Bản án số 726/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 726/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 726/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 726/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 726/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 726/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | QUÁCH THỊ TUYẾT H - PHAN MAI TR |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 726/2026/DS-PT
Ngày: 28-05-2026
Về việc “tranh chp yêu cầu huỷ hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đt”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn, Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Đặng Thị Cẩm Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 291/2025/TLPT-DS ngày 10
tháng 04 năm 2026 về việc “Tranh chp yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đt”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 347/2026/QĐ-PT ngày
14 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Quách Thị Tuyết H, sinh năm: 1978
Địa chỉ: khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh
năm 1994
Địa chỉ: khu phố T, phường L, tỉnh Tây Ninh.
(Theo văn bản uỷ quyền ngày 29/5/2025) (vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Phan Mai T1, sinh năm: 1977
2. Ông Đặng Thế P, sinh năm: 1977
3. Địa chỉ: khu phố T, phường L, tỉnh Tây Ninh. (bà T1 có mặt).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm:
1976.
Địa chỉ: khu phố C, phường L, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Quách Thị Tuyết H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Quách
Thị Tuyết H, do bà Nguyễn Thị Ngọc T đại diện theo ủy quyền, trình bày:
Theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số
44/2024/QĐCNHGT-DS ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây
Ninh, bà Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P có nghĩa vụ trả cho bà Hằng số tiền
411.500.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K. Sau khi yêu cầu thi hành án, bà H phát hiện
bà T1, ông P đã chuyển nhượng quyền sử dụng đt thửa số 912, tờ bản đồ số 6, diện
tích 2.356m², tọa lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh cho bà Nguyễn Thị Thùy T2 theo
hợp đồng công chứng số 4905 ngày 22/5/2024, sau đó được thay thế bằng hợp đồng
công chứng số 9816 ngày 21/9/2024 tại Văn phòng C. Bà H cho rằng việc chuyển
nhượng này nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án nên yêu cầu Tòa
án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt nêu trên vô hiệu.
Bị đơn bà Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P, do bà T1 đại diện, trình bày: Vợ
chồng bà thừa nhận còn nghĩa vụ trả tiền, vàng cho bà H và hiện chưa thi hành được
do làm ăn khó khăn. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng thửa đt số 912 cho bà T2 là
giao dịch mua bán thật, không phải hợp đồng giả cách để vay tiền và cũng không
nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Bà T1 cho rằng hiện vợ chồng bà vẫn còn tài
sản là thửa đt số 553, 579, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.109,6m², tọa lạc tại p C, xã
C, tỉnh Tây Ninh, đang bị cơ quan thi hành án kê biên để thi hành nghĩa vụ cho bà
H. Do đó, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H, đề nghị công nhận hiệu
lực hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng bà với bà T2. Trường hợp hợp đồng bị
tuyên vô hiệu thì vợ chồng bà đồng ý hoàn trả cho bà T2 tổng cộng 650.000.000
đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị
Thùy T2 trình bày: Bà và vợ chồng bà T1, ông P không có quan hệ họ hàng, chỉ quen
biết do bà T1 từng làm việc cho bà. Do biết vợ chồng bà T1 có nhu cầu bán đt nên
bà T2 nhận chuyển nhượng thửa đt số 912 với giá thực tế 550.000.000 đồng. Việc
mua bán là thật, không phải giao dịch giả cách để bảo đảm khoản vay. Quá trình
thực hiện, các bên có nhiều lần ký hợp đồng rồi hủy, ký lại do việc sang tên gặp
vướng mắc về nghĩa vụ thuế. Bà T2 yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển
nhượng, trường hợp Tòa án không công nhận hợp đồng thì yêu cầu bà T1, ông P
hoàn trả 550.000.000 đồng và bồi thường tiền trượt giá 100.000.000 đồng, tổng cộng
650.000.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
đề nghị tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt đối với thửa 912 vô hiệu
do nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Bà T2 giữ nguyên yêu cầu
độc lập, đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng, nếu hợp đồng vô hiệu thì yêu
cầu bị đơn hoàn trả tiền và bồi thường. Bà T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của
3
bà H, đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng với bà T2. Vụ án đã được Tòa án
cp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Tại Bản án sơ thẩm số 39/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh, đã căn cứ vào các Điều 119, Điều 500, 501,
502, 503 của Bộ luật Dân sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đt đai 2013;
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị Tuyết H đối với bà
Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P về việc “Tranh chp yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đt”.
2. Chp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thùy T2 đối với bà Phan
Mai T1 và ông Đặng Thế P về việc “Tranh chp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đt”.
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt ông Đặng
Thế P và bà Phan Mai T1 với bà Nguyễn Thị Thùy T2 đối với thửa đt số 912, tờ
bản đồ số 6, diện tích 2.356 m
2
, toạ lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh; công chứng
số công chứng số 9816, quyển số 10/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/9/2024 tại
Văn phòng C.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, thời hạn kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 02/2/2026, nguyên đơn bà Quách Thị Tuyết H kháng cáo không đồng ý với
bản án sơ thẩm, đề nghị sửa án sơ thẩm, chp nhận yêu cầu khởi kiện của bà và cho
rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt giữa bà Phan Mai T1, ông Đặng
Thế P với bà Nguyễn Thị Thùy T2 đối với thửa đt số 912, tờ bản đồ số 6, diện tích
2.356m², tọa lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh là giao dịch giả cách nhằm che giu
hợp đồng vay tài sản và nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án đối
với bà H.
Tại đơn kháng cáo bà H cho rằng bà T2 khai nhận việc mua bán đt kéo dài
nhiều năm nhưng không thực hiện thủ tục sang tên, các bên nhiều lần hủy rồi ký lại
hợp đồng, giá chuyển nhượng thực tế 550.000.000 đồng nhưng hợp đồng trước đây
chỉ ghi 100.000.000 đồng là không phù hợp với giao dịch mua bán thông thường.
Ngoài ra, bà H cho rằng bà T1 vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng đt sau khi ký hợp
đồng chuyển nhượng. Bà H còn cung cp bản ghi âm, bản giải trình thể hiện bà T1
thừa nhận việc vay tiền dưới hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đt đối với thửa đt số 912 và các thửa 553, 579. Từ đó, bà H yêu cầu cp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm, chp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đt giữa bà T1, ông P với bà T2 vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không cung cp chứng cứ mới.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
4
Bị đơn bà Phan Mai T1 trình bày: Không đồng ý với nội dung kháng cáo của
bà Quách Thị Tuyết H, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Bị đơn cho rằng
việc chuyển nhượng quyền sử dụng đt vào ngày 21/9/2024 đối với thửa đt số 912
cho bà Nguyễn Thị Thùy T2 là giao dịch mua bán thực tế, được các bên tự nguyện
xác lập, không phải giao dịch giả tạo nhằm che giu việc vay tiền hoặc nhằm trốn
tránh nghĩa vụ thi hành án. Ngoài ra, bị đơn vẫn còn tài sản khác là thửa 553, 579 để
bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị
Thùy T2 trình bày: Không đồng ý với kháng cáo của bà Quách Thị Tuyết H, đề nghị
giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà T2 cho rằng việc nhận chuyển nhượng thửa đt số
912 là có thật, đã thanh toán tiền cho bà T1, ông P theo thỏa thuận. Việc các bên
nhiều lần hủy và ký lại hợp đồng là do vướng mắc trong thủ tục sang tên, không làm
thay đổi bản cht của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đt. Do đó, đề nghị
tiếp tục công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt đã ký kết
giữa các bên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến cho rằng:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án ở cp phúc thẩm, Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của pháp luật. Kháng cáo của bà H được nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ,
nên được xem xét theo ttrình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt ngày 21/9/2024
giữa bà Phan Mai T1, ông Đặng Thế P với bà Nguyễn Thị Thùy T2 đối với thửa đt
số 912, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.356m², tọa lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh, được
công chứng số 9816, quyển số 10/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/9/2024 tại Văn
phòng C, được lập đúng hình thức, đúng chủ thể, nội dung không vi phạm điều cm
của luật, không trái đạo đức xã hội, không có căn cứ xác định hợp đồng này là giả
tạo hoặc nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chp nhận kháng cáo của nguyên đơn,
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1] Về tố tụng:
[1.1] Về tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Quách Thị Tuyết H
thực hiện đúng theo quy định tại các 271, 272, Điều 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng
dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Quách Thị Tuyết H và bị đơn ông Đặng
5
Thế P nhưng những người này đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Căn cứ nội dung đơn kháng cáo của Quách
Thị Tuyết H, cp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm bị kháng cáo theo
quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bà Quách Thị Tuyết H thy rằng:
[2.1] Bà Quách Thị Tuyết H khởi kiện yêu cầu tuyên hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đt ngày 21/9/2024 giữa bà Phan Mai T1, ông Đặng Thế P
với bà Nguyễn Thị Thùy T2 đối với thửa đt số 912, tờ bản đồ số 6, diện tích
2.356m², tọa lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh, với lý do cho rằng bà T1 và ông P
chuyển nhượng đt nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án đối với bà
H theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành số 44/2024/QĐCNHGT-DS
ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, nay là
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh, buộc bà T1 và ông P trả cho bà Hằng số
tiền 411.500.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K.
[2.2] Về nguồn gốc, tình trạng pháp lý và đối tượng hợp đồng: Quyền sử dụng
đt tranh chp là thửa đt số 912, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.356m² tọa lạc tại p C,
xã C, tỉnh Tây Ninh. Đây là tài sản đã được cp giy chứng nhận quyền sử dụng đt
cho bà Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P, nên tại thời điểm giao kết hợp đồng, bà T1
và ông P là người có quyền sử dụng đt hợp pháp, có quyền chuyển nhượng quyền
sử dụng đt theo quy định của pháp luật về đt đai và pháp luật về dân sự.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt lần đầu được các bên lập và
công chứng số 4905, quyển số 10/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/5/2024 tại Văn
phòng C. Sau đó, các bên thỏa thuận hủy hợp đồng này và ký lại bằng Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đt công chứng số 9816, quyển số 10/2024TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 21/9/2024 tại Văn phòng C. Hai hợp đồng nêu trên có cùng chủ
thể chuyển nhượng là bà Phan Mai T1, ông Đặng Thế P, cùng bên nhận chuyển
nhượng là bà Nguyễn Thị Thùy T2, cùng đối tượng là thửa đt số 912, tờ bản đồ số
6, diện tích 2.356m² cùng tọa lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh. Do đó, cp sơ thẩm
xác định hợp đồng số 9816 ngày 21/9/2024 là hợp đồng thay thế hợp đồng số 4905
ngày 22/5/2024 để xem xét là phù hợp, không vượt quá phạm vi khởi kiện.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt vào ngày 21/9/2024 giữa bà T1,
ông P với bà T2 được lập thành văn bản, có công chứng tại Văn phòng C. Hình thức
của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 119, Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015
và điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đt đai năm 2013. Vì vậy, không có căn cứ cho
rằng hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức.
Bà Phan Mai T1, ông Đặng Thế P và bà Nguyễn Thị Thùy T2 đều là người có
đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, không có tài liệu, chứng
cứ nào thể hiện các bên bị mt năng lực, hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị lừa dối,
đe dọa, cưỡng ép khi giao kết hợp đồng. Do đó, điều kiện về chủ thể của giao dịch
dân sự được bảo đảm theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà T2 trình bày việc nhận chuyển nhượng thửa đt số 912 là có thật, giá
chuyển nhượng thực tế là 550.000.000 đồng; bà T1 và ông P cũng thừa nhận có
6
chuyển nhượng thật và đã nhận số tiền 550.000.000 đồng từ bà T2. Lời trình bày của
các bên phù hợp với giy nhận tiền và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Không có
chứng cứ chứng minh hợp đồng này là hợp đồng giả tạo nhằm che giu giao dịch
vay tài sản hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi
chủ thể có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự phù hợp, chủ thể tham gia
giao dịch hoàn toàn tự nguyện, mục đích, nội dung giao dịch không vi phạm điều
cm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đối chiếu các điều kiện này, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đt giữa bà T1, ông P với bà T2 đủ điều kiện có hiệu
lực.
[2.3] Nguyên đơn cho rằng việc chuyển nhượng là nhằm tẩu tán tài sản, trốn
tránh nghĩa vụ thi hành án, thy rằng: Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành
số 44/2024/QĐCNHGT-DS được ban hành ngày 07/10/2024, trong khi hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đt giữa bà T1, ông P với bà T2 đã được công chứng
lần đầu vào ngày 22/5/2024 và ký lại vào ngày 21/9/2024. Như vậy, giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đt được xác lập trước thời điểm có quyết định công nhận
hòa giải thành ngày 07/10/2024.
Mặt khác, theo tài liệu do cơ quan thi hành án cung cp, bà T1 và ông P vẫn
còn tài sản khác là các thửa đt số 553, 579, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.109,6m², tọa
lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh, hiện đã bị cơ quan thi hành án kê biên để thi hành
nghĩa vụ cho bà H. Vì vậy, chưa có căn cứ xác định thửa đt số 912 là tài sản duy
nht của bà T1 và ông P, cũng chưa có căn cứ xác định việc chuyển nhượng thửa đt
này làm cho bà T1 và ông P mt khả năng thi hành án đối với bà H.
Do đó, việc bà H cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt giữa
bà T1, ông P với bà T2 là hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án là
không có căn cứ chp nhận.
[2.4] Xét yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thùy T2 về việc công nhận hiệu
lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt.
Như đã phân tích ở mục [2.2] và [2.3], hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đt đối với thửa đt số 912, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.356m², tọa lạc tại p C,
xã C, tỉnh Tây Ninh, được công chứng số 9816, quyển số 10/2024TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 21/9/2024 tại Văn phòng C, được xác lập đúng về chủ thể, hình
thức, nội dung và ý chí tự nguyện của các bên. Bà T2 đã thanh toán tiền chuyển
nhượng. Bà T1 và ông P thừa nhận việc nhận tiền và thừa nhận việc mua bán là thật.
Vì vậy, cp sơ thẩm chp nhận yêu cầu độc lập của bà T2, công nhận hiệu lực hợp
đồng là có căn cứ.
[3] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chp nhận kháng cáo của bà H, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ nên được chp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà H không được chp
nhận nên bà H phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 148
7
Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, trừ trường hợp
được miễn, giảm án phí theo quy định pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chp nhận kháng cáo của bà Quách Thị Tuyết H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 10 - tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào Điều 147, 148, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều
119, Điều 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 167
của Luật đt đai 2013; Điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị Tuyết H đối với bà
Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P về việc “Tranh chp yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đt”.
2. Chp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thùy T2 đối với bà Phan
Mai T1 và ông Đặng Thế P về việc “Tranh chp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đt”.
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt ông Đặng
Thế P và bà Phan Mai T1 với bà Nguyễn Thị Thùy T2 đối với thửa đt số 912, tờ
bản đồ số 6, diện tích 2.356 m
2
, toạ lạc tại p C, xã C, tỉnh Tây Ninh; công chứng
số công chứng số 9816, quyển số 10/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/9/2024 tại
Văn phòng C.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Quách Thị Tuyết H phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng, khu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 (sáu trăm
nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0022887 ngày
04/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Hoàn trả cho bà bà Quách Thị
Tuyết H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí còn thừa.
Bà Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị Thùy T2 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà T2
15.300.000 (mười lăm triệu ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005011 ngày 25/9/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Quách Thị Tuyết H chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) nhưng được khu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng
8
án phí đã nộp theo biên lai thu số 003253 ngày 11/02/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh sang án phí. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
5. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 10 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diễm Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 22/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm