Bản án số 551/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 551/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 551/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 551/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: đòi lại tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 551/2026/DS-PT Bản án số 551/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 551/2026/DS-PT Bản án số 551/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận
Ông Nguyễn Thành Đăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Thị
Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh nh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số: 281/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng
4 năm 2026 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số: 13/2026/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11 Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 492/2026/QĐ-PT ngày 04
tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 626/2026/QĐ PT ngày 21 tháng
5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thị Minh P, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C Â, Phường C, thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ hiện nay: Khóm D, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh Tuấn E, sinh năm 1989
(có mặt).
Địa chỉ: Khóm A, phường N, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày
15/5/2025.
- Bị đơn: Ông Lưu Hoàng M, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: khóm V, phường L, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản uỷ quyền ngày
04/5/2026.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 551/2026/DS - PT
Ngày 11 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp đòi lại tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
- Người kháng cáo: Ông Lưu Hoàng M là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn Thị Minh P lời khai của
ông ông Huỳnh Tuấn E người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Thị Minh P trong thời gian quen biết với ông Lưu Hoàng M, P mua s trúng
giải đặc biệt 03 tờ số. Ngày 12/7/2023 khi P cùng ông M đi lãnh thưởng tại
công ty xổ số kiến thiết tỉnh C, P thỏa thuận nhờ ông M mua một chiếc xe ô
để làm phương tiện đi làm và sau khi bàn bạc về hiệu xe và giá trị xe thì ông M thống
nhất đề nghị P chuyển khoản số tiền 1.100.000.000 đồng cho ông M tP
đồng ý đề nghị công ty xổ số kiến thiết tỉnh C chuyển khoản số tiền 1.100.000.000
đồng vào tài khoản của ông M. Ngày 17/7/2023 bà P bị bệnh phải nhập viện, lúc này
ông M đã rút số tiền 1.100.000.000 đồng tự một mình mua xe ô và tự ý làm thủ tục
đứng tên sở hữu xe ô biển số 84A -11186, hiệu Ford, số loại: Territory, giá trị sau
khi tính toàn bộ chi phí là 950.000.000 đồng. Khi bà P xuất viện về nhà, ông M đã trả
lại số tiền sau khi mua xe còn dư 150.000.000 đồng cho bà P. Khi bà P lấy xe sử dụng
thì phát hiện xe ô không phải do P đứng tên nên P trao đổi với ông M để
ông M sang tên lại cho P nhưng ông M cứ viện do không chịu thực hiện.
Nay bà P yêu cầu giải quyết buộc ông Lưu Hoàng M phải làm thủ tục sang tên xe ô
biển số 84A -11186, hiệu Ford, số loại: Territory hiện do ông Lưu Hoàng M đang
đứng tên cho bà P đứng tên sở hữu. Trường hợp ông M yêu cầu nhận xe thì bà P đồng
ý giao xe cho ông M quản lý nhưng buộc ông M phải trả lại số tiền 630.000.000 đồng
tương đương giá trị chiếc xe ô tô theo biên bản định giá ngày 28/10/2025 cho bà P.
Ông Đặng Văn C người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Lưu Hoàng M
trình bày: Ngày 12/7/2023 khi Thị Minh P cùng ông M đi lãnh thưởng tiền
trúng số tại công ty xsố kiến thiết tỉnh C, P thỏa thuận sẽ chia tiền trúng số
cho ông M nên trong lúc lãnh thưởng bà P đề nghị công ty xổ số tỉnh C chuyển khoản
tiền trúng số 1.100.000.000 đồng vào tài khoản của ông M. Sau khi stiền này,
ông M mua xe ô mang biển s84A -11186, hiệu Ford, số loại: Territory do ông
Lưu Hoàng M đứng tên shữu. Vào ngày 25/11/2024 P đến nhà ông M để mượn
chiếc xe ô này đến nay chưa trả cho ông M. Nay ông M không đồng ý với yêu cầu
của P ông M yêu cầu P phải trả xe ôcó biển số 84A -11186, hiệu Ford, số
loại: Territory hiện do ông Lưu Hoàng M đang đứng tên sở hữu cho ông M sử dụng.
Tại bản án dân sự thẩm số: 13/2026/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11 Vĩnh Long đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh P.
Buc ông Lưu Hoàng M trả số tiền 630.000.000đồng (Sáu trăm ba chục triệu
đồng) cho Lê Thị Minh P.
Ghi nhận sự tnguyện của Thị Minh P do ông Huỳnh Tuấn E đại diện
đồng ý trả lại chiếc xe ô hiệu Ford, số loại: Territory, biển s84A -111.86 cùng
giấy chứng nhận đăng xe, giấy kiểm định xe này cho ông Lưu Hoàng M quản lý,
sử dụng.
3
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng,
nghĩa vụ chậm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của
pháp luật.
Ngày 18 tháng 3 năm 2026, bị đơn ông Lưu Hoàng M kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của P. Trường hợp, theo quy định của
pháp luật sở cho rằng chiếc xe ô hiệu Ford, số loại: Territory, biển số 84A -
111.86 là P đưa tiền cho ông M mua dùm cho P thì ông M đồng ý trả xe cho
P, ông M không đồng ý trả giá trị xe cho bà P.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Huỳnh Tuấn E người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; ông Đặng Văn C
người đại diện hợp pháp của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vKiểm sát viên cho rằng: Qua các tài liệu, chứng cứ
trong hồ vụ án, sở khẳng định Thị Minh P chuyển số tiền
1.100.000.0000đồng tiền trúng vé số cho ông Lưu Hoàng M để nhờ ông M mua chiếc
xe ô đang tranh chấp cho P. Việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn căn cứ, đúng pháp luật. Theo đơn kháng o của bị đơn
ông M, cũng như ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị đơn tại phiên tòa hôm nay
cho rằng, trường hợp có sở cho thấy chiếc xe ô đang tranh chấp P đưa tiền
cho ông M mua xe cho P thì ông M đồng ý trả xe cho P, ông M không đồng ý
trả giá trị xe cho bà P nên đnghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm công nhận
chiếc xe ô tô đang tranh chấp thuộc quyền sở hữu của bà P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lưu Hoàng M, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1.1] Trong quá trình giải quyết vụ án ông Lưu Hoàng M thừa nhận nhận số
tiền 1.100.000.000đồng từ tiền trúng số của Thị Minh P dùng số tiền
950.000.000đồng trong số tiền 1.100.000.000đồng này để mua chiếc xe ô mang
biển số 84A -11186, hiệu Ford, số loại: Territory. Ông M cho rằng số tiền
1.100.000.000 đồng P thỏa thuận chia cho ông M chứ không phải bà P chuyển
tiền cho ông M nhờ ông M mua xe. Còn P cho rằng số tiền 1.100.000.000 đồng
này P chuyển tiền cho ông M nhờ ông M mua xe cho P nhưng do P bệnh
nhập viện nên ông M tự ý mua đứng tên ông M; sau khi mua xe ông M có đưa lại cho
P số tiền 150.000.000đồng còn trong số tiền 1.100.000.000đồng. Hội đồng xét
xử xét thấy: Ông M cho rằng P thỏa thuận chia cho ông M số tiền
4
1.100.000.000đồng tiền trúng vé số nhưng ông M không chứng cứ chứng minh
P chia cho ông, trong khi P không thừa nhận việc này. Trên thực tế, diễn biến
của sviệc các sự kiện xảy ra như: P nhập viện ngày 17/7/2023, ra viện ngày
23/7/2023 (BL BL 10); Ông M hợp đồng mua chiếc xe ô mang biển số 84A -
11186, hiệu Ford, số loại: Territory ngày 22/7/2023 (BL 65 68); P giấy phép
lái xe hạng B cấp ngày 30/12/2025 (BL 21); hiện nay chiếc xe này ông M đã giao cho
bà P quản lý (mặc dù ông M cho rằng cho bà P mượn); ông M cũng thừa nhận có giao
cho P số tiền 150.000.000 đồng trong số tiền 1.100.000.000đồng (mặc cho rằng
cho P mượn, BL 91, 126); Tại đoạn ghi âm được lập vi bằng số 22/2026/VB
TPLHĐ ngày 26/01/2026 (ông M thừa nhận đoạn ghi âm này là cuộc nói chuyện giữa
ông với P, BL 126) thể hiện nội dụng: P yêu cầu ông M sang tên chiếc xe ô
lại cho P, ông M không phản đối với yêu cầu của P trả lời để từ từ tính
(BL104 - 109). Đối với việc ông M cho rằng cho bà P mượn số tiền 150.000.000 đồng
không phù hợp, thời điểm này P vừa trúng số nên lời khai của P cho rằng
số tiền 150.000.000đồng này ông M đưa lại cho P sau khi mua xe còn
cơ sở. Do đó, có cơ sở khẳng định chiếc xe ô mang biển số 84A -11186, hiệu Ford,
số loại: T là do P chuyển số tiền nhờ ông M mua xe cho P như bà P trình bày.
Việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn P căn
cứ, đúng pháp luật.
[1.2] Theo đơn kháng cáo của bị đơn ông M, cũng ný kiến của ông Đặng
Văn C người đại diện hợp pháp của ông M tại phiên tòa hôm nay cho rằng: Trường
hợp sở cho thấy chiếc xe ô đang tranh chấp bà P đưa tiền nhờ ông M mua
xe cho bà P thì ông M đồng ý giao xe cho P, ông M không đồng ý trả giá trị xe cho
P. Hội đồng xét xử xét thấy, như nhận định phần trên [1.1], có sở khẳng định
chiếc xe ô đang tranh chấp P đưa tiền nhờ ông M mua xe cho P; tại phiên
tòa hôm nay, ông Huỳnh Tuấn E người đại diện hợp pháp của P ý kiến, bà P
đồng ý nhận chiếc xe ô đang tranh chấp nên Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm,
công nhận chiếc xe ô tô biển số 84A -11186, hiệu Ford, số loại: Territory thuộc quyền
sở hữu của bà P.
[2] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử
xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lưu Hoàng M không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông M 300.000đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo
biên lai số 0004878 ngày 18/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Lưu Hoàng M.
Sửa bản án dân sthẩm số: 13/2026/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11 Vĩnh Long.
Áp dng Điều 105, Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
5
Áp dng Ngh quyết s: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun
và s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh P.
Công nhận chiếc xe ô nhãn hiệu: Ford; số máy: P3G028902; số khung:
RL05CYD7MPER48817; màu sơn: Trắng; số loại: Territory JX6460PG6; biển số
đăng ký: 84A -111.86 thuộc quyền sở hữu của bà Lê Thị Minh P.
Thị Minh P được quyền đến quan Nnước thẩm quyền làm thủ
tục đứng tên quyền sở hữu (giấy Chứng nhận đăng xe ô tô) đối với chiếc xe ô
trên theo quyết định của Bản án này.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lưu Hoàng M không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông M 300.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sphúc
thẩm theo biên lai số 0004878 ngày 18/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh
Long.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm, về chi phí
định giá không có kháng cáo, kháng nghị, không bị cải sửa có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 11 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 551/2026/DS-PT Bản án số 551/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 551/2026/DS-PT Bản án số 551/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất