Bản án số 86/2026/HS-PT ngày 15/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 86/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 86/2026/HS-PT ngày 15/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 86/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2026/HS-ST ngày 17/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 86/2026/HS-PT Bản án số 86/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 86/2026/HS-PT Bản án số 86/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Quang Tuấn
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Hằng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông
Hoàng Cao Minh - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (Cơ sở
C) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 107/2026/TLPT-HS ngày
20 tháng 4 năm 2026 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H, do
kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2026/HS-ST ngày
17 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. NGUYỄN N T, sinh ngày 03/5/1991 tại Phú Thọ. Nơi trú: Tổ I,
phường K, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công
dân số ************; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:
12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết)
Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960; chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 24/9/2025 được thay đổi biện
pháp ngăn chặn sang Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. NGUYỄN VĂN H, sinh ngày 20/5/1989 ti Phú Thọ. Nơi trú: Tổ I,
phường K, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công
dân số ************; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:
12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Hồng L, sinh năm 1957
Nguyễn Thị C, sinh năm 1962; Vợ: Phùng Thị T3, sinh năm 1989; Bị cáo có
02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 24/9/2025 được thay đổi biện
pháp ngăn chặn sang Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 86/2026/HS-PT
Ngày: 15 - 6 - 2026
2
Ngoài ra trong vụ án còn các bị cáo, c bị hại không kháng cáo,
không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng chiều tối ngày 13/9/2025, Triệu Viết Đ nhắn tin rNguyễn Văn T
lên đồi Chóp Nón tìm tổ ong, nếu có trâu đi lạc thì bắt trộm lấy thịt, T đồng ý.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/9/2025, Triệu Viết Đng Triệu Văn Đ1
Triệu Tiến S đều người cùng xóm M đi ăn sáng tại khu vực Phố B, phường K.
Trong khi ăn sáng, Đ rủ Đ1 và S lên khu vực đồi Chóp Nón kiếm ong, cả hai đồng
ý. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen bạc, biển
kiểm soát 28E1-041. 26 của mình đi lên đồi trước; Đ1 và S về nhà, hẹn sau sẽ lên.
Cũng trong thời điểm này Nguyễn Văn T gọi điện rủ Nguyễn Văn H lên đồi
tìm ong, H đồng ý hẹn gặp tại nhà của Đ. Khoảng 08 giờ cùng ngày, T điều
khiển xe mô nhãn hiệu Honda màu đỏ, biển kiểm soát 29P1-581.16; H điều
khiển xe nhãn hiệu Wave S màu đen xám, biển kiểm soát 30N6-0242 đến
nhà Đ. Trên đường đi đến khu vực đỉnh dốc C, phường K, T dừng xe lấy một túi
thường dùng đng cần câu cá, bên trong cất giấu một khẩu súng hai nòng bắn
đạn ghémT nhặt được và giấu tại đây từ trước, rồi tiếp tục đi đến nhà Đ.
Do Đ không nhà nên T H sang nhà S rủ S cùng lên đồi tìm ong
xem trâu lạc thì bắt trộm, S đồng ý. Khi đang đứng tại cổng nhà Sinh thì gặp
Đ1, T và H rủ Đ1 cùng đi lên rừng kiếm ong và tìm trâu lạc, Đ1 đồng ý.
Sau đó T, H Đ1 mỗi người điều khiển một xe mô (Đ1 điều khiển xe
Wave màu trắng đen, biển kiểm soát 28B1-195.33) đi lên khu vực đồi Chóp Nón;
Sinh sau đó một mình điều khiển xe tô Wave màu trắng đen, bin kiểm soát
36G1-308.94 đi lên sau. Khi đến khu vực đồi C thuộc xóm M, phường K tkhông
thể tiếp tục đi xe máy được nữa nên các đối tượng để xe lại và đi bộ lên đồi. Lúc
này T phát hiện để quên túi nilon đựng 02 viên đạn tại nhà Đ nên nhờ Đ1 gọi điện
cho Đ2 sang nhà Đ lấy túi nilon đựng đạn mang lên. Đ2 điều khiển xe mô tô nhãn
hiệu Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 28H1-44361 đến nhà Đ lấy túi nilon đựng
đạn theo lời mô tả của Đ1 rồi mang lên đồi đưa cho T.
Sau đó Đ gọi điện cho Đ1 thông báo phát hiện một con trâu màu lông xám
đang mắc dây rào gần vị trí của Đ. Nghe vậy, Đ1 cùng T, H Đ2 tìm đến vị trí
con trâu vi mục đích bắt trộm. Khi đến nơi, H sử dụng khu súng của T (đã được
T nạp đạn từ trước) bắn một phát về phía con trâu nhưng không trúng, con trâu
lồng lên bỏ chạy về phía đỉnh đồi; đồng thời người “Ai đấy” nên các đối
tượng sợ bị phát hiện đã bỏ chạy, TH chạy theo một hướng, còn Đ1, ĐĐ2
chạy theo hướng khác.
Khi Đ1, Đ Đ2 chạy lên đến đỉnh đồi thì gặp S; một lúc sau T và H cũng
đến nơi. Tại đây cả sáu người gồm T, H, Đ2, Đ1, Đ S trao đổi về việc phát hiện
con trâu mắc rào việc H đã bắn trượt trước đó, sau đó thống nhất chia nhau đi
tìm con trâu để bắt trộm.
3
Trong quá trình m kiếm, Đ2S đi xuống khu vực lán công nhân. Tại đây
gặp hai người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ), một người dáng béo, da trắng
một người dáng gầy, da đen. Đông ngồi nói chuyện với người đàn ông dáng
béo; còn S cùng người đàn ông dáng gầy đi xung quanh khu vực lán xem tổ
ong. Trên đường đi, người đàn ông dáng gầy nói nhìn thấy một con trâu đang mắc
dây nên dẫn Sinh đến gần vị trí con trâu. Khi hai người đến gần thì con trâu lao về
phía họ, cả hai tránh được, con trâu tiếp tục chạy về phía đường dân sinh lên đỉnh
đồi. Sinh người này chạy đuổi theo nhưng không kịp nên quay lại lán. Trong
khi đó, tại lán công nhân, Đ2 người đàn ông dáng béo nói chuyện; người này
nói nếu bắt được trâu thì cho họ xin một ít thịt.
Sau đó Đ2 S tiếp tục đi lên đỉnh đồi tìm trâu gặp Đ1, Đ. Cùng thời
điểm này, T phát hiện con trâu chạy qua nên dùng súng bắn một phát trúng con
trâu, con trâu chạy thêm một đoạn thì chết. T gọi mọi người đến nơi con trâu chết;
một lúc sau H, S, Đ1, Đ2 Đ đến nơi. Cả nhóm thống nhất kéo con trâu đến vị
trí không có người qua lại để mổ tu lấy thịt. T, H, Đ1, Đ2 và S sử dụng các dao
mang theo thay nhau mổ thịt, còn Đ đứng cảnh giới trên đường.
Sau khi mổ xong, các đối tượng lấy bốn đùi trâu, một phần thịt và một ít nội
tạng cho vào bao tải, vận chuyển bằng xe mô của Đ2 Đ lên đỉnh đồi, sau đó
chia lên các xe còn lại chở vnhà Đ1. Tại nhà Đ1; T, H, Đ2, Đ1, Đ S thống
nhất chia số thịt trâu thành sáu phần bằng nhau, mỗi người lấy một phần mang về;
riêng T được chia thêm khoảng 02kg thịt do đã mang theo súng.
Đến ngày 15/9/2025, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H, Triệu Tiến S, Triệu Tiến
Đ2, Triệu Viết Đ, Triệu Văn Đ1 nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm
pháp luật nên đã đến quan CSĐT ng an tỉnh P đầu thú khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của bản thân giao nộp lại các công cụ, đồ vật, phương tiện liên
quan.
* Kết quả định giá tài sản:
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 165/KL-HĐĐGTS ngày 26/9/2025 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND tỉnh P có Kết luận:
+ Giá trị của 22kg thịt trâu tại thời điểm ngày 14/9/2025 gtrị (22 x
165.000) = 3.630.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
+ Giá trị một phần đầu con trâu trọng lượng 13,4kg tại thời điểm ngày
14/9/2025 có giá trị là (13,4 x 50.000) = 670.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi nghìn
đồng).
+ Giá trị phần da và các bộ phận nội tạng của con trâu có trọng lượng 62kg
tại thời điểm ngày 14/9/2025 giá trị (62 x 48.333) = 2.996.646 đồng. Làm
tròn số 2.997.000 đồng (Hai triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 05/11/2025 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường K, tỉnh Phú Thọ Kết
luận: “01 (một) con Trâu đực khoảng 4 tuổi, trọng lượng khoảng 200kg có giá trị
tài sản tại thời điểm tháng 9/2025 là 21.000.000Đ (Hai mươi mốt triệu đồng)”.
4
- Tại Bản Kết luận giám định số 7199/KL-KTHS ngày 02/10/2025 của V Bộ
C1 có Kết luận: “Khẩu súng gửi giám định là súng bắn đạn ghém cỡ 16, thuộc vũ
khí quân dụng. Hiện tại, khẩu súng còn sử dụng để bắn được”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2026/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ đã quyết định: Áp dụng Khoản 1 Điều 173;
điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự
đối với các bcáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T; Tuyên bố các bị cáo phạm tội
“Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H 09 tháng tù.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Triệu
Viết Đ, Triệu n Đ1, Triệu Tiến Đ2, Triệu Tiến S; tuyên về xử lý vật chứng, án
phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/3/2026 các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H đơn kháng
cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thay đổi nội dung
kháng cáo, xin giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về thời hạn kháng cáo thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của những
người tham gia tố tụng đã được thực hiện trong thời hn đúng hình thức theo
quy định của pháp luật.
Về nội dung: Nêu tóm tắt nội dung và quyết định của bản án đối vi từng bị
cáo trong vụ án, phân tích cấp thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho các bị cáo và các đồng phạm. Xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng
mức hình phạt 09 tng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T Nguyễn Văn H
căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ, hu quả các bị cáo đã gây ra. Tuy
nhiên tại phiên tòa Phúc thẩm các bị cáo nộp thêm tình tiết giảm nhẹ mới như
bố đẻ, bác và chú người công với cách mạng, được tặng thưởng Huy
chương kháng chiến hạng Nhì Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba. Đây
tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó
có căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm
b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận
kháng cáo của các bcáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H. Sửa bản án hình sự
thẩm số 29/2026/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
12 Phú Thọ, theo hướng giảm một phần hình phạt cho các bị cáo từ 01 tháng đến
02 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau
[1]. Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, quan
tiến hành ttụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xthẩm đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
5
điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, những người tham gia tố tụng không
ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án cấp thẩm tuyên án, các bcáo
có đơn kháng cáo. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, kháng cáo trong hạn
luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình như nội dung bản án thẩm đã nêu. Lời khai của các bcáo phù hợp
với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong cùng vụ án và lời khai bị hại,
kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tòa án nhân dân
khu vực 12 Phú Thọ đã xét xử các bị o Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H về tội
“Trộm cắp tài sn” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn
cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo xin được giảm hình phạt của các bị cáo:
Hội đồng xét xử thấy rằng trong vụ án này, các bị cáo người đầy đủ
năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người
khác là vi phạm pháp luật nhưng vn cố ý thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh
giá toàn diện tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm,
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn
Văn T, Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo 09 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội
của các bị cáo.
Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo đã cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ
mới, các bị cáo bác ruột là Nguyễn Thị N được tặng thưởng Huy chương kháng
chiến hạng Nhì, bố đ chú ruột Nguyễn Hồng L được tặng thưởng Huy
chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba. Đây các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định
tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, phù hợp với ý kiến đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho
các bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Tuy nhiên việc bản án thẩm tuyên: “Xử phạt các bị cáo Triệu Văn Đ1,
Triệu Tiến Đ2, Triệu Tiến S 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là
18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn n
H 09 tháng tù, được trừ 09 ngày tạm giữ còn phải chấp hành 8 tháng 21 ngày, thời
hạn tù tính từ ngày thi hành án” chưa bảo đảm việc phân hóa vai trò đồng phạm
và xem xét cá thể hoá trách nhiệm hình sự đối vi từng bị cáo. Đồng thời việc cấp
thẩm tuyên án chung đối với các bị cáo, mà không tuyên cụ thể các Điều luật,
các điểm, khoản, đối với từng bị cáo không đúng với quy định của pháp luật.
Cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[3] Các quyết định khác ca Bn án hình sự thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6
[4] Về án phí: Do kháng o của các bị cáo được chấp nhận nên không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng
Hình sự;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn
T, Nguyễn Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2026/HS-ST ngày 17/3/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ, cụ thể:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17,
Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm
cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành
án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 24/9/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17,
Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm
cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành
án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 24/9/2025.
2. Các quyết định khác ca Bn án hình sự thẩm không kháng cáo,
kháng nghị có hiu lc pháp lut, k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật ktừ ngày tuyên án (ngày
15/6/2026).
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 12 - Phú Thọ;
- TAND khu vực 12 - Phú Thọ;
- Phòng THADS KV 12 - Phú Thọ;
- Các bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 86/2026/HS-PT Bản án số 86/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 86/2026/HS-PT Bản án số 86/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất