Bản án số 304/2026/DS-PT ngày 02/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 304/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 304/2026/DS-PT ngày 02/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 304/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lương Công Q; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 304/2026/DS-PT
Ngày 02 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng ủy quyền và hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết.
Các Thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm.
Ông Trần Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Mai Loan - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2026, tại trsở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩmng khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/2026/TLPT-DS ngày
19/3/2026 vviệc Tranh chấp hợp đồng ủy quyền hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 91/2025/DS-ST ngày
18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số: 229/2026/QĐ-PT
ngày 21/4/2026 Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 303/2026/QĐ-PT
ngày 14/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lương Công Q, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A L,
phường T, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hùng V, sinh
năm 1962; địa chỉ: Số D N, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày
29/5/2025); Có mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành
phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là: Khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk); Hiện đang bị
tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh Đ; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969 (Chết ngày 30/7/2025).
3. Bà Trương Thị Đ, sinh năm 1972 (Chết năm 2023).
2
Cùng địa chỉ: Thôn P, H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Nay là: Thôn P,
phường P, tỉnh Đắk Lắk).
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn B,
Trương Thị Đ:
3.1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1949; Vắng mặt.
3.2. Nguyễn Thị Diễm T2, sinh năm 1993; đơn xin xét xử vắng
mặt.
Cùng địa chỉ: Khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk.
3.3. Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1995; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.4. Bà Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 2001; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.5. Bà Nguyễn Thị Cẩm T4, sinh năm 2005; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.6. Cháu Nguyễn Thị Như Q1, sinh năm 2013; đơn xin xét xvắng
mặt.
3.7. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1941; Vắng mặt.
3.8. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1945; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn P, H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Nay là: Thôn P,
phường P, tỉnh Đắk Lắk).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trịnh N, sinh năm 1970; Vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị Phước H1, sinh năm 1979; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn P, H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Nay là: Thôn P,
phường P, tỉnh Đắk Lắk).
3. Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Số B H, phường T, tỉnh Đắk Lắk;
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lương Công Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lương Công Q người đại diện ủy quyền ông
Nguyễn Hùng V trình bày:
Vợ chồng ông Nguyễn Văn B, Trương Thị Đ được Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CX 780430 ngày 26/01/2022 đối với thửa đất
số 25, tbản đồ số 25 (đo đạc năm 2013), diện tích 979m
2
, gồm 60m
2
đất
nông thôn 919m
2
đất trồng cây hàng năm khác, thuộc thôn P, H, thị Đ,
tỉnh Phú Yên.
Ngày 15/10/2022, ông B, Đ ủy quyền cho ông Trần Ngọc T (theo Hợp
đồng ủy quyền công chứng số 06112, tại Văn phòng C1) để “được quyền quản
lý, sdụng, nhận tiền chuyển nhượng, tặng cho (nếu có) đối với quyền sử dụng
thửa đất nêu trên. Thay mặt bên A thực hiện tên trong Hợp đồng chuyển
3
nhượng, tặng cho, đất cọc, thế chấp, cho thuê, cho mượn, hủy hợp đồng chuyển
nhượng, tặng cho (nếu có) các thủ tục hành chính khác liên quan đến quyền
sử dụng đất nói trên”.
Ngày 22/12/2022, ông Q nhận chuyển nhượng thửa đất trên với giá
1.000.000.000 đồng (Giá chuyển nhượng trong hợp đồng 200.000.000 đồng).
Trước khi mua đất, nguyên đơn đến xem hiện trạng trên đất nhà cấp 4, vợ
chồng ông B đang sử dụng. Sau khi chuyển nhượng nguyên đơn đã đưa số tiền
1.000.000.000 đồng cho ông T, ông T cũng thừa nhận việc này. Cả 02 Hợp đồng
ủy quyền chuyển nhượng quyền sdụng đất đều được công chứng tại Văn
phòng C2
Ngày 20/3/2023 nguyên đơn nộp hồ đăng biến động tại Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai thị Đ, nhưng sau đó ông T nói sẽ trả lại tiền
hủy hợp đồng chuyển nhượng. Nguyên đơn đồng ý nên đã rút lại hồ đăng
theo Thông báo số 144/TB-CNVPĐK ngày 04/7/2023. Tuy nhiên, từ đó đến nay
ông T không trả lại nguyên đơn số tiền 1.000.000.000 đồng.
Việc vợ chồng ông B, bà Đ Đơn ngăn chặn mua bán (ghi năm 2023,
không ngày tháng) gửi Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh P, Phòng Tài
nguyên Môi trường thị Đ, Văn phòng Đăng đất đai thị xã Đ yêu cầu
không thực hiện thủ tục đăng sang tên, mua bán chuyển nhượng Thông
báo ghi ngày 23/11/2023 về việc chấm dứt Hợp đồng ủy quyền ngày 15/10/2022
với ông T đối với thửa đất số 25, tờ bản đsố 25 thuộc thôn P, H, thị Đ,
tỉnh Phú Yên, sau khi ông T đã hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho ông Q
là không đúng pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q,
cụ thể là không thực được quyền đăng ký biến động, sang tên người sử dụng đất.
Đối với các hợp đồng chuyển nhượng giữa vchồng ông B, Đ với ông
Trịnh N ngày 06/7/2020, và hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông B,
Đ với ông T ngày 22/6/2021: Các hợp đồng này không được công chứng, chứng
thực, không được pháp luật thừa nhận, nên các giao dịch này đã bị hiệu ngay
từ khi giao kết hợp đồng.
Nguyên đơn yêu cầu: Công nhận Hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng ông
Nguyễn Văn B, bà Trương Thị Đ (bên A) y quyền cho ông Trần Ngọc T (bên
B), về việc ủy quyền cho ông Trần Ngọc T: “được quyền quản lý, sử dụng, nhận
tiền chuyển nhượng, tặng cho (nếu có) đối với quyền sử dụng thửa đất nêu trên,
được Văn Phòng C1 công chứng ngày 14/10/2022, số công chứng 06112; Công
nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Trần Ngọc T đại diện cho vợ
chồng ông Nguyễn Văn B, Trương Thị Đ với ông Lương Công Q về việc
chuyển nhượng QSDĐ cho ông Lương Công Q, chuyển nhượng toàn bộ thửa đất
nêu trên; Ông Lương Công Q được quyền đăng biến động sang tên theo
4
quy định của pháp luật đất đai. Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu của bị đơn
về đề nghị trả lại GCNQSDĐ số CX 780430 ngày 26/01/2022.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ý kiến: Trường hợp Tòa án tuyên hủy hoặc
tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng thì yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp
đồng buộc ông Trần Ngọc T những người kế thừa quyền nghĩa vụ của
ông Nguyễn Văn B, bà Trương Thị Đ phải liên đới trả lại 1.000.000.000 đồng và
lãi suất chậm trả theo quy định; khi nào bị đơn trả hết tiền thì nguyên đơn trả lại
GCNQSDĐ.
Bị đơn ông Trần Ngọc T trình bày:
Tôi và vợ chồng ông B, Đ quen biết nhau, vợ chồng ông B đất
diện tích khoảng 900m
2
tại thôn P, H, thị Đ; ông B đã bán bớt một phần
đất cho người khác. Tôi có mua 01 lô đất của ông B nhưng chưa làm thủ tục tách
thửa nên vợ chồng ông B giao cho tôi giấy tờ nhà đi làm thủ tục tách thửa.
Vợ chồng ông B mượn thêm tiền của tôi để cho con của vợ chồng ông
B lấy tiền làm ăn, cụ thể: Ngày 13/9/2021 mượn số tiền 100.000.000 đồng, ngày
05/11/2021 mượn 20.000.000 đồng, ngày 23/5/2022 mượn 150.000.000 đồng,
ngày 14/10/2022 mượn 850.000.000 đồng, tổng cộng là 1.120.000.000 đồng. Vợ
chồng ông B thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 780430 do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh P cấp ngày 26/01/2022 cho tôi, hứa nếu đến
hẹn không trả thì thửa đất trên sẽ thuộc toàn quyền sở hữu của tôi. Do đó, ông B,
Đ hợp đồng ủy quyền ngày 14/10/2022 cho tôi có quyền bán lô đất trên để
thu hồi nợ. Ngày 22/12/2022 tôi ông Q ký kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng thửa đất nói trên với giá 200.000.000 đồng. Số tiền tôi cho vợ
chồng ông B vay cũng từ số tiền tôi mượn của ông Q 1.000.000.000 đồng,
nhưng để làm tin cho ông Q nên hai bên mới kết hợp đồng chuyển nhượng
ngày 22/12/2022.
Nay ông Q khởi kiện, tôi thừa nhận có nợ ông Q 1.000.000.000 đồng, hiện
tại tôi có lô đất mua của ông B, tôi sẽ bán lô đất giá 500.000.000 đồng để trả cho
ông Q, số tiền còn lại yêu cầu vợ chồng ông B trả lại cho tôi để tôi có tiền trả lại
cho ông Q. Tôi cũng xin ông Q cho tôi mượn lại giấy tờ đất đlàm thủ tục tách
thửa đã bán, xong sẽ giải quyết cho Q.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/6/2025, ông T yêu cầu vợ chồng ông
B, Đ H trả lại số tiền ông T đứng ra mượn dùm; trong thửa đất của ông
B, Đ 01 phần đất đã bán cho ông T, ông Q nhận thửa đất đó trừ bớt số
tiền nợ 1.000.000.000 đồng; ông T không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng vì đây là hợp đồng giả cách để vay tiền.
Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
Vợ chồng tôi tạo lập được nhà đất tại thôn P, H, thị Đ, tỉnh
Phú Yên thửa đất s25, tờ bản đồ 30 (đo đạc năm 2013), diện tích 979m
2
.
5
Việc ông T tự ý bán thửa đất trên của chúng tôi cho ông Lương Công Q trái
pháp luật, không sự đồng ý của chúng tôi. Đề nghị Tòa án buộc ông T trả lại
sổ đỏ thửa đất trên cho gia đình tôi, còn quan hệ vay mượn giữa ông T và ông Q
tôi không liên quan.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ của bị đơn ông Nguyễn Văn B,
Trương Thị Đ Nguyễn Thị Diễm T2, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Th
Bích H, Nguyễn Thị Thu T3, Nguyễn Thị Cẩm T4, cháu Nguyễn Thị
Như Q1 trình bày: Ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Đ có tạo lập được nhà
đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ 30 (đo đạc năm 2013), diện tích 979m
2
, thôn
P, H, thĐ, tỉnh Phú Yên. Chúng tôi đề nghị hủy bỏ hợp đồng y quyền
ngày 14/10/2022 giữa ông B, Đ với ông Trần Ngọc T hợp đồng ủy quyền
này có nội dung lừa dối, không đúng quy định pháp luật, ông T nói ký ủy quyền
cho ông T để đi làm thủ tục tách thửa, hoàn thiện việc chuyển nhượng một phần
thửa đất cho những người mua đất của ông B, Đ từ trước đó ông Trịnh N
và ông T.
Ông T viết giấy biên nhận ngày 14/10/2022 nhận sổ đỏ để làm thủ tục
tách thửa, không việc chuyển nhượng. Việc ông T tự ý bán toàn bộ thửa đất
nêu trên của chúng tôi cho ông Lương Công Q là hoàn toàn trái pháp luật, không
sự đồng ý của chúng tôi. Thửa đất này tài sản của ông B Đ, ông T
không quyền định đoạt hay bán cho người khác. Chúng tôi không nhận số
tiền chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng của ông Q, quan hệ vay mượn giữa ông
T ông Q chúng tôi không liên quan gì, chúng tôi không chấp nhận yêu cầu
tiếp tục thực hiện hợp đồng, đề nghị Tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu, buộc ông Q
trả lại giấy chứng nhận quyền sdụng thửa đất trên cho gia đình tôi, ông T
người nhận tiền thì có trách nhiệm trả lại cho ông Q.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày: Tại hồ
công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 07428, quyển
số 03/2022 TP/CC-SCC/HDGD do Văn phòng C1, tỉnh Phú Yên (nay Văn
phòng C, tỉnh Đắk Lắk) chứng nhận ngày 22/12/2022, ông Nguyễn Văn B
Trương Thị Đ chủ sử dụng thửa đất số 25, t bản đồ số 30 (Đo đạc năm
2013), diện tích 979m
2
, địa chỉ: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay
Khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk), đã y quyền chuyển nhượng quyền sử
dụng thửa đất GCNQSDĐ số CX 780430, do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh P cấp ngày 26/01/2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013, thời điểm thực hiện các
quyền của người sử dụng đất: Người sdụng đất được thực hiện các quyền
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử
dụng đất khi giấy chứng nhận”. Tại thời điểm chuyển nhượng QSDĐ, Văn
phòng C1 không nhận bất kỳ văn bản tranh chấp của nhân, tổ chức nào đối
6
với thửa đất trên và cơ quan thi hành án cũng không văn bản ngăn chặn. Ông
B Đ đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ nói trên không bị tranh chấp,
không phải thi hành án, đã đủ điều kiện đchuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
Tại thời điểm lập Hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng QSDĐ, ông B và bà
Đ đủ năng lực hành vi dân sự. Tại thời điểm lập hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ, ông Trần Ngọc T người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà Đ và
ông Lương Công Q đều đủ năng lực hành vi dân stự mình quyết định được
mọi vấn đề trong giao dịch về tài sản. Việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hoặc ép buộc.
Căn cứ Điều 40 Luật Công chứng năm 2014; khoản 1 Điều 168 Luật Đất
đai năm 2013; Điều 19, Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Hợp đồng ủy
quyền công chứng số 06112 ngày 15/10/2022 Văn phòng C1, tỉnh Phú Yên (nay
Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk) đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất số: 07428, quyển số 03/2022 TP/CO SCC/HĐGD đúng quy định
pháp luật.
Tại Bản án dân s thẩm số: 91/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 184, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều
124, Điều 164, Điều 166, Điều 408, Điều 422, Điều 568, Điều 569 của Bộ luật
dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương
Công Q chấp nhận yêu cầu phản tố của người kế thừa quyền nghĩa vtố
tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn B, bà Trương Thị Đ.
+ Tuyên bố chấm dứt hợp đồng ủy quyền công chứng số 06112, quyển số
02/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/10/2022 giữa ông Nguyễn Văn B, bà
Trương Thị Đông Trần Ngọc T.
+ Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào sổ công
chứng số 07428, quyển số 03/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/12/2022, giữa
ông Trần Ngọc T (nhận ủy quyền của ông Nguyễn Văn B, Trương Thị Đ)
ông Lương Công Q vô hiệu.
+ Buộc bị đơn ông Trần Ngọc T phải trả cho nguyên đơn ông Lương
Công Q số tiền 1.274.166.665 đồng (Một tỷ, hai trăm bảy mươi bốn triệu, một
trăm sáu ơi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó gồm
1.000.000.000 đồng tiền gốc và 274.166.665 đồng tiền lãi.
7
Kể từ ngày 19/12/2025 đến khi thi hành xong, bị đơn còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
+ Buộc ông Lương Công Q phải trả lại cho người kế thừa quyền nghĩa
vụ của bị đơn Nguyễn Văn B, Trương Thị Đ: Bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CX 780430, Sở Tài nguyên môi trường tỉnh P cấp ngày
26/01/2022, thửa đất số 25, tờ bản đồ số 30 (đo đạc năm 2013) cho ông Nguyễn
Văn B, bà Trương Thị Đ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Ngọc T phải chịu 50.225.000 đồng (Năm mươi triệu hai trăm
hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lương Công Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự thẩm về yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được
khấu trừ vào số tiền 21.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
00012709 ngày 08/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa
(nay Thi hành án dân sự tỉnh Đ). Ông Lương Công Q được nhận lại
20.700.000 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền án phí dân s
thẩm.
Hoàn trả cho người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông B, Đ 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006076
ngày 21/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa (nay là Thi
hành án dân sự tỉnh Đ).
3. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Ngọc T nghĩa vụ trả cho ông Lương
Công Q 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền
kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 29/12/2025, nguyên đơn ông Lương Công Q đơn kháng cáo bản
án thẩm với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bác đơn khởi kiện của
người kế thừa quyền nghĩa vtố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn B,
Trương Thị Đ; Đồng thời chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn:
Công nhận Hợp đồng ủy quyền ngày 15/10/2022 giữa bên ủy quyền ông Nguyễn
Văn B, Trương Thị Đ với bên được ủy quyền ông Trần Ngọc T tại Văn
phòng C1 hiệu lực pháp luật; Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 22/12/2022 giữa ông Trần Ngọc T (Là đại diện ủy quyền của
ông Nguyễn Văn B, Trương Thị Đ) với ông Lương Công Q hiệu lực
pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện
và đơn kháng cáo.
8
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ
vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông
Lương Công Q; Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s91/2025/DS-ST ngày
18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định và
đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết theo trình tự
phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét nội dung khởi kiện nội dung kháng cáo của
nguyên đơn ông Lương Công Q, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 15/10/2022 ông Nguyễn Văn B, Trương Thị Đ hợp đồng ủy
quyền cho ông Trần Ngọc T số công chứng 06112, quyền số 02/2022.TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 15/10/2022 tại Văn phòng C1, tỉnh Phú Yên; nội dung:
“Ông B Đ ủy quyền cho ông T quản sử dụng, chuyển nhượng, nhận tiền
chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho thuê, cho mượn, hủy hợp đồng chuyển
nhượng, tặng cho đối với quyền sử dụng đất.
Thay mặt ông B Đ thực hiện tên trong hợp đồng chuyển nhượng
tặng cho, đặt cọc thế chấp, cho thuê, cho mượn, hủy hợp đồng chuyển nhượng,
tặng cho (nếu có) các thtục hành chính khác liên quan đến quyền sử dụng
đất nói trên.
Thay mặt ông B, Đ đi xin đo đạc, trích lục hồ các giấy tờ liên quan
đến việc tách thửa và chuyển mục đích sử dụng đất trên.
Thay mặt bên y quyền nhận lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất sau khi tách thửa và chuyển mục đích sử dụng đất”.
Thực tế hợp đồng ủy quyền ngày 15/10/2022 là giả tạo nhằm che giấu hợp
đồng vay tiền giữa ông B, bà Đ với ông T nên hiệu ngay từ khi kết. Sau
khi ông B, Đ hợp đồng ủy quyền cho ông T, ngày 22/12/2022 ông T
hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 25 cho ông Lương Công Q. Ngày
20/3/2023 ông Q nộp hồ sơ đăng biến động quyền sử dụng đất, nhưng sau đó
ông T đề xuất trả lại tiền ông Q trả lại GCNQSDĐ xem như thỏa thuận hủy
hợp đồng, không thực hiện việc chuyển nhượng”. Ông Q đồng ý nên đã rút lại hồ
9
đăng theo Thông báo số 144/TB-CNVPĐK ngày 04/7/2023. Đến nay các
bên vẫn chưa hoàn tất thủ tục sang tên. Tuy nhiên, quá trình ttụng ông Q lại
cho rằng ông T không trả lại tiền theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu
cầu Tòa án công nhận hiệu lực hợp đồng là mâu thuẫn.
Tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 22/12/2022 giữa
ông Trần Ngọc T ông Lương Công Q, đối với thửa đất s 25, diện tích
979m
2
, thì ông T hợp đồng chuyển nhượng cho ông Q toàn bộ diện tích
979m
2
, nhưng trong đó 300m
2
ông B Đ đã chuyển nhượng cho ông Trịnh
N Nguyễn Thị Phước H1 vào ngày 06/7/2020, ông N đã xây nhà từ năm
2019 và kinh doanh quán ăn ổn định đến nay; diện tích còn lại các con ông B bà
Đ đang quản sử dụng. Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 22/6/2021 ông B Đ chỉ chuyển nhượng cho ông T diện tích 198m
2
(không chuyển nhượng toàn bộ diện tích 979m
2
). Do đó ông T chuyển nhượng
toàn bộ diện tích 979m
2
bao gồm phần diện tích đất ông B Đ đã chuyển
nhượng cho ông N H1 không đúng. Tòa án cấp thẩm tuyên hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/12/2022 giữa ông Trần Ngọc T
và ông Lương Công Q là có cơ sở.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của ông
Lương Công Q không căn cứ để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án
thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Lương Công Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lương Công Q;
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 91/2025/DS-ST ngày 18/12/2025
của Tòa án nhân n khu vực 11 - Đắk Lắk.
[2] Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 91, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ
luật ttụng dân sự; các Điều 124, Điều 164, Điều 166, Điều 408, Điều 422,
Điều 568, Điều 569 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[2.1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương
Công Q chấp nhận yêu cầu phản tố của người kế thừa quyền nghĩa vụ t
tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn B, bà Trương Thị Đ.
10
+ Tuyên bố hợp đồng y quyền công chứng số 06112, quyển số
02/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/10/2022 tại Văn phòng C1, tỉnh Phú Yên
(Nay Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk), giữa người ủy quyền ông Nguyễn Văn B,
bà Trương Thị Đ với người được ủy quyền ông Trần Ngọc T vô hiệu.
+ Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào sổ công
chứng số 07428, quyển số 03/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/12/2022 tại
Văn phòng C1, tỉnh Phú Yên (Nay Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk), giữa người
chuyển nhượng ông Trần Ngọc T (nhận ủy quyền của ông Nguyễn Văn B,
Trương Thị Đ) với người nhận chuyển nhượng ông Lương Công Q vô hiệu.
[2.2] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
+ Buộc ông Trần Ngọc T phải trả cho ông Lương Công Q số tiền
1.274.166.665 đồng (Một tỷ, hai trăm bảy mươi bốn triệu, một trăm sáu ơi
sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó gồm 1.000.000.000 đồng tiền
gốc và 274.166.665 đồng tiền lãi.
+ Buộc ông Lương Công Q phải trả lại cho người kế thừa quyền nghĩa
vụ của bị đơn Nguyễn Văn B, Trương Thị Đ: Bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CX 780430 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh P cấp ngày
26/01/2022, thửa đất số 25, tờ bản đồ số 30 (đo đạc năm 2013) cho ông Nguyễn
Văn B, bà Trương Thị Đ.
[2.3] Về chi phí tố tụng: Ông Trần Ngọc T có nghĩa vụ trả cho ông Lương
Công Q 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
Bộ luật dân sự năm 2015.
[2.4] Về án phí:
[2.4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Ngọc T phải chịu 50.225.000 đồng (Năm mươi triệu hai trăm
hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lương Công Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự thẩm, được khấu trừ vào số tiền 21.000.000 đồng tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 00012709 ngày 08/11/2023 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Tuy Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đ). Ông Lương Công
Q được nhận lại 20.700.000 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông B, Đ 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006076
11
ngày 21/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa (nay là Thi
hành án dân sự tỉnh Đ).
[2.4.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lương Công Q phải chịu 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000
đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000174 ngày
08/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 11 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 11 – Đắk Lắk; (Đã ký)
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Đình Triết
12
13
14
Tải về
Bản án số 304/2026/DS-PT Bản án số 304/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 304/2026/DS-PT Bản án số 304/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất