nghiệp Thống Nhất ông Tống Công Minh đi diện
UBND thtrấn Buôn Trấp, thhiện sơ đồ diện tích đất chuyển nhượng đất
tứ cận như sau:
- Phía Đông Nam giáp đất ông Trường, bà Chín.
- Phía Tây Nam giáp ranh đường Quốc lộ (Tỉnh lộ 2).
3
- Phía Đông y giáp ranh ông Đỗ Đình N.
- Phía Bắc giáp đất ông Ba.
Ngay sau khi kết xong Giấy chuyển nhượng gia ngày
08/10/1992 t gia đình bà D y dựng 01 căn n gỗ diện tích 50m
2
đ ở,
canh tác sdụng ổn định thửa đất trên tthời điểm nhận chuyển nhượng cho
đến nay. Quá trình sử dụng đất, ông Vinh và bà D không có tiền để làm thủ tục
cấp giấy CNQSDĐ nên vẫn tiếp tục sử dụng diện tích đất chuyển nhưng
y và không tranh chấp với ai.
Đến ngày 02/02/2008,không nhu cầu sử dụng phần đất phía sau và
cũng cần tiền để lo cho con nên bà D đã sang nhượng lại cho ông N, bà Thoán
diện tích đất phía sau là 250 m
2
(ngang 10 m x dài 25 m) với số tiền chuyển
nhượng là 5.500.000 đồng. Vợ chồng ông N, Thoán đã giao đsố tiền này
cho bà D D đã bàn giao phần đất 250 m
2
cho gia đình ông N quản lý sử
dụng cho đến ngày nay.
Năm 2020 các con của D gửi tiền vcho bà D đxây dựng lại nhà
mới cho tránh ngập o mùa mưa. Sau đó, D đã nhờ các con cháu và người
thân phá dnđã y dựng trước đây đxây dựng nhà mới. Khi tháo xong
nhà trên thì D tạm ới nbếp và D kiếm thêm tiền để mua gạch vụn
đổ lên nền đất cao n cho bằng mặt đường, đối với N dung này D không
nhớ đã đbao nhiêu xe gạch đất đcho đất bằng với mặt đường nhiện
nay nên bà không đề nghị Tòa án định giá đối với N dungy. Cùng thời điểm
trên có bà Trần Thị Phi Yến, địa chỉ: Buôn M'blớt, xã Ea Bông, huyện Krông
Ana, tỉnh Đắk Lắk cần người giúp việc. Do nhu cầu kiếm tiền để xây dựng nhà
mới nên D đã nhận lời giúp việc nhà cho bà Yến và ở lại nhàYến.
Quá trình sdụng đất, gia đình bà D đã nhiều lần yêu cầu ông N thực
hiện việc tách thửa đất đã chuyển nhượng cho gia đình bà theo diệnch đất đã
thothuận trên Giấy chuyển nhượng lô gia ngày 08/10/1992. Tuy nhiên,
ông N nhiều lần hứa hẹn nhưng vẫn không thực hiện. Cả gia đình D đã sinh
sống ổn định trên thửa đất y cho đến khi tháo dỡ căn nxây đlàm n
mới. Hiện nay, các chủ giáp ranh như ông Trường Chín, ông Ba đều xác
nhận sự việc trên. Đến năm 2004 chồng D ông Trần Quang Vinh chết,
các con của bà D lập gia định và đi m ăn xa, một nh bà D vẫn trên mảnh
đấty.
Đến năm 2021, D làm thủ tục xin cấp cấp GCNQSDĐ lần đầu tại
UBND thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana (cũ) thì mới biết diện tích đất
ông Vinh, bà D nhận chuyển nhượng của ông N đã được cấp GCNQSDĐ cho
ông N vào năm 1990 nên quan thẩm quyền không thcấp GCNQSDĐ
lần đầu cho D được. Trong hồ xin cấp GCNQSDĐ lần đầu của D, tại
Đơn xin c nhận nguồn gốc thời điểm sử dụng đất ngày 09/8/2021, Phiếu
lấy ý kiến khu u ngày 28/9/2021, bản tranh giới mốc giới thửa đất
ngày 06/5/2021 t đều ông N Thoán ký xác nhận với tư ch là ch
sử dụng đất liền kề, người làm chứng.
4
Đầu tháng 10/2023, bà D biết được thông tin là ông N thuê xe đổ đất lấn
hết phần móng nhà mới cũng ndiện ch móng n của D xây dựng
trước đây. Công an thtrấn Buôn Trấp đã lập biên bản vhành vi vi phạm
pháp luật trên của ông N u cầu ông N không được đđất lên phần diện
tích đất của bà D.
Sau đó, bà D đãm đơn gửi Uỷ ban nhân dân thị trấn Buôn Trấp, huyện
Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk để tiến hành hoà giải và giải quyết tranh chấp đất đai
của D với ông Đỗ Đình N. Ngày 03/4/2024, Uỷ ban nhân dân thị trấn Buôn
Trấp, huyện Krông Ana tiến hành hoà giải giải quyết tranh chấp đất đai của
D với ông Đỗ Đình N nhưng gia đình ông ĐĐình N vắng mặt không
do (có biên bản làm việc).
Nhận thấy, việc gia đình bà D nhận chuyển nhượng của ông Đỗ Đình N
01 lô đất Buôn Rung, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk,
diện tích 900 (rộng 10 m, i 90 m), đã thanh toán đầy đcho ông N,
xác nhận của Hợp tác nông nghiệp Thống Nhất Uỷ ban nhân dân thị trấn
Buôn Trấp, huyện Krông Ana; mặt khác gia đình bà D đã ở và sinh sống từ khi
nhận chuyển nhượng cho đến nay, hàng xóm chính quyền xác nhận
nhưng ông Đỗ Đình N không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình D.
những do trên, nay bà D đề nghị Toà án xem xét giải quyết:
- Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện
tích 900 m
2
(diện tích thực tế sau khi đo đạc 517,6 m
2
, đã trừ đi phần diện
tích đất phía sau D chuyển nhượng lại cho ông N, Thoán 250m
2
)
được xác lập ngày 08/10/1992 giữa gia đình Văn Thị D ông Đỗ Đình N.
Đất có tứ cận cụ thể như sau:
+ Phía Nam giáp đất ông Trường,Chín dài 52,05 m.
+ Phía Tây giáp ranh đường Tỉnh lộ 2 dài 9,85 m.
+ Phía Đông giáp ranh ông Đỗ Đình N, dài 10m.
+ Phía Bắc giáp đất ông N dài 52,45m.
- Buộc ông Đỗ Đình N nghĩa vụ tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển
nhượng diện tích đất 517,6 m
2
nêu trên, trong đó diện tích đất ở là 60 m
2
.
- Yêu cầu tuyên hiệu một phần hợp đồng thế chấp tài sản số
228/2025/HĐTC ngày 05/5/2025 giữa Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển
ng thôn Việt Nam Chi nhánh Krông Ana Đắk Lắk ông ĐĐình N,
Nguyn Thị Thoán đối với phần diện tích đất đang tranh chấp 517,6 m
2
giữa
Văn Thị D và ông Đỗ Đình N.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đỗ Đình Tuyền trình
bày:
Gia đình ông Đỗ Đình N vào Đắk Lắk sinh sống từ năm 1984, được
UBND thị trấn Buôn Trấp cấp cho đất thổ tại buôn Rung, thị trấn Buôn
5
Trấp, huyện Krông Ana, đến năm 1988 thì nhà nước đo đất và đến năm 1990 thì
được UBND huyện Krông Ana cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm
1991 bà Văn Thị D và ông Trần Quang Vinh ở bờ mương thuỷ lợi không có chỗ
nên ông Đỗ Đình N ông Vinh là bạn đã đưa ông N đi uống rượu say rồi
viết giấy sang nhượng đất trong đó thể hiện N dung ông N sang nhượng cho
ông Vinh diện tích ngang 10m x dài tư, không thể hiện số tiền hay số vàng
chuyển nhượng, không xác nhận của chủ nhiệm Hợp tác xã Thống Nhất lúc
đó là ông Nguyễn Văn Mười, không có xác nhận của UBND thị trấn Buôn Trấp.
Thực tế ông N chỉ cho ông Vinh mượn đất để ở, không có việc sang nhượng đất.
Ông N cũng không nhận bất k khoản tiền hay vàng nào từ gia đình ông Vinh,
bà D.
Cuối năm 1992, ông Vinh xây dựng 01 căn nhà cấp 4 để ở. Khi ông
Vinh xây nhà, bà Thoán hỏi ông Vinh về việc tại sao ông Vinh lại xây nhà
trên đất của gia đình bà thì ông Vinh nói ông N cho gia đình ông Vinh mượn đất
để ở, Thoán yêu cầu ông Vinh đưa giấy tờ về việc mượn đất nhưng ông
Vinh không đưa. Lúc này ông N mới nói với Thoán do giữa ông N ông
Vinh là bạn bè với nhau nên cho ông Vinh mượn đất để ở một thời gian, khi nào
ông Vinh mua được đất thì sẽ trả lại nên bà Thoán không có ý kiến gì.
Năm 2004, ông Vinh chết, ông N, bà Thoán vẫn đồng ý để cho mẹ con bà
D trên đất. Đến năm 2010 thì bà D mới làm đơn yêu cầu UBND thị trấn Buôn
Trấp giải quyết tranh chấp. Đến năm 2020 thì D bán đất cho người khác là
ông Tặng, bà Bé (không biết họ tên cụ thể là gì; địa chỉ: Buôn M’blớt, xã Ea Na,
tỉnh Đắk Lắk) thì bà D đã phá dỡ căn nhà. Năm 2022 bà D mời cán bộ địa chính
của huyện về đo đất, nhưng không làm được GCNQSDĐ, bà D nói ợn
GCNQSDĐ của ông N sẽ đưa cho gia đình ông N 350.000.000 đồng nhưng
gia đình ông không đồng ý.
Đối với chữ ký, chữ viết của ông Đỗ Đình N trong “Giấy chuyển nhượng
gia đề ngày 08/10/1992”, “giấy biên nhận đề ngày 2/2/2008”, “Giấy sang
nhượng đất gia đề ngày 20/10/1990” đều không phải do ông N viết
ra. Các giấy tờ này do D tự làm, ông N không hay viết gì vào các giấy
này. Ông N không yêu cầu Tòa án giám định chữ của ông N trong các giấy
tờ này. Đối với chữ và chữ viết của ông N trong Đơn xin xác nhận nguồn
gốc thời điểm sử dụng đất ngày 09/8/2021, Phiếu lấy ý kiến khu dâu
ngày 28/9/2021, bản t ranh giới mốc giới thửa đất ngày 06/5/2021 thì
không phải do ông N viết. Tòa án đã thông báo kết qugiám định,
ông không đồng ý với kết luận giám định nhưng ông không yêu cầu giám định
lại.
Đối với việc D cho rằng đầu tháng 10/2023, ông N thxe đđất lấn
hết phần móng nhà mới cũng ndiện ch móng ncũ của D xây dựng
trước đây không đúng, Ông N hay bà Thoán không tiến hành đđất trên
phần diện ch đất hiện nay đang tranh chấp. Ông N không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Văn Thị D. Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho ông N.
6
* Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị Thoán trình bày:
vợ của ông Đỗ Đình N, gia đình vào Đắk Lắk sinh sống từ năm
1984, được UBND thị trấn Buôn Trấp cấp cho đất thổ tại buôn Rung, thị
trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, đến năm 1988 thì nhà nước đo đất năm
1990 được UBND huyện Krông Ana cấp GCNQSDĐ. Năm 1991 Văn Thị D
và ông Trần Quang Vinh ở bờ mương thuỷ lợi không có chỗ ở nên ông Đỗ Đình
N ông Vinh bạn đã đưa ông N đi uống rượu say rồi viết giấy sang
nhượng đất trong đó thể hiện N dung ông N sang nhượng cho ông Vinh diện
tích ngang 10m x dài vô tư, không thể hiện số tiền hay số vàng chuyển nhượng,
không xác nhận của chủ nhiệm hợp tác xã lúc đó ông Nguyễn Văn Mười
(địa chỉ: Xóm 2 buôn Rung, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana) cũng như
không xác nhận của UBND thị trấn Buôn Trấp. Lúc ông N và ông Vinh viết
N dung giấy sang nhượng đất nêu trên thì không biết. Đến năm 2010, khi
D làm đơn yêu cầu UBND thị trấn Buôn Trấp giải quyết tranh chấp thì
Thoán mới biết đến N dung của giấy sang nhượng đất này, bà Thoán có hỏi ông
N về việc tại sao ông N lại viết giấy sang nhượng cho ông Vinh thì ông N nói là
ông viết như vậy do ông Vinh cho ông N viết, còn thực tế ông N chỉ cho gia
đình ông Vinh mượn đất để ở.
Cuối năm 1992 ông Vinh xây dưng 01 căn nhà cấp 4 để ở. Khi ông
Vinh xây nhà, bà Thoán hỏi ông Vinh vviệc tại sao ông Vinh lại xây nhà
trên đất của gia đình bà thì ông Vinh nói ông N cho gia đình ông Vinh mượn đất
để ở, Thoán yêu cầu ông Vinh đưa giấy tờ về việc mượn đất nhưng ông
Vinh không đưa. Lúc này ông N mới nói với Thoán do giữa ông N ông
Vinh là bạn bè với nhau nên cho ông Vinh mượn đất để ở một thời gian, khi nào
ông Vinh mua được đất sẽ trả lại nên bà Thoán không có ý kiến gì.
Năm 2004, ông Vinh chết, gia đình Thoán vẫn đồng ý đcho mẹ con
D trên đất. Đến năm 2010 thì bà D mới m đơn yêu cầu UBND thị trấn
Buôn Trấp giải quyết tranh chấp.
Đến năm 2020, D bán đất cho ông Tặng, bà (không biết họ tên cụ
thể gì; địa chỉ: Buôn M’blớt, xã Ea Na, tỉnh Đắk Lắk) thì D đã phá dỡ căn
nhà, năm 2022 D mời cán bộ địa chính của huyện về đo đất, nhưng không
làm được GCNQSDĐ, bà D nói mượn GCNQSDĐ của ông N sẽ đưa cho
gia đình bà 350.000.000 đồng nhưng gia đình bà không đồng ý.
Đối với ch chữ viết của ông N Thoán trong Đơn xin c
nhận nguồn gốc và thời điểm s dụng đất ngày 09/8/2021, Phiếu lấy ý kiến
khu dâu ngày 28/9/2021, bản mô tả ranh giới mốc giới thửa đất ngày
06/5/2021 thì không phải do ông N, bà Thoán ký viết.
Tòa án đã văn bản thông báo kết quả giám định, bà không đồng ý với
kết luận giám định nhưng bà không yêu cầu giám định lại.
Thoán không chấp chận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ chồng ông bà.
7
* Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Trần Vương Vũ, ông Trần Tiến Đạt, Trần Thị Phương Thương,
ông Trần Quang Tiến - ông Nguyễn Hồng Nghĩa trình bày:
Nhất tvới lời bày của ông Nguyễn Hồng Nghĩa với tư cách người
đại diện theoy quyền của nguyên đơn. Không có ý kiến bổ sung thêm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Krông Ana trìnhy:
Khách hàng Đỗ Đình N và Nguyễn Thị Thoán thế chấp 01 QSDĐ đ
đảm bảo khoản vay cụ thể: Quyền sử dụng đất số CM439547, vào sổ cp giấy
chứng nhận số CS00971 do Sở Tài nguyên i trường tỉnh Đắk Lắk cấp
ngày 13/8/2018 đối với thửa đất số: 24; tbản đsố: 1 (tsố 3a); diện tích
2.652 m
2
; Tọa lạc tại: Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk theo Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất 228/2025/HĐTC được Văn phòng công chứng Trần Thanh
Sơn công chứng ngày 06/5/2025 để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín
dụng số 5204LAV202500906 kết ngày 07/5/2025 với số tiền vay
150.000.000 đồng.
Việc Ngân hàng cho khách hàng ĐĐình N và Nguyễn Thị Thoán vay
vốn cũng như nhận i sản đảm bảo đúng quy định pháp luật, mặt khác hiện
khách hàng thực hiện đầy đnghĩa vụ với ngân hàng nên ngân hàng không
yêu cầu độc lập trong ván này. Đối với việc nguyên đơn yêu cầu tuyên hủy
một phẩn hợp đồng thế chấp quyền sử đất nêu trên, ngân hàng không ý kiến
gì, đnghịa án giải quyết theo quy định của pháp luật đề nghị giải quyết
xét xử vắng mặt ngân hàng.
* Người m chứng ông Nguyễn Văn Mười trình y tại biên bản lấy lời
khai ngày 03/6/2025: Ông Mười sinh sống tại buôn Rung, thị trấn Buôn Trấp
từ năm 1978 đến nay. Vào m 1990 ông Đỗ Đình N sang nhượng cho ông
Vinh diện tích đất ngang 10m mặt đường, i tư, giữa ông N và ông Vinh
lập giấy sang nhượng đất với nhau. Ông Mười biết sviệc này vì ông
cách nhà ông N khoảng 150m, việc ông N sang nhượng 10m ngang mặt đường
với giá bao nhiêu thì ông Mười không biết. Gia đình ông Vinh, bà D đã xây
nhà trên diện tích đất này. Từ năm 1990-1992, ông Mười làm chủ nhiệm Hợp
tác sản xuất nông nghiệp Thống Nhất. Vào tháng 11/1992 ông N đến
Hợp tác xã Thống Nhất đnhông c nhận vào giấy chuyển nhượng lô gia
đngày 08/10/1992 được lập giữa ông Trần Quang Vinh và ông Đỗ Đình
N. ông Mười biết thực tế ông N và ông Vinh đã lập hợp đồng sang
nhượng đất gia từ năm 1990 nên ông ời đã ký c nhận trong giấy
chuyển nhượng lô gia đề ngày 08/10/1992, ông Mười ký xác nhận vào ngày
10/11/1992. Sau khi c nhận xong, ông Mười đã giao giấy sang nhượng
cho ông N. Kể tnăm 1990 đến khoảng m 2020-2021 thì gia đình ông Vinh
sống ổn định trên đất không có tranh chấp với gia đình ông N. Sau khi ông
Vinh chết, bà D đã phá dỡ căn nhà xây trên đất tc đó gia đình ông N với
D mới phát sinh tranh chấp.
8
* Người m chứng ông Tống Công Minh trình y tại bản tự khai ngày
18/8/2025: Ông m phó chủ tịch UBND thị trấn Buôn Trấp từ năm 1986 đến
tháng 10/2004, ngày 15/10/1992 ông xác nhận vào giấy chuyển nhượng
gia cư đ ngày 08/10/1992 được lập giữa người mua ông Trần Quang
Vinh và người sang nhượng là ĐĐình N, Việc ông Vinh ông N thỏa thuận
sang nhượng đất tiền như thế nào thì ông không chứng kiến, căn cứ vào xác
nhận của ông Nguyễn Văn Mười chủ nhiệm Hợp tác Thống Nhất c bấy
giờ để ông c nhận vào giấy sang nhượng đất với cách là đại diện UBND
thị trấn Buôn Trấp, N dung xác nhận trong giấy do ông viết. tuổi cao đi
lại khó khăn nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
* Người m chứng ông Quách Văn ớc trình bày tại biên bản lấy lời
khai ngày 06/8/2025: Ông thôn trưởng buôn Rung tnăm 2011 đến nay.
Cách đây khoảng 10 năm, ông Nước nghe ông Đỗ Đình N trao đổi việc ông
N sang nhượng cho vợ chồng ông Trần Quang Vinh, Văn Thị D dịên
tích đất ngang 10m mặt đường tỉnh lộ 2, chiều sâu hết đất cho đến bờ ao nhà
ông N. thời gian y D trao đổi với ông Nước vviệc gia đình ông N
không làm thủ tục tách thửa cho D nên ông Nước i chuyện với ông N
ông N i lại với ông Nước là chưa trả tiền thì không làm bìa được, còn
cụ thviệc vợ chồng ông N vợ chồng bà D thực hiện việc sang nhượng đất
giao tiền cho nhau như thế nào thì ông Nước không biết, không chứng kiến.
Gia đìnhD đã xây nhà trên phần đất đang tranh chấp từ năm 1993-1994 đến
m 2021 tbà D mới pdỡ căn n này. Năm 2021 bà D m thtục đ
nghcấp GCNQSDĐ, ông Nước là đại diện ban tquản thôn ký xác nhận
các thủ tục liên quan đến việc xin cấp GCNQSDĐ, nhưng sau đó D không
được cấp GCNQSDĐ hai bên phát sinh tranh chấp từ m 2024, UBND
thị trấn Buôn Trấp hòa giải nhưng không thành. Ông xác định ktnăm
1993 đến trước m 2024 thì giữa gia đình bà D gia đình ông N không xảy
ra tranh chấp gì. bận công việc, ông không thể tham gia tố tụng tại Tòa án
được nên đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt ông.
Tại Bản án n sự sơ thẩm số 03/2026/DSST ngày 21/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk đã quyết định:
1. Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; 144,
khoản 1 Điều 147; 157, 161, 165, 166; Điều 235, Điều 266; Điều 271 Điều
273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 123, 129, 130, 131; 217, 218, 219,
274, 275, 278 của Bộ luật dân s Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 45
Luật đất đai năm 2024, điểm a khoản 1 Điều 9 Quyết định 41/2024/QĐ-UBND
tỉnh Đắk Lắk ngày 23/10/2024. Căn cứ vào khon 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy
định về án p, lệ pToà án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Văn Thị D.
Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được kết ngày 08/10/1992 giữa người chuyển nhượng ông Đỗ Đình N
người nhận chuyển nhượng ông Trần Quang Vinh, được Hợp tác xã Thống Nhất
9
xác nhận ngày 10/11/1992 UBND thị trấn Buôn Trấp xác nhận ngày
15/11/1992. Theo đó công nhận những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
ông Trần Quang Vinh Văn Thị D, ông Trần Vương Vũ, ông Trần Tiến
Đạt, ông Trần Quang Tiến, Trần Thị Phương Thương được quyền sử dụng
diện tích đất 517,6m
2
trong đó đất 60m
2
, còn lại đất cây lâu năm 457,6m
2
,
được tách tại thửa số 24, tờ bản đồ 01 (3a), diện tích 2.652m
2
theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất CM 439547 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đắk
Lắk cấp ngày 13/8/2018.
Có tứ cận như sau:
+ Phía Nam giáp đất ông Trường,Chín dài 52,05 m.
+ Phía Tây giáp ranh đường Tỉnh lộ 2 dài 9,85 m.
+ Phía Đông giáp ranh ông Đỗ Đình N, dài 10m.
+ Phía Bắc giáp đất ông N dài 52,45m.
Văn Thị D, ông Trần Vương Vũ, ông Trần Tiến Đạt, ông Trần Quốc
Tiến, bà Trần Thị Phương Thương và ông Đỗ Đình N, Nguyễn Thị Thoán có
trách nhiệm liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền làm thủ tục tách thửa,
đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp ông N, Thoán không thực hiện thủ tục tách thửa,
đăng quyền sử dụng đất, thì Văn Thị D, ông Trần Vương Vũ, ông Trần
Tiến Đạt, ông Trần Quang Tiến, Trần Thị Phương Thương quyền liên hệ
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo pháp luật.
Tuyên bố một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
228/2025/HĐTC ngày 05/5/2025 được kết giữa Ngân hàng Nông nghiệp
phát triển nông thôn Việt Nam ông Đỗ Đình N, Nguyễn Thị Thoán đối
với phần diện tích đất 517,6m
2
ông N đã chuyển nhượng cho gia đình
Văn Thị D là vô hiệu.
Ngoài ra, Tòa án cp thẩm còn tuyên v chi phí tố tụng, về án phí quyn
kháng cáo cho c đương s theo quy định của pháp lut.
Ny 05/02/2026, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Đình Tuyền
và người có quyền lợi, nga vụ liên quan bà Nguyn Thị Thoán kháng cáo đ nghị
cấp phúc thẩm t xtheo ng hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
-Nguyên đơn gi nguyên yêu cầu khởi kiện;
-Bị đơn, đại din theo uỷ quyn ca bị đơn người có quyn lợi, nghĩa vụ
liên quan giữ nguyên u cầu kng o;
-Đại din Vin kiểm sát nhân n tỉnh Đắk Lk phát biểu quan điểm v vụ án:
Về tố tụng: Trong qtrình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
10
Về N dung: Kháng cáo của đi din theo y quyền của bị đơn ông Nguyn
Đình Tuyn người quyền lợi, nga v liên quan Nguyn Thị Thoán
không căn cứ; đnghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bluật tố
tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền
li, nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DSST
ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ o các tài liệu có trong hồ vụ án đã đưc thẩm tra tại phn a,
căn cứ o kết qutranh lun tại phn a trên cơ sở xem t đầy đủ các i liu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát vn, Hội đng xét x
nhn định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đại din theo ủy quyền ca bị đơn ông Nguyn Đình
Tuyền và người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ThThoán nộp đơn
kháng cáo trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên Hội
đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét N dung khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Ngày 20/10/1990, ông Đỗ Đình N chuyển nhượng đất cho ông Trần
Quang Vinh. Hai bên viết “Giấy sang nhượng đất lô gia cư” đề ngày 20/10/1990
thể hiện N dung ông Đỗ Đình N sang nhượng cho ông Trần Quang Vinh và
Văn Thị D diện tích đất ngang 10m mặt đường, dài ghi với giá chuyển
nhượng 1,7 chỉ vàng y, tại trang 2 của giấy sang nhượng này thể hiện N dung
“đã đưa trước 1,5 chỉ (một phẩy rưỡi)”. Đến ngày 08/10/1992 hai bên viết lại
“Giấy chuyển nhượng gia cư” thể hiện N dung: Ông Đỗ Đình N
Nguyễn Thị Thoán chuyển nhượng cho ông Trần Quang Vinh diện tích đất
ngang mặt đường 10m, dài ghi sâu vào trong 90 m
2
với giá 01 chỉ vàng,
đồ kèm theo, được Chủ nhiệm Hợp tác nông nghiệp Thống Nhất ông
Nguyễn Văn Mười xác nhận ngày 10/11/1992 và UBND thị trấn Buôn Trấp xác
nhận ngày 15/11/1992 với diện tích sang nhượng 900 m
2
. Sau khi nhận
chuyển nhượng thì gia đình ông Vinh, D đã xây nhà cấp 4 trên đất, quá trình
giải quyết vụ án đại diện của bị đơn thừa nhận việc ông Vinh, D xây nhà
trên phần đất nhận chuyển nhượng. Những người làm chứng ông Nguyễn Văn
Mười nguyên chủ nhịệm Hợp tác Thống Nhất người xác nhận giấy
chuyển nhượng đất ngày 08/10/1992, xác nhận sự việc chuyển nhượng, sau khi
chuyển nhượng gia đình ông Vinh đã làm nhà ổn định, không tranh chấp
gì. Ông Quách Văn Nước thôn trưởng xác định gia đình ông Vinh làm nhà
trên đất không tranh chấp . Tại giấy bán đất đề ngày 02/02/2008 theo đó
D chuyển nhượng lại cho gia đình bà Thoán, ông N phần diện tích đất phía
sau diện ch 250m
2
(10m x 25m) với s tiền 5.500.000đ. Bà Thoán cho
rằng không viết giấy biên nhận. Tuy nhiên, căn cứ kết luận giám định giấy
biên nhận ngày 02/02/2008 do bà Thoán là người viết, nên đủ sở để xác
định gia đình bà Văn ThD đã trả toàn bộ tiền nhận sang nhượng đất cho ông
Đỗ Đình N.
11
[3] t về hình thức hợp đồng chuyển nhượng đất:
Sau khi nhận chuyển nhượng nguyên đơn đã nhận đất quản sử dụng,
đã trả đtiền mua đất cho bđơn, đã xây nhà ổn định từ 1990 đến trước thời
điểm năm 2024 hai bên không tranh chấp gì. Khi ký kết hợp đồng, các bên
đều người đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thhiện ý chí tự nguyện trong
việc tham gia giao dịch. vậy, bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của Văn Thị D. Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được ký kết ngày 08/10/1992 giữa người chuyển nhượng ông Đỗ Đình
N và người nhận chuyển nhượng ông Trần Quang Vinh, được Hợp tác xã Thống
Nhất xác nhận ngày 10/11/1992 Uỷ ban nhân dân thị trấn Buôn Trấp xác
nhận ngày 15/11/1992 là phù hợp.
[4] Xét kháng cáo của đại din theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyn Đình
Tuyền người có quyền li, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ThThn.
Hội đng t xử thấy: Tại kết luận giám định số 1045/KL-KTHS ngày
18/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk thể hiện Chữ ký,
chữ viết ghi họ tên Đỗ Đình N dưới mục “Người sang nhượng” trên “Giấy
chuyển nhượng gia cư" đề ngày 08/10/1992; Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Đỗ
Đình N dưới mục “Người sang nhượng” trên Giấy sang nhượng đất lô gia cư”,
đề “Ngày 20-10-90"; Chữ viết phần ghi N dung bắt đầu và kết thúc: Cộng Hòa
Hội Chủ nghĩa Việt nam... người sang nhượng người được nhượng” (từ
dòng 1 đến dòng 18 tính từ trên xuống, trừ chữ viết “Ngày 20-10-90” dòng
thứ 15 tính từ trên xuống) trên “Giấy sang nhượng đất gia cư”, đề “Ngày 20-
10-90" do cùng một người viết ra. Sau khi kết luân giám định ông
Đỗ Đình N không yêu cầu giám định lại nên kháng cáo cho rng ch viết, ch ký
trên “Giấy chuyển nhượng lô gia cư" đề ngày 08/10/1992 không phải của ông N
“Giấy chuyển nhượng gia cư" đngày 08/10/1992 giả tạo để che dấu
“Giấy chuyển nhượng lô gia cư" 20/10/1990 là không có cơ sở.
[5] t kháng cáo cho rng diện ch đất tranh chấp đã đươc cấp Giấy
CNQSD đất nng Tòa án th tranh chấp quyn sử dụng đất sai.
Hội đồng t xử thấy rng, nguyên đơn Văn Thị D khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
08/10/1992 tuyên bố hiệu một phần hợp đồng thế chấp số
228/2025/HĐTC ngày 05/5/2025. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ
pháp luật tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” phù hợp, đúng quy định của
pháp luật.
[6] Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của đại
din theo ủy quyn của b đơn ông Nguyễn Đình Tuyn người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thoán, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số:
03/2026/DSST ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.
12
[7] Về án phí phúc thẩm: Ông Đỗ Đình N Nguyn Thị Thoán phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29
của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Không chấp nhận kháng cáo của đi diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Nguyễn Đình Tuyn và người có quyền lợi, nga vụ liên quan Nguyn Thị
Thoán;
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số : 03/2026/DSST ngày 21/01/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39; 144, khoản 1 Điều 147;
157, 161, 165, 166 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 123, 129,
130, 131 của Bộ luật dân sự Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 45 Luật đất
đai năm 2024, điểm a khoản 1 Điều 9 Quyết định 41/2024/QĐ-UBND tỉnh Đắk
Lắk ngày 23/10/2024; Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Văn Thị D;
[2] ng nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được kết ngày 08/10/1992 giữa người chuyển nhượng ông Đỗ Đình N
người nhận chuyển nhượng ông Trần Quang Vinh, được Hợp tác xã Thống Nhất
xác nhận ngày 10/11/1992 UBND thị trấn Buôn Trấp xác nhận ngày
15/11/1992. Theo đó công nhận những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
ông Trần Quang Vinh Văn Thị D, ông Trần Vương Vũ, ông Trần Tiến
Đạt, ông Trần Quang Tiến, Trần Thị Phương Thương được quyền sử dụng
diện tích đất 517,6m
2
trong đó đất 60m
2
, còn lại đất cây lâu năm 457,6m
2
,
được tách tại thửa số 24, tờ bản đồ 01 (3a), diện tích 2.652m
2
theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất CM 439547 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đắk
Lắk cấp ngày 13/8/2018.
Có tứ cận như sau:
+ Phía Nam giáp đất ông Trường,Chín dài 52,05 m.
+ Phía Tây giáp ranh đường Tỉnh lộ 2 dài 9,85 m.
+ Phía Đông giáp ranh ông Đỗ Đình N, dài 10m.
+ Phía Bắc giáp đất ông N dài 52,45m.
Văn Thị D, ông Trần Vương Vũ, ông Trần Tiến Đạt, ông Trần Quốc
Tiến, bà Trần Thị Phương Thương và ông Đỗ Đình N, Nguyễn Thị Thoán có
13
trách nhiệm liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền làm thủ tục tách thửa,
đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp ông Đỗ Đình N, bà Nguyễn Thị Thoán không thực hiện
thủ tục tách thửa, đăng quyền sử dụng đất, thì bà Văn Thị D, ông Trần
Vương Vũ, ông Trần Tiến Đạt, ông Trần Quang Tiến, Trần Thị Phương
Thương quyền liên hệ quan nhà nước thẩm quyền đăng quyền sử
dụng đất theo pháp luật.
[3] Tuyên bố một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
228/2025/HĐTC ngày 05/5/2025 được kết giữa Ngân hàng Nông nghiệp
phát triển nông thôn Việt Nam ông Đỗ Đình N, Nguyễn Thị Thoán đối
với phần diện tích đất 517,6m
2
ông Đỗ Đình N đã chuyển nhượng cho gia
đình bà Văn ThD là vô hiệu.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
Giải quyết theo bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DSST ngày
21/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Đình N, Nguyễn Thị Thoán
mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc
thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nộp
tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0001672 0001671 cùng ngày
19/01/2026 (Đỗ Đình Tuyền nộp thay) của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 5-Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 5;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Minh Quang
Tải về
Bản án số 295/2026/DS-PT Bản án số 295/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 295/2026/DS-PT Bản án số 295/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất