Bản án số 143/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 143/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 143/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 143/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên “Giấy chuyển nhượng đất” ngày 25-7-2010 có hiệu lực pháp luật; buộc ông T2, bà B xử lý tài sản trên đất, khôi phục lại tình trạng ban đầu và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, ông T, bà S đồng ý trả thêm cho ông T2, bà B số tiền 150.000.000 đồng; Ông T chỉ giữ nguyên một yêu cầu khởi kiện là buộc ông T2, bà B tiếp tục thực hiện hợp đồng như trên. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 143/2026/DS-PT Bản án số 143/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 143/2026/DS-PT Bản án số 143/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số 143/2026/DS-PT
Ngày 26-5-2026
V/v“Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Ông Trần Hữu Vinh
Thư phiên tòa: Trần Ngô Khánh Loan - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Lương Quốc
Phòng Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26-5-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 47/2026/TLPT-DS ngày 25-3-2026
về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04-02-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 135/2026/QĐ-PT ngày
23-4-2026
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn Đ, N,
thành phố Đà Nẵng, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Huỳnh Thị T1, sinh năm 1992, địa chỉ:
Tổ A, thôn C, S, thành phố Đà Nẵng, theo Văn bản uỷ quyền ngày 14-6-
2024, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1957, địa chỉ: Thôn Đ, N,
thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- Người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan:
1. Bà Võ Thị B, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Đà Nẵng,
có mặt.
2. Ông Nguyễn Quang T3, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn Đ, N, thành
phố Đà Nẵng, vắng mặt.
2
3. Nguyễn Thị S, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn Đ, N, thành phố Đà
Nẵng, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Huỳnh Thị T1, sinh năm 1992; địa chỉ:
Tổ A, thôn C, S, thành phố Đà Nẵng, theo Văn bản uỷ quyền ngày 14-6-
2024, có mặt.
4. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1990, vắng mặt.
5. Cháu Phạm Quốc V, sinh năm 2008.
Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Quốc V: Ông Phạm Quốc V1
(cha ruột), sinh năm 1981, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Xuân T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - ông Nguyễn Văn T Người đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn trình bày tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án:
Ngày 25 tháng 7 năm 2010, ông Nguyễn Xuân T2, Thị Bcon trai
Nguyễn Quang T3 đã thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, S một
mảnh đất “chiều rộng 5m dài từ đường tông đến vườn ông Phạm K” (tứ cận:
Đông giáp đất ông Phạm K, Tây giáp đường bê tông, Nam giáp đất ông Đinh D,
Bắc giáp vườn còn lại), giá 40.000.000 đồng; ông T2 viết giấy chuyển nhượng
ngày 25-7-2010, ông T đã đưa trước 5.000.000 đồng, thỏa thuận sau khi xong
giấy tsẽ giao đủ tiền; sau đó ông Nguyễn Quang T3 (là con ruột của ông T2,
B) đến lấy thêm 8.000.000 đồng (ông T3 nhận số tiền 8.000.000 đồng là cuối
tháng 9-2010), tổng cộng stiền gia đình ông T đã thanh toán 13.000.000
đồng. Sau đó, do bên chuyển nhượng tranh chấp nội bộ nên không làm thủ tục
chuyển nhượng được.
Đến tháng 11 năm 2018, ông T2 yêu cầu ông T trả thêm 150.000.000 đồng
để hoàn thành thủ tục, nâng tổng giá lên 163.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi gặp
nhau để giao tiền và công chứng, ông T2 chỉ đồng ý nhận tiền mà chưa thực hiện
chuyển quyền sử dụng đất, vợ chồng ông T không đồng ý nên ông T2 B
không bán đất cho vợ chồng ông nữa.
Ông T, bà S thống nhất diện tích chuyển nhượng theo Giấy chuyển nhượng
ngày 25-7-2010 trùng với diện tích đất theo kết quả Trích đo hiện trạng sử dụng
đất ngày 02-7-2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai 117,9m
2
, tại
thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam,
theo CSDL là thửa 801, tờ bản đồ số 3, nay là thôn Đ, xã N, thành phố Đà Nẵng.
Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên “Giấy chuyển nhượng đất” ngày 25-
7-2010 có hiệu lực pháp luật; buộc ông T2, bà B xử lý tài sản trên đất, khôi phục
lại tình trạng ban đầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, ông T,
S đồng ý trả thêm cho ông T2, B số tiền 150.000.000 đồng; Ông T chỉ giữ
nguyên một yêu cầu khởi kiện buộc ông T2, B tiếp tục thực hiện hợp đồng
3
như trên. Ngoài ra, không yêu cầu khác về hậu quả pháp của hợp đồng
vô hiệu.
Ông T không đồng ý với yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự hiệu; thống
nhất với kết quả định giá theo giá nhà nước để giải quyết vụ án, ngoài ra không
còn yêu cầu gì khác.
* Bị đơn - ông Nguyễn Xuân T2 trình bày trong quá trình tham gia tố tụng
tại Toà án:
Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T, bà S. Ông thừa nhận Giấy
chuyển nhượng đất lập ngày 25 tháng 7 năm 2010 do chính ông viết,
ghi họ tên. Theo đó, ông đã giấy tay chuyển nhượng cho ông T, bà S diện
tích đất tại thửa số 801, tờ bản đồ Số 3, tại thôn Đ, T, huyện N với giá
40.000.000 đồng, ông đã nhận trực tiếp từ S số tiền khi viết giấy là 5.000.000
đồng, khi ông nhận tiền tchỉ một mình ông nhận, vông B không biết.
Ông nhận số tiền này là thuê người đổ đất đôn cho cao lên; sau đó ông thừa nhận
con ông là Nguyễn Quang T3 có nhận thêm của vợ chồng ông T số tiền
8.000.000 đồng, tổng cộng gia đình ông đã nhận trước 13.000.000 đồng, số tiền
còn lại khi nào xong thủ tục giấy tờ thì giao đủ. Do tranh chấp trong gia đình
ông nên việc tách thửa không được tiến hành.
Năm 2018, hai bên thống nhất lại giá đất 163.000.000 đồng, khi
chuyển nhượng thì ông T, bà S tiếp tục giao thêm số tiền là 150.000.000 đồng và
thỏa thuận ông T sẽ thanh toán đủ số tiền còn lại để hoàn tất thủ tục tách thửa và
công chứng hợp đồng. Tuy nhiên, gia đình ông T không đến Ủy ban nhân dân xã
T để thực hiện thủ tục như đã hẹn nên ông không đồng ý chuyển nhượng đất
nữa, vì: đất thoả thuận bán cho vợ chồng ông T nhưng sau đó không thực hiện
được nên năm 2019 vợ chồng ông đã làm nhà kiên cố trên đất thoả thuận bán
này, hơn nữa hiện nay giá đất đã khác, lúc viết giấy bán thì chỉ một mình ông
chứ không vợ ông B cùng giấy, ông T, S không giao đtiền
150.000.000 đồng như khi thoả thuận lại sau nên giờ không đồng ý tiếp tục
chuyển nhượng đất. Hiện nay, thửa đất ông thoả thuận bán vẫn của vợ chồng
ông; ngoài ra, còn liên quan đến các bản án về thừa kế trước đây Toà án
nhân dân huyện Núi Thành (bản án số 12A/2013/DSST) Toà án nhân dân
tỉnh Quảng Nam xét xử (bản án số 49/2013/DS-PT) ông đã cung cấp cho Toà
án.
Ông cũng thống nhất diện tích chuyển nhượng theo Giấy chuyển nhượng
đất ngày 25-7-2010 trùng với diện tích đất theo kết quả Trích đo hiện trạng s
dụng đất ngày 02-7-2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai 117,9m
2
,
tại thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc thôn B, T, huyện N, tỉnh Quảng
Nam, theo CSDL là thửa 801, tờ bản đồ số 3, nay là thôn Đ, xã N, thành phố Đà
Nẵng.
Nay ông giữ nguyên yêu cầu phản tố, ông yêu cầu Tán giải quyết tuyên
Giấy chuyển nhượng đất ngày 25-7-2010 hiệu. Ông đồng ý trả lại số tiền
5.000.000 đồng đã nhận, số tiền con ông Nguyễn Quang T3 đã nhận
4
8.000.000 đồng, tổng cộng ông thống nhất trả lại cho ông T, bà S số tiền
13.000.000 đồng đã nhận.
Ông thống nhất với kết quả định giá theo giá nhà nước để giải quyết vụ án,
ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04-02-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015; Khoản 1, 2 Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 131, khoản 4
Điều 237, Điều 241, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với
ông Nguyễn Xuân T2 về yêu cầu Tòa án tuyên “Giấy chuyển nhượng đất” ngày
25-7-2010 hiệu lực pháp luật; buộc ông T2, B xử tài sản trên đất, khôi
phục lại tình trạng ban đầu và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S theo kết quả Trích đo hiện
trạng sử dụng đất ngày 02-7-2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đối
với diện tích đất là 117,9m
2
, tại thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc thôn B, xã
T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, theo CSDL thửa 801, tờ bản đồ số 3, nay là
thôn Đ, N, thành phố Đà Nẵng. Ông T, S đồng ý trả thêm cho ông T2,
B số tiền 150.000.000 đồng;
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Xuân T2 về việc yêu cầu Tòa
án tuyên bố giao dịch dân sự hiệu. Theo đó, tuyên bố “Giấy chuyển nhượng
đất ngày 25-7-2010” giữa ông Nguyễn Xuân T2 và ông Nguyễn Văn T,
Nguyễn Thị S vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Xuân T2 nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn T
Nguyễn Thị S số tiền 69.168.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án
phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo quy định về thi hành án của các đương
sự.
* Kháng cáo:
Ngày 12-02-2026, ông Nguyễn Xuân T2 không đồng ý với quyết định của
bản án sơ thẩm về số tiền tuyên buộc ông T2 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn
Văn T và bà Nguyễn Thị S. Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm theo quy định.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn
phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
5
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2 do không căn cứ
pháp luật giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04-02-
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên toà phúc thẩm:
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm ông
Nguyễn Quang T3, Nguyễn Thị T4, ông Phạm Quốc V1 đã được Tòa án cấp,
tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng đến lần thứ hai
vẫn không mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố
tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2:
[2.1] Căn cứ Giấy chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010 do ông
Nguyễn Xuân T2 viết với các nội dung:
Tôi tên là Nguyễn Xuân T2, vợ tên là Võ Thị B, con kế thừa Nguyễn Quang
T3.
Vợ chồng con nhất trí chuyển nhượng mảnh vườn cho vợ chồng anh
Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S, dài từ đường bê tông đến vườn anh Phạm Kỹ
R 05m. Đông giáp anh Phạm K1, Tây giáp đường tông; Nam giáp ông Đinh
D, Bắc giáp vườn còn lại. Ngang dọc theo đường tông 5m; dài đụng vườn
anh Phạm Kỹ .
Với số tiền 40.000.000 đồng. Vợ chồng anh T chị S đưa trước
5.000.000 đồng. Khi xong giấy tờ vợ chồng anh đưa đủ. Nay tôi làm giấy này để
làm chứng từ, để tin tưởng bên chuyển nhượng và bên mua.
“Giấy chuyển nhượng đất” nội dung ghi chuyển nhượng như trên, thoả
thuân diện tích, giá tiền đầy đnhưng tại đơn kháng cáo cũng như phiên toà
hôm nay ông Nguyễn Xuân T2 đều cho rằng văn bản này là giấy đặt cọc tđây
chỉ là lời khai nại, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Căn cứ các bản án dân sự thẩm số 12A/2013/DSST ngày 12-3-
2013 của Toà án nhân dân huyện Núi Thành bản án dân sự phúc thẩm số
49/2013/DSPT ngày 23-7-2013 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam cùng
Công văn số 437/CNVPĐK ngày 09-10-2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ thì
thấy: Tại thời điểm ông Nguyễn Xuân T2 chuyển nhượng thửa đất theo Giấy
chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010 nói trên thì ông T2 chưa đầy đủ
quyền của người sử dụng đất; hình thức văn bản chuyển nhượng cũng không
đảm bảo quy định pháp luật. Ngoài ra, việc chuyển nhượng trên thực tế chưa
hoàn thành, bên bán chưa bàn giao cho bên mua vào năm 2019 bên bán- gia
đình ông T2 đã xây nhà cho đến nay. Do vậy, Toà án cấp thẩm tuyên xử
6
“Giấy chuyển nhượng đất ngày 25-7-2010” giữa ông Nguyễn Xuân T2 ông
Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S hiệu căn cứ pháp luật theo các Điều
117, 122 Bộ luật dân sự.
[2.3] Về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được thực
hiện theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự, các bên hoàn trả lại cho nhau
những đã nhận bồi thường thiệt hại nếu có. Thửa đất chuyển nhượng hiện
gia đình ông Nguyễn Xuân T2 đang quản lý, sử dụng nên phải hoàn trả lại số
tiền đã nhận của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S.
Căn cứ Biên bản định giá tài sản của Toà án cấp thẩm thực hiện ngày
02-12-2025 thì thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc thôn B, T, huyện N,
tỉnh Quảng Nam, theo CSDL thửa 801, tờ bản đồ số 3, nay thôn Đ, N,
thành phố Đà Nẵng giá đất 1.760.000 đồng/m
2
. Hai bên chuyển nhượng
theo đo đạc thực tế hiện nay 117,9m
2
tương ứng với giá trị là 207.504.000 đồng.
Giá trị thửa đất này các bên đương sự không có ý kiến gì nên được lấy làm cơ sở
giải quyết vụ án.
Thời điểm chuyển nhượng năm 2010 thì các bên thoả thuận giá chuyển
nhượng 40.000.000 đồng, đến nay giá trị quyền sử dụng đất đã tăng lên n cần
xem xét lỗi dẫn đến giao dịch dân sự hiệu đtính số tiền hoàn trả phù hợp
thực tế, nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch.
Hội đồng xét xử xét mặc dù “Giấy chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010
chỉ một mình ông Nguyễn Xuân T2 viết tên nhưng Thị B
tham gia thothuận vào năm 2018 để tăng giá chuyển nhượng lên 163.000.000
đồng con của ông T2, T3 ông Nguyễn Quang T3 nhận thêm số tiền
8.000.000 đồng từ ông T cho thấy cả gia đình ông T2 đều biết và tham gia vào
giao dịch này. Theo biên bản hoà giải tại địa phương lập vào ngày 13-8-2018 thể
hiện ông T2 không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho vợ chồng ông T. Đồng
thời, năm 2019 ông T2 còn xây nhà trên thửa đất đã thoả thuận chuyển nhượng
trong khi vẫn đang giữ tiền của vợ chồng ông T. Như vậy, lỗi dẫn đến giao dịch
dân sự vô hiệu thuộc về ông T2.
Năm 2010, ông Nguyễn Xuân T2 đã nhận 13.000.000 đồng trong tổng số
tiền 40.000.000 đồng chuyển nhượng nên nay phải hoàn trả theo tỷ lệ tương ứng
là 69.168.000 đồng trên giá trị thửa đất hiện nay là 207.504.000 đồng như cấp sơ
thẩm quyết định là phù hợp. Ông T2 kháng cáo cho rằng chỉ trả theo mức tiền lãi
là không có căn cứ được chấp nhận.
[2.4] Tại đơn kháng cáo, ông Nguyễn Xuân T2 còn cho rằng việc ông
Nguyễn Văn T khởi kiện đối với “Giấy chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010
đã hết thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, năm 2018 chính ông T2 người thoả
thuận tăng giá chuyển nhượng đất với ông T, S nên đây thời điểm xác lập
lại thời hiệu khởi kiện. Do vậy, năm 2019 ông T khởi kiện đối với ông T2 là phù
hợp pháp luật. Ngoài ra, ông T2 cũng chính bị đơn yêu cầu phản tố trong
vụ án này lại trình bày thời hiệu khởi kiện đã hết mâu thuẫn với chính
mình.
7
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Án phí dân sphúc thẩm ông Nguy n Xuân T2 phải chịu do không
được chấp nhận kháng cáo. Tuy nhiên, do thu c trưng hp ngưi cao tu i
nên ông T2 đưc mi n án phí.
[4] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại
phiên tòa phúc thẩm phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án và quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 148, Điều 293, Khoản 1 Điều 308, các Điều 311, 312, 313 Bộ luật tố
tụng dân sự;
- Khoản 1, 2 Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 131, khoản 4 Điều 237,
Điều 241, Điều 468 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2;
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04-02-2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối
với ông Nguyễn Xuân T2 về yêu cầu Tòa án tuyên Giấy chuyển nhượng đất”
ngày 25-7-2010 hiệu lực pháp luật; buộc ông T2, B xử tài sản trên đất,
khôi phục lại tình trạng ban đầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị S theo kết quả Trích
đo hiện trạng sử dụng đất ngày 02-7-2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai đối với diện ch đất 117,9m
2
, tại thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc
thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, theo CSDL là thửa 801, tờ bản đồ số 3,
nay là thôn Đ, xã N, thành phố Đà Nẵng. Ông T, S đồng ý trả thêm cho ông
T2, bà B số tiền 150.000.000 đồng;
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Xuân T2 về việc yêu cầu
Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự hiệu. Theo đó, tuyên bố “Giấy chuyển
nhượng đất ngày 25-7-2010” giữa ông Nguyễn Xuân T2 ông Nguyễn Văn T,
Nguyễn Thị S vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Xuân T2 nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn T
Nguyễn Thị S số tiền 69.168.000 (sáu ơi chín triệu, một trăm sáu tám
nghìn) đồng.
8
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương
ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí: ông Nguyễn Văn T được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004242
ngày 15-5-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam, nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu stiền 2.000.000
(hai triệu) đồng (ông T đã nộp đủ).
II. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguy n Xuân T2 phải chịu nhưng được
miễn án phí.
III. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Thành phố Đà Nẵng;
- THADS Thành phố Đà Nẵng;
- TAND KV5-ĐN;
- Phòng THADS KV5-ĐN;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thị Thanh Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 143/2026/DS-PT Bản án số 143/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 143/2026/DS-PT Bản án số 143/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất