Bản án số 714/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 714/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 714/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 714/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị B - Công ty TNHH Đ - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 714/2026/DS-PT Bản án số 714/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 714/2026/DS-PT Bản án số 714/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 714/2026/DS-PT
Ngày: 26-5-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Bà Lê Thị Bích Tuyền
Thư phiên tòa: Ngô Thanh Xuân Thư Tòa án nhân dân tỉnh y Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Đặng Thị
Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 m 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thsố 161/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 3 năm 2026 về
việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sthẩm số 347/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2026/QĐ-PT ngày 17/4/2026, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị B, sinh năm 1951. Địa chỉ: Số A M, Phường F,
Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay Số A M, phường B, Thành phố HChí
Minh).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số
A B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Số A B, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh). (có mặt)
- Bị đơn: Công ty TNHH Đ1. Địa chỉ: Số A N, phường T, Thành phố HChí
Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Phú H Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Anh Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ:
Số A N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Đ1; Địa chỉ: Số I,
2
DT H, xã M, tỉnh Tây Ninh; Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Phú H - Giám đốc;
(xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị B do
ông Nguyễn Hoài N đại diện theo y quyền trình bày:
Ngày 30/5/2022, Nguyễn Thị B1 ký Hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 023/HĐTT-2022 với Công ty TNHH Đ1 (gọi tắt Công ty Đ1).
Nội dung chính của hợp đồng như sau:
Công ty Đ1 chuyển nhượng cho B1 một nền đất F-09, diện tích:
75m
2
, ngang 5m dài 15m thuộc Dự án V1 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là
M, tỉnh Tây Ninh). Giá chuyển nhượng 1.268.000.000 đồng. Để thực hiện hợp
đồng, B1 đã thanh toán cho V 13 lần với tổng số tiền 1.163.720.000 đồng. Tuy
nhiên, sau nhiều lần hứa hẹn, V vẫn không thể Giấy chứng nhận quyền sử dụng
thửa đất nêu trên để bàn giao cho B1.
Ngày 13/9/2023, Công ty Đ1 đã ký một bản cam kết có nội dung cam kết: ngày
01/9/2024, Công ty Đ1 sẽ bàn giao cho B1 giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa
đất nêu trên, nếu không bàn giao được thì V phải tiến hành thanh hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nêu trên và phải trả lại cho bà B1 toàn bộ số tiền đã thanh
toán cho Công ty Đ1. Ngoài ra V phải chịu phạt thêm 10% tổng số tiền B1 đã thanh
toán cho V. Đến nay, Công ty Đ1 vẫn không bàn giao cho B1 được Giấy chứng
nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên như đã cam kết.
Nay bà Nguyễn Thị B1 khởi kiện yêu cầu:
Buộc Công ty TNHH Đ1 trả cho B1 số tiền 1.280.092.000 đồng, bao gồm 2
khoản cụ thể: tiền bà B1 đã thanh toán 13 lần cho V tổng cộng 1.163.720.000 đồng;
Tiền phạt 10% 112.372.000 đồng.
Ngày 25/8/2025, B1 khởi kiện bổ sung yêu cầu vô hiệu Hợp đồng thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 023/HĐTT-2022 với Công ty TNHH Đ1 (gọi
tắt V) buộc ng ty TNHH Đ1 phải trả lại cho B1 số tiền đã thanh toán
1.163.720.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại cho B1 từ ngày hợp đồng là
ngày 22/5/2022 đến 25/8/2023 là 03 năm 03 tháng với lãi suất chậm trả là 10%/năm
với số tiền là 1.163.720.000 đồng x 3 năm x 10% = 289.766.280 đồng.
Bị đơn Công ty TNHH Đ1 có văn bản ý kiến trình bày:
Trước đây, Công ty TNHH Đ1 bà Phạm Thị B kết Hợp đồng thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sdụng đất số 023/HĐTT-2022 vào ngày 30/5/2022 đối với
nền đất thuộc Dự án Khu dân cư Viettin Eco L tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay
xã M, tỉnh Tây Ninh). Tổng số tiền đã nhận của bà Phạm Thị B 1.163.720.000
đồng số tiền nêu trên đã được đầu vào dự án như hiện trạng. Tuy nhiên đến cuối
năm 2022 thì dự án nằm trong danh sách 127 dự án thuộc diện phải thực hiện thủ tục
pháp lý dự án theo Thông báo số 3826/TB-UBND ngày 16/12/2022 của UBND tỉnh
3
L. Do đó, dự án vẫn đang trong quá trình hoàn thiện các thủ tục pháp dự án nên
chưa thể cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Phạm Thị B như dự kiến.
Việc thực hiện lại thủ tục pháp theo yêu cầu của quan Nhà nước một tình
huống khách quan mà Công ty không thể dự đoán được. Đồng thời Công ty vẫn đang
nỗ lực để từng bước hoàn thiện các thủ tục pháp lý cho dự án.
Do đó, Công ty chưa thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khách hàng
một tình huống khách quan, rơi vào skiện bất khả kháng do sự thay đổi chính
sách quản lý của quan Nnước có thẩm quyền, xem xét cho Công ty Q thực hiện
Hợp đồng khi hoàn cảnh khách quan thay đổi theo quy định của pháp luật để xem xét
gia hạn thực hiện hợp đồng cho Công ty.
Phía công ty yêu cầu Công ty TNHH Đ1 phải liên đới với Công ty TNHH Đ1
trong việc hoàn trả tiền cho B (nếu có). do: Công ty TNHH Đ1 chủ đầu
dự án Dự án Khu dân Viettin Eco L theo Quyết định ch trương đầu số
4440/QĐ-UBND ngày 29/11/2018 của UBND tỉnh L (cũ). Stiền B thanh toán đã
được chuyển cho chủ dầu Công ty TNHH Đ1 đthực hiện việc đầu tư xây dựng
dự án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Đ1 trình bày tại bản ý
kiến ngày 05/8/2025:
Công ty TNHH Đ1 (Mã số doanh nghiệp: 1101892703 do Phòng đăng kinh
doanh tỉnh Long An cấp), địa chỉ 999 Đường T, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là
M, huyện Đ, tỉnh Long An), chủ đầu dự án Khu dân cư V tại Đ, huyện Đ, tỉnh
Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh).
Liên quan đến vụ án tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị B bị đơn là Công ty TNHH Đ1, công ty trình bày
ý kiến như sau:
Giữa Công ty TNHH Đ1 Công ty TNHH Đ1 hợp tác đầu dự án Khu dân
V tại Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Việc chưa thcấp Giấy chứng nhận cho khách
hàng Phạm Thị B do các yếu tố bất khả kháng. Do đó, Công ty đề nghị
Phạm Thị B tiếp tục thực hiện hợp đồng. Công ty đồng ý liên đới cùng Công ty TNHH
Đ1 thực hiện nghĩa vụ theo phán quyết của cơ quan có thẩm quyền.
Tại Bản án dân sự thẩm số 347/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị B đối với bị đơn
Công ty TNHH Đ1.
Tuyên vô hiệu Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Khu
dân cư Viettin Eco Land số 023/HĐTT-2022 ngày 30/5/2022 giữa bà Phạm Thị B
Công ty TNHH Đ1.
Buộc Công ty TNHH Đ1 Công ty TNHH Đ1 nghĩa vụ liên đới trả cho bà
Phạm Thị B số tiền 1.453.486.280 đồng (trong đó số tiền đã nhận là 1.163.720.000
đồng và số tiền bồi thường thiệt hại là 289.766.280 đồng).
4
Khi án hiệu lực pháp luật, kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên nghĩa vụ
chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định
tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành
án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 17/11/2025, bị đơn Công ty TNHH Đ1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm
xem xét lại bản án số 347/2025/DSST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
3 Tây Ninh, đnghị xem xét lại thẩm quyền giải quyết vụ án xem xét lại việc
Hội đồng xét xử sơ thẩm tạm ngừng phiên tòa và thụ lý yêu cầu khởi kiện bổ sung là
vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Công ty TNHH Đ1 giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ1 đủ điu kiện để
xem xét theo trình t phúc thm.
Xét nội dung kháng cáo:
Về thẩm quyền giải quyết: bà B khởi kiện tranh chấp hợp đồng nguyên tắc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất Khu dân Viettin Eco Land số: 023/HĐTT-2022
ngày 30/5/2022 với Công ty Đ2, bất động sản tại M, tỉnh Tây Ninh. Tòa án nhân
dân Khu vực 3 Tây Ninh thụ vụ án dân sự xác định quan hệ pháp luật “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đúng theo quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc thụ lý bổ sung yêu cầu của bà Nguyễn Thị B1:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2024, B1 khởi kiện yêu cầu: Buộc Công ty
TNHH Đ1 trả cho số tiền 1.280.092.000 đồng, bao gồm 2 khoản cụ thể: tiền bà B1
đã thanh toán 13 lần cho V tổng cộng 1.163.720.000 đồng; Tiền phạt 10% là
112.372.000 đồng.
Phiên tòa ngày 25/8/2025 hoãn, B1 đơn khởi kiện sửa đổi, bổ dung yêu
cầu tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 023/HĐTT-2022
ngày 30/5/2022 giữa các bên, yêu cầu trả số tiền 1.163.720.000 đồng bồi thường
hợp đồng (tính lãi) từ ngày 22/5/2022 03 năm 03 tháng, với tổng số tiền
1.512.620.000 đồng, đã được Tòa án nhân dân khu vực 3 thụ lý cùng ngày.
Xét thấy, yêu cầu của B1 liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đã khởi kiện yêu cầu, tính lại số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại không
vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Đồng thời yêu cầu bổ sung cần thiết cho việc giải quyết toàn diện vụ
5
án. tại thời điểm chuyển nhượng Công ty Đ1 chưa đủ điều kiện pháp về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện nay dự án khu dân V tại Đ không
còn tồn tại nên tuyên vô hiệu hợp đồng phải được giải quyết cùng.
Tại phiên tòa ngày 25/9/2025 Công ty Đ1 và ng ty Đ1 đều vắng mặt, B1
yêu cầu tính tiền lãi trên số tiền đã nhận từ ngày 30/1/2023 đến ngày 25/9/2025 với
số tiền lãi 289.766.280 đồng.
Bản án thẩm chấp nhận việc B1 yêu cầu tính lãi trên số tiền đã nhận
buộc Công ty TNHH Đ1Công ty TNHH Đ1 cùng có nghĩa vụ liên đới hoàn trả s
tiền đã nhận 1.163.720.000 đồng và tính lãi trên số tiền đã nhận là có cơ sở.
Tuy nhiên, đối với số tiền 1.163.720.000 đồng được bà B1 thanh toán 13 đợt từ
ngày 28/5/2022 đến 26/4/2023. Cấp thẩm đã tính lãi 10%/năm đối với stiền
1.163.720.000 đồng từ ngày 30/01/2023 đến ngày 25/9/2025 (ngày xét xử) chưa
phù hợp. Trong 13 lần thanh toán, tổng số tiền 1.163.720.000 đồng, tính đến thời điểm
30/01/2023 chỉ mới thanh toán được stiền 1.064.680.000 đồng nhưng cấp thẩm
tính từ ngày 30/01/2023 trọn số tiền là 1.163.720.000 đồng là không đúng. Tại phiên
tòa, đại diện B1 đồng ý yêu cầu tính lãi sau khi kết thúc việc giao tiền ngày
26/4/2023 đến ngày xét xử.
Công ty TNHH Đ1 kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm với những do không
đúng thẩm quyền giải quyết, tạm ngừng phiên tòa để nguyên đơn thay đổi yêu cầu
khởi kiện, giải quyết số tiền yêu cầu cao hơn khởi kiện ban đầu là vượt quá yêu cầu
khởi kiện… nên hủy án là không có sở. Tnhững phân tích trên, không chấp nhận
kháng cáo của Công ty TNHH Đ1, sửa bản án sơ thẩm về xác định thời gian tính lãi,
tiền lãi và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bị đơn ng ty TNHH Đ1 thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Ván được
xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Việc xét xử vắng mặt đương sự: Công ty TNHH Đ1 vắng mặt nhưng có đơn
xin vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc
thẩm vụ án.
[3] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện B1 khởi
kiện yêu cầu: Tuyên hiệu Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tại Khu dân Viettin Eco Land s023/HĐTT-2022 ngày 30/5/2022 giữa Phạm
Thị B Công ty TNHH Đ1; Buộc Công ty TNHH Đ1 Công ty TNHH Đ1
nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị B số tiền 1.453.486.280 đồng. Tòa án cấp
6
thẩm xác định vụ án tranh chấp về hợp đồng chuyển nhương quyền sử dụng đất và
thụ giải quyết đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] H vụ án th hin các tình tiết, s kiện sau đây không phải chng minh
theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 ca B lut T tng dân s: Các bên đương
sự thống nhất về việc có ký kết “Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sdụng
đất Khu dân V2 số: 023/HĐTT-2022 ngày 30/5/2022” thuộc Dự án Khu dân
Viettin Eco L, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay M, tỉnh Tây Ninh), thống
nhất giá chuyển nhượng số tiền nguyên đơn đã thanh toán cho bị đơn. Đây
được xem tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
[5]. Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Đ1, thấy rằng:
[5.1] B khởi kiện yêu cầu: hiệu hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tại Khu dân Viettin Eco Land số 023/HĐTT-2022 ngày
30/5/2022 được kết giữa bị đơn Công ty Đ2 với Phạm Thị B, thấy rằng: Hợp
đồng trên nội dung Công ty TNHH Đ1 thỏa thuận chuyển nhượng đất F-09, diện
tích 75m
2
, ngang 5m, dài 15m thuộc dự án Khu dân V, tại Đ, huyện Đ, tỉnh
Long An (cũ) cho B. Tuy nhiên, tại Văn bản số 204/STC-KTĐN ngày 11/3/2025
của Sở Tài chính tỉnh L (nay là tỉnh Tây Ninh) thể hiện: Trên địa bàn xã Đ, huyện Đ,
tỉnh Long An (cũ) Sở Kế hoạch đầu (nay là Sở T) không tham mưu Ủy ban nhân
dân tỉnh L (cũ) phê duyệt chủ trương đầu dự án Khu dân V cho chủ đầu tư
Công ty TNHH Đ2. Về dự án Khu dân V, địa chỉ: Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
(cũ). Trước đây, Công ty TNHH Đ1 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh L chấp thuận ch
trương đầu tư dán Khu dân V, diện tích khoảng 5,5ha tại Đ, huyện Đ, tỉnh
Long An tại Quyết định chủ trương đầu số 4440/QĐ-UBND ngày 29/11/2018
chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tại Quyết định số 494/QĐ-UBND ngày
11/02/2019 của UBND tỉnh L. Hiện tại, dự án trên đã chấm dứt hoạt động do Công ty
TNHH Đ1 có hồ sơ, quyết định và thông báo chấm dứt hoạt động dự án đầu tư ngày
30/01/2023 và UBND tỉnh L (cũ) đã có văn bản số 1174/UBND-KTTC ngày
21/02/2023 về việc thống nhất hoạt động. Cũng như theo biên bản xem xét thẩm định
tại chỗ ngày 15/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 3 Tây Ninh) thì hiện nay trên địa bàn Đ, huyện Đ, tỉnh Tây Ninh (nay
xã M, tỉnh Tây Ninh) không còn dự án Khu dân V. Tại thời điểm chuyển nhượng
thì Công ty Đ2 không phải chủ đầu dự án, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Từ những phân tích trên có cơ sở xác định: Công ty Đ2 ký kết Hợp đồng nguyên
tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất Khu dân cư V với bà Phạm Thị B nhưng Công
ty Đ2 chưa đủ điều kiện pháp để chuyển nhượng nền thuộc Dán Khu dân
Viettin Eco L, việc chuyển nhượng này là vi phạm điều cấm của pháp luật tại các
Điều 188, Điều 194 của Luật đất đai năm 2013 nên “Hợp đồng nguyên tắc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất Khu dân cư Vgiữa nguyên đơn và Công ty Đ2 bị vô hiệu
theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về việc hiệu “Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất Khu
7
dân cư V2 số: 023/HĐTT-2022” và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là có căn cứ
chấp nhận theo Điều 131, Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5.2] Xét lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu: Công ty Đ2 chủ đầu nên nắm
các điều kiện pháp lý về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong dự án, biết
dự án chưa đủ điều kiện chuyển nhượng nhưng Công ty vẫn Hợp đồng số
023/HĐTT-2022 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B. Do đó lỗi làm cho hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên bị vô hiệu thuộc về phía Công ty Đ2.
[5.3] Về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự
năm 2015 tgiao dịch dân sự hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu,
các bên hoàn trả cho nhau những đã nhận bên lỗi gây thiệt hại thì phải bồi
thường. Các bên thống nhất, B đã giao cho Công ty Đ2 tổng số tiền
1.163.720.000 đồng, do hợp đồng bị vô hiệu nên Công ty Đ2 trách nhiệm hoàn lại
cho bà B số tiền trên. Do đó, B yêu cầu Công ty Đ2 phải hoàn trả lại cho bà B số
tiền đã nhận là 1.163.720.000 đồng là có căn cứ.
[5.4] Về thiệt hại: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của
B yêu cầu Công ty Đ2 bồi thường tiền lãi tngày B nộp tiền lần cuối cùng ngày
26/4/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 25/9/2025 là 02 năm 04 tháng 29 ngày *
10%/năm * 1.163.720.000 đồng = 280.796.698 đồng. Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu
tính lãi suất 10%/năm để tính trên số tiền nguyên đơn đã thanh toán cho Công ty Đ2
căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, buộc b
đơn Công ty Đ2 phải bồi thường cho nguyên đơn Phạm Thị B theo mức lãi suất
10%/năm tính từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/9/2025 với số tiền 280.796.698 đồng.
Do đó cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại.
[5.5] Công ty Đ1 kháng cáo cho rằng: Nguyên đơn bị đơn đều địa chỉ tại
Thành phố Hồ Chí Minh, Hợp đồng được giao kết tại Thành phố Hồ Chí Minh, việc
thanh toán Hợp đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh các bên không thỏa thuận lựa
chọn Tòa án nhân dân khu vực 3 Tây Ninh giải quyết tranh chấp nên việc Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh thụ lý giải quyết là không đúng thẩm quyền theo quy
định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy: Tranh chấp giữa nguyên đơn với bị
đơn là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối tượng tranh chấp
của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đất F-09, diện tích 75m
2
, ngang
5m, dài 15m thuộc dự án Khu dân V, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã
M, tỉnh Tây Ninh) đất tọa lạc trên địa bàn Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh nên
Tòa án nhân dân khu vực 3 Tây Ninh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui
định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5.6] Công ty Đ1 kháng cáo cho rằng: Quan hệ tranh chấp Tòa án thụ
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng tại phiên tòa sơ thẩm
ngày 25/8/2025 nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện: yêu cầu hiệu hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Về giá trị: Theo đơn khởi kiện thông báo thụ
lý vụ án giá trị nguyên đơn yêu cầu là 1.280.092.000đ. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên
đơn yêu cầu 1.453.468.280đ, chênh lệch cao hơn so với yêu cầu ban đầu
8
173.394.280đ. Do đó việc bổ sung yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa vượt quá phạm vi
yêu cầu khởi kiện, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm thụ vụ án Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa nhằm để giải quyết triệt để vụ án,
nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trên giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu. Như vậy, việc
yêu cầu tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên
đơn với Công ty Đ1 nằm trong vụ án Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất giữa nguyên đơn với Công ty Đ1 mà Tòa sơ thẩm đã thụ lý. Do đó, việc Tòa
án sơ thẩm thụ lý yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa nguyên đơn với Công ty Đ1 và giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu không
vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
Tại phiên tòa thẩm nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử
sẽ xem xét việc bổ sung yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn nếu việc bổ sung yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu thì sẽ xem
xét trong quá trình xét xử. Tuy nhiên, trong vụ án này khi đang xét xử thì nguyên đơn
bổ sung yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử tạm dừng phiên tòa, sau đó thẩm phán
chủ tọa phiên tòa ban hành quyết định thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện bổ sung của
nguyên đơn. Việc tạm dừng phiên a để chủ tọa phiên tòa ban hành quyết định thụ
bổ sung chưa đúng quy định. Tuy nhiên, sai sót này không làm ảnh hưởng đến
bản chất vụ án nên không cần thiết hủy án để xét xử lại.
[6] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Đ1; Chấp nhận quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa; Cải sửa 01 phần bản án sơ thẩm về bồi thường thiệt
hại.
[7] Về án phí phúc thẩm:
Căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý sdụng án phí, lphí Tòa án: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
Công ty Đ1 nên Công ty Đ1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 347/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh về phần bồi thường thiệt hại.
9
Căn c vào Điu 5, khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm c khon 1
Điều 39, Điu 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điu 483 B lut T
tng dân s năm 2015;
Căn cứ Điều 123, Điều 131, Điều 280, Điều 407, Điều 357, Điều 468 Bộ luật
dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 188, Điều 194 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 2 Điu 26 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016
ca Ủy ban thường v Quc Hội quy định v án phí, l phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị B đối với bị đơn
Công ty TNHH Đ1.
1.1 Tuyên hiệu Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại
Khu dân cư Viettin Eco Land số 023/HĐTT-2022 ngày 30/5/2022 giữa bà Phạm Thị
B và Công ty TNHH Đ1.
1.2 Buộc Công ty TNHH Đ1Công ty TNHH Đ1 có nghĩa vụ liên đới trả cho
Phạm Thị B số tiền 1.444.516.698 đồng (trong đó số tiền đã nhận
1.163.720.000 đồng và số tiền bồi thường thiệt hại là 280.796.698 đồng).
Khi án hiệu lực pháp luật, kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên nghĩa vụ
chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định
tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành
án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân ssơ thẩm: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1Công ty
TNHH Đ1 phải liên đới chịu 55.335.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách
nhà nước.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được
trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0012957 ngày
21/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
4. Các quyết định khác của bản ánthẩm không có kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật Thi hành
án dân sự.
10
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 – Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 3 – Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS; AV./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Phước Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 714/2026/DS-PT Bản án số 714/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 714/2026/DS-PT Bản án số 714/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất