Bản án số 155/2026/DS-PT ngày 09/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 155/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 155/2026/DS-PT ngày 09/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 155/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Phú Thọ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 155/2026/DS-PT Bản án số 155/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 155/2026/DS-PT Bản án số 155/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 155/2026/DS-PT
Ngày: 09-6-2026
V/v Đòi lại GCNQSDĐ cho mượn,
tuyên vô hiệu HĐTC và văn bản CC
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Quang Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Đinh Trường Sơn
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng- Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Phạm Văn Minh -
Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 08 đến 09 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Phú Thọ - s3 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 70/2026/
TLPT- DS ngày 17/3/2026 về việc Đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho mượn, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp và văn bản công chứng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số 137/2025/QĐPT-DS ngày 11/5/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
+ Đỗ Thị H, sinh năm 1974. Số CCCD: ************; Ông Nguyễn
Mạnh C, sinh năm 1965, số CCCD: ************.
+ Chị Nguyễn Phương T, sinh năm 1995, số CCCD: ************ Chị
Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 2001.
cùng địa chỉ tại: Số G P, tổ A, (phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình cũ),
nay là phường H, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo uỷ quyền của bà H và ông C: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm
1972, địa chỉ: H - H - H (cũ) - Hà Nội. (văn bản ủy quyền lập ngày 14/3/2023)
2. Đồng bị đơn:
- Công ty cổ phần Đ1, nay đổi tên thành Công ty cổ phần T6 - HÒA
BÌNH.
Địa chỉ: số C T, tổ H, Q, phường H, tỉnh Phú Thọ. Đại diện theo pháp
luật: Ông Nguyễn Lương H1, sinh năm 1969 - Tổng giám đốc.
- Ngân hàng N1 (A) Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V Tổng
giám đốc.
2
Đại diện theo uquyền: A Chi nhánh P; địa chỉ: Tổ A, đường C, phường
H, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án: Ông
Nguyễn Xuân T1 Giám đốc chi nhánh Ngân hàng A - Chi nhánh P.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng: Luật sư Tô Quốc
V1, Nguyễn Thị S Công ty L1; địa chỉ: Tầng H, tòa nhà Công ty CP X
Nội, số E, phố Q. phường H, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959;
cùng địa chỉ: Số I, tổ B Đ, phường H, tỉnh Phú Thọ. T2 đang chấp hành án
phạt tù tại Trại giam T7, Hà Nội, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phòng C2, tỉnh Phú Thọ; Địa chỉ: đường T, phường H, tỉnh Phú Thọ;
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn L - Trưởng phòng, (có đơn xin xét
xử vắng mặt).
- Chi nhánh Văn phòng Đ2, tỉnh Phú Thọ;
- Ông Đỗ Đức H2, sinh năm 1973. Địa chỉ: thôn A, A, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: ông Lương Đình T3, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn H,
xã T, tỉnh Lạng Sơn.
- Người kháng cáo: Bị đơn Ngân hàng N1- Chi nhánh P
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn trình bày:
Năm 2011, vợ chồng bà H, ông C có cho Công ty cổ phần Đ1 (nay đổi tên
thành Công ty cổ phần T6) mượn 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất
tài sản gắn liền trên đất số: BG444399 do U, tỉnh Hòa Bình cấp ngày
30/06/2011; số vào sổ cấp GCN: CH 00368; đứng tên bà Đỗ Thị H. Công ty nêu
trên do bà Nguyễn Thị T2 là chủ tịch HĐQT, ông Nguyễn Lương H1 (em trai bà
T2) là Giám đốc Công ty. Người trực tiếp ký giấy biên nhận mượn giấy CNQSD
đất là Nguyễn Thị T2 và bà Nguyễn Thị M (là em gái T2 chị gái ông
H1, M xưng thành viên Công ty). Hai bên lập: 01 “Giấy biên nhận”
ngày 10/8/2011, cam kết đến ngày 31/12/2011 sẽ trả lại Giấy chứng nhận QSD
đất.
Về nguồn gốc nhà đất nguyên nhân dẫn đến việc H cho mượn Giấy
chứng nhận QSD đất do: năm 2011, gia đình H đã nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thửa 343, Bản đồ 06 (Phương Lâm) của Nguyễn Thị M,
giá thỏa thuận 2.000.000.000 đồng; trả làm ba thời điểm, đến thời điểm giao hết
số tiền lần 2 thì bên M phải hoàn tất thủ tục sang tên xong Giấy chứng nhận
QSD đất mang tên H. Tuy nhiên khi M báo làm xong giấy chứng nhận
QSD đất mang tên H rồi thì M lại không giao trả giấy chứng nhận QSD
đất cho H được theo đúng thỏa thuận M mượn lại Giấy chứng nhận
QSD đất, thế chấp cho Ngân hàng để Công ty vay vốn. Do khi giao dịch chuyển
nhượng bà M cho H trả làm nhiều lần tiền, H thấy ngại chối từ thực
tế bà M cũng không giao Giấy chứng nhận QSD đất cho H (chỉ cho xem
bản phô tô) nên H cũng chấp nhận cho M, T2 Công ty cổ phần Đ1
mượn Giấy chứng nhận QSD đất. Hết thời hạn cam kết, H đòi nhiều lần
nhưng chưa được.
3
Năm 2016, bà M, bà T2 có mang 01 Hợp đồng thế chấp đến nhà bà H nhờ
H hoàn thiện hồ thế chấp cho Công ty cổ phần Đ1. H không muốn
nhưng phía M, T2 nhhứa chỉ một thời gian ngắn nữa sẽ lấy Giấy
chứng nhận QSD đất ra trả cho gia đình H; do không muốn hai bên căng
thẳng nên H đã sau đó đưa lại cho ông C tại nhà H vào buổi
tối, ban ngày giờ làm việc ông C đi làm xa. Bản thân H, ông C không vay
Ngân hàng, không sử dụng vào tiền của Ngân hàng cho Công ty cổ phần Đ1
vay. Mục đích để Công ty có thời gian xử lý nrút sổ đỏ trả cho H chứ
không mục đích mang tài sản của gia đình mình ra bảo đảm nghĩa vụ trả nợ
của Công ty cổ phần Đ1. Thời gian sau đó, bên mượn Giấy chứng nhận QSD đất
vẫn không lấy Giấy chứng nhận QSD đất ra trả cho gia đình bà H; H tiếp tục
đòi ráo riết Công ty cũng hứa hẹn thêm nhiều lần nhưng vẫn không thực
hiện được. Việc này xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của gia đình
H.
Việc thêm phụ lục hợp đồng thế chấp, biên bản xác định lại giá trị tài
sản bảo đảm do: năm 2018, cán bộ Ngân hàng mang đến nhà H một số
giấy tờ nhờ H nói để hoàn thiện thủ tục thanh tra, cũng công chức
quan Nhà nước, nghĩ rằng giúp họ hoàn thiện thủ tục thanh tra chuyện
bình thường nên bà H cũng ký và đưa ông C ký; ông bà không đọc kỹ nội dung;
sau đó việc mang ra công chứng là tự Ngân hàng thực hiện, bà H không biết.
Vợ chồng H, ông C không thỏa thuận với bà M, T2, Công ty cổ
phần Đ1 về việc mang tài sản sản nhà đất của H bán trả nợ thay cho Công ty
cổ phần Đ1; không được đến Ngân hàng, Phòng công chứng nào để kết văn
bản, hợp đồng; không được phía Ngân hàng, Công chứng viên giải thích về hậu
quả pháp của Hợp đồng thế chấp, phụ lục sửa đổi thế chấp. Ngân hàng cũng
không giao cho H, ông C cầm givăn bản, tài liệu trong hồ vay vốn
thế chấp của Công ty Đ1. Tất cả những tài liệu bà H, ông C có được để gửi kèm
đơn khởi kiện đều là do đi xin lại Ngân hàng mà có.
Do đòi Giấy chứng nhận QSD đất không được nên ngày 19/6/2018, H
cùng Công ty Cổ phần Đ1 đã lập 01 “Biên bản thỏa thuận” với nội dung căn bản
như sau:
+ Hai bên thống nhất thanh hợp đồng thế chấp trả lại Giấy chứng
nhận QSD đất cho H. Tính đến thời điểm 15/6/2018 H, ông C đã thanh
toán xong toàn bộ tiền mua nhà đất. Đến trước 30/8/2018, Công ty T8 với Ngân
hàng. Sau ngày 30/8/2018 Công ty phải trả nợ Ngân hàng trả lại Giấy chứng
nhận QSD đất cho bà H, ông C. Biên bản thỏa thuận này xác nhận của
H, Công ty Cổ phần Đ1, Người làm chứng” ông Nguyễn Khắc T4 - Cán
bộ Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình. Công ty cổ phần Đ1 vẫn không thực
hiện đúng cam kết.
Ngày 12/01/2020, tại nhà H, ông Nguyễn Lương H1 đại diện Công ty
tiếp “Biên bản cam kếtchấm dứt việc cho mượn Giấy chứng nhận QSD đất
Công ty phải trả lại Giấy chứng nhận QSD đất cho bà H trước ngày
03/02/2020. Đồng thời phía bà H, ông C cũng có văn bản gửi tới Ngân hàng A -
Chi nhánh P - Hòa Bình nêu sự việc vợ chồng không đồng ý dùng tài sản
của nh cho Công ty cổ phần Đ1 thế chấp nữa để Ngân hàng biết đốc thúc
4
Công ty cổ phần Đ1 trả nợ cho Ngân hàng, trả lại giấy chứng nhận QSD đất cho
vợ chồng H. Nhưng các bị đơn đều không động thái giải quyết khoản n
để trả lại Giấy chứng nhận QSD đất cho gia đình bà H.
Ngoài ra, H trình bày về quyền tài sản nhà đất, còn anh trai H
ông Đỗ Đức H2 góp một nửa tiền mua, vợ chồng bà H, ông C cùng hai con góp
một nửa; vợ chồng bà H, ông C là người đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận
QSD đất. Vợ chồng nghĩ chỉ cho mượn vài tháng không ảnh hưởng nên
cũng không thông báo những người này biết.
các thủ tục ký kết hợp đồng thế chấp, đăng thế chấp, phụ lục sửa
đổi thế chấp, xác định và xác định lại giá trị tài sản bảo đảm là do bị lừa dối, trái
với ý chí, mục đích nên H cùng các thành viên gia đình đồng nguyên đơn
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty cổ phần T6 (trước đây Công ty cổ phần Đ1), Nguyễn
Thị M, bà Nguyễn Thị T2 cùng với Ngân hàng A, Chi nhánh tỉnh P, Chi nhánh P
liên đới nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận QSD đất số: BG44439, U cấp ngày
30/06/2011, số vào sổ cấp GCN: CH 00368 đứng tên bà Đỗ Thị H cho vợ chồng
H, ông C;
Yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu:
Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 01-2016/HĐTC
ngày 27/9/2016 cùng các phụ lục, sửa đổi, bổ sung; văn bản công chứng kèm
theo (số B quyển số 02/2016, TP/CC-SCC/HĐGD).
2. Chị T chị C1 ý kiến: Đồng ý với nội dung khởi kiện của H,
ông C, ông Đ đã trình bày. Tại phiên tòa ngày 19/12/2025 chị T cho biết: chị T
chị C1 được ông nội cho khoản tiền hồi môn” 400.000.000 đồng, hai chị
đã góp số tiền này cho bố mmua nhà đất. Việc thế chấp QSD đất, chị không
được biết, không không đồng ý với trình bày của bị đơn. Phiên tòa ngày
29/12/2025 chị T chị C1 đơn xin vắng mặt tại phiên tòa rút yêu cầu
khởi kiện.
3. B đơn trình bày;
3.1. Công ty c phần Đ1, nay là: Công ty cổ phần T6, đại din ông
Nguyễn Lương H1 trình bày như sau:
Công ty TNHH Đ1 thành lập tháng 8/2000, do ông Nguyễn Lương H1
Giám đốc. Đến năm 2016 đổi thành “Công ty cổ phần Đ1”, Nguyễn Thị T2
(chị gái ông H1) là Chủ tịch HĐQT, ông H1 là Giám đốc, bà Nguyễn Thị M (chị
gái ông H1) thành viên HĐQT. Năm 2020 đổi thành “Công ty cổ phần T9”;
Chủ tịch HĐQT: ông Nguyễn Văn T5, Tổng giám đốc ông Nguyễn Lương H1.
Năm 2022 đến nay đổi tên thành “Công ty cổ phần T6”, ông Nguyễn Văn T5 -
Chủ tịch HĐQT, ông Nguyễn Lương H1 vẫn Tổng giám đốc đồng thời
người đại diện theo pháp luật của Công ty. Ông H1 khẳng định ông H1 đủ
cách tham gia tố tụng và đúng theo Điều lệ Công ty.
Công ty vay nhiều năm Ngân hàng A Chi nhánh P - Hòa Bình theo
hợp đồng tín dụng hạn mức 12 tháng một lần. Việc Công ty mượn giấy
chứng nhận QSD đất của Đỗ Thị H, thửa đất số: 343, Tờ bản đồ số: 06, địa
chỉ thửa đất: phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình (cũ), Giấy chứng nhận quyền sử
5
dụng đất số: BG 444399, U cấp ngày 30/06/2011, số vào sổ cấp GCN: CH
00368 việc vợ chồng H, ông C đã Hợp đồng thế chấp số
01/2016/HĐTC ngày 27/9/2016 với Ngân hàng A Chi nhánh P - Hòa Bình để
bảo đảm khoản vay của Công ty là có thật.
Về việc bà H, ông C cùng các đồng nguyên đơn khởi kiện thì: Ngày
10/8/2011, theo giấy biên nhận nội dung mượn Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”, ngày đó do Nguyễn Thị T2 Chủ tịch HĐQT bà Nguyễn Thị
M phụ trách về mảng tài chính, thu chi của Công ty trực tiếp giao dịch. Theo
ông biết thì ĐThị H bạn của T2, nên H cho T2 mượn Giấy
chứng nhận QSD đất để Công ty thế chấp Ngân hàng vay vốn. Bà T2 và bà M là
người ký giấy biên nhận mượn giấy chứng nhận QSD đất ngày 10/8/2011 với bà
H và ông C. Sau đó, ông H1 được đại diện Công ty ký kết hợp đồng thế chấp
tài sản số: 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 các văn bản cam kết trả lại Giấy
chứng nhận QSD đất cho H. Giấy chứng nhận QSD đất của bà H được dùng
để thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho các khoản vay của Công ty cổ phần Đ1 tại
Ngân hàng A (A) - Chi nhánh P, Hòa Bình. Hạn mức tín dụng, thay đổi từng
năm, tùy vào nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, vay đến mức nào thì cần có tài
sản thế chấp tương ứng đến đấy. Riêng tài sản của H bảo đảm cho nghĩa v
trả nợ tối đa 1.650.000.000 đồng khoản vay của Công ty.
Quá trình vay vốn của Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình, Công ty
cổ phần Đ1 trả nđều đặn từng năm, đến cuối năm 2019, Công ty mới gặp khó
khăn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng thông báo đến Công ty
gia đình bà H về việc xử lý tài sản thế chấp (là nhà và đất gia đình bà H đang ở),
do đó, bà H đã đòi lấy lại Giấy chứng nhận QSD đất.
ng ty không vay thêm lên được khoản tiền nào từ tài sản thế chấp của
H vì tài sản đã được xác định giá trị tài sản bảo đảm ràng trong hợp đồng
thế chấp. Công ty xác nhận nhà đất theo Giấy chứng nhận QSD đất tài sản
gắn liền với đất số BG 444399, U cấp ngày 30/06/2011, số vào sổ cấp GCN: CH
00368, thửa 343, Bản đồ 06 - Phương Lâm tài sản của gia đình H, không
phải tài sản của Công ty. Gia đình H không “vay ké”, không thụ hưởng tiền
vay. Công ty đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt, đã nhận
được Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải,
đã nắm được nội dung khởi kiện. Hiện tại Công ty khó khăn quá, khoảng 7, 8
năm nay không có sản xuất thu nhập gì, nợ thuế, không trả được ncho Ngân
hàng, dẫn đến sự việc trên. Đối với Hợp đồng thế chấp nêu trên, ông H1 không
nhớ là ký ở đâu, có thể là tại Công ty ông, ông thấy điều đó là bình thường và về
pháp Hợp đồng thế chấp này hiệu lực. Trường hợp Ngân hàng yêu cầu
quan thẩm quyền xử tài sản bảo đảm thì Công ty hoặc ông H1 sẽ đứng ra
nhận nợ với H, ông C để giải quyết về sau. Công ty ông H1 muốn
cũng không thể trả lại Giấy chứng nhận QSD đất cho các đồng nguyên đơn theo
nội dung của nguyên đơn khởi kiện.
3.2. Bà Nguyễn Thị T2 trình bày:
Hộ khẩu thường trú của bà T2 trước khi đi chấp hành án phạt tù là tổ B,
phường Đ, TP H, tỉnh Hòa Bình , nay Phường H, tỉnh Phú Thọ. T2 đã
nhận được Thông báo về việc thụ vụ án biết được nội dung khởi kiện của
6
nguyên đơn ĐThị H cùng các đồng nguyên đơn khởi kiện Công ty c
phần T6 do em trai T2 ông Nguyễn Lương H1 làm giám đốc các Ngân
hàng A, trong đó có Ngân hàng A Chi nhánh P - Hòa Bình.
Về sự tham gia của T2 trong vụ việc, T2 cho biết: Sau khi T2
nghỉ hưu cùng với ông Nguyễn Lương H1 thành lập điều hành Công ty
TNHH Đ1. Bà T2 xác nhận có mượn giấy chứng nhận QSD đất của bà H, ông C
để thế chấp Ngân hàng NN&PTNT - Chi nhánh P - Hòa Bình cho Công ty vay
vốn, giá trị bảo đảm tiền vay là: 1.650.000.000 đồng. Nhà đất thế chấp đó
quyền sử dụng và sở hữu của bà H, Giấy chứng nhận QSD đất mang tên bà H.
Khi mượn Giấy chứng nhận QSD đất để thế chấp Ngân hàng đã sự
đồng ý của H, ông C các con. Những người này đã làm việc trực tiếp với
Ngân hàng nhiều lần. Hiện giờ T2 đang bị đi chấp hành án phạt về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của những người khác (không liên quan đến tài
sản của H, ông C Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình). Nay T2
cũng không biết phải làm như thế nào. Các biên bản thỏa thuận, cam kết trả lại
giấy chứng nhận QSD đất do H thiết lập đưa T2 ký. Do điều kiện đang
chấp hành án phạt tù, bà T2 có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt.
3.3. Bà Nguyễn Thị M trình bày:
Xác định việc M chồng là: Ngô Thái D đã chuyển nhượng lại nhà
đất cho Đỗ Thị H. Trả tiền làm nhiều lần. M đã đi làm thủ tục sang tên
Giấy chứng nhận QSD đất mới cho bà H. Đến nay M không thắc mắc về
quyền tài sản, M khẳng định tài sản nhà đất thửa 343 Bản đồ 06, Giấy chứng
nhận QSD đất gia đình H đang đòi gia đình M đã chuyển nhượng xong
với bà H. Việc H, ông C cho bà M, bà T2Công ty cổ phần Đ1 mượn Giấy
chứng nhận QSD đất, thế chấp QSD, quyền sở hữu nhà đất là tự nguyện.
Việc làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận QSD đất M người trực
tiếp đi làm, khi làm xong về báo lại với H. Nhưng do nhu cầu vay vốn
của Công ty để hoạt động sản xuất kinh doanh nên ngay sau đó Công ty đã
mượn lại Giấy chứng nhận QSD đất của bà H để thế chấp Ngân hàng. Sau đó
M không còn làm ở Công ty N2.
3.4. Ngân hàng A cùng người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền
là NN&PTNT Việt Nam Chi nhánh P - Hòa Bình trình bày:
*/ Đối với yêu cầu đòi lại Giấy chứng nhận QSD đất:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất của
người khác số 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 được kết giữa: Bên nhận thế
chấp” (Bên A) Ngân hàng A - Chi nhánh P, Bên thế chấp(Bên B) là bà Đỗ
Thị H ông Nguyễn Mạnh C, “Bên được cấp tín dụng(Bên C) Công ty cổ
phần Đ1 (nay Công ty cổ phần T6) cùng các tài liệu liên quan được công
chứng tại Phòng C3 và được đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Tại điều 2 "Nghĩa vụ được bảo đảm" của Hợp đồng thế chấp số 01-
2016/HĐTC ngày 27/09/2016 đã nêu rõ: “Bên B” tự nguyện đem tài sản nói trên
(kể cả khoản tiền bảo hiểm cho tài sản đó - nếu có) thế chấp cho Bên Ađể
đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của “Bên Ctại các hợp đồng cấp tín dụng được ký
giữa bên A bên C (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản
7
phí chi phí phát sinh khác liên quan - nếu có) trong đó số tiền gốc là:
1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng).
Tại tiết 3.1.6, Khoản 3.1, Điều 3 của Hợp đồng thế chấp số 01-
2016/HĐTC ngày 27/09/2016 đã nêu rõ: Bên Bđược quyền nhận lại giấy tờ
về tài sản thế chấp khi hoàn thành nghĩa vđược bảo đảm nêu tại Điều 2 Hợp
đồng này hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
Mọi thỏa thuận giữa các bên không sự đồng ý của người đại diện theo
pháp luật phía Ngân hàng, đều không giá trị pháp lý, không làm thay đổi
những nội dung đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp.
Hiện tại Bên Cchưa hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, toàn bộ dư nợ của Bên
C đã quá hạn trả nợ và “Bên B” không phối hợp cùng Ngân hàng để xử lý tài sản
đảm bảo theo thỏa thuận. Do đó, Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình không
đồng ý trả lại Giấy chứng chứng nhận QSD đất cho bà H theo yêu cầu khởi kiện.
*/ Đối với yêu cầu Tòa án tuyên hiệu các văn bản: Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số 01-2016/HĐTC năm 2016 cùng
toàn bộ các phụ lục (sửa đổi, bổ sung) và Văn bản công chứng số 2167 quyển số
02/2016, TP/CC-SCC/HĐGD:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất của
người khác số 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 cùng toàn bộ tài liệu liên quan
được các bên tự nguyện thỏa thuận giao kết. Các bên giao kết hợp đồng đủ
năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Mục đích, nội dung không
vi phạm pháp luật, không trái đạo đức hội. Hợp đồng được công chứng
đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Do đó, Hợp đồng thế chấp nêu trên cùng toàn bộ tài liệu liên quan được
ký kết giữa các bên có hiệu lực bắt buộc thi hành với các bên giao kết.
*/ Về diễn biến quá trình vay nợ, dư nợ, quá hạn của Công ty Cổ phần T6
với Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình liên quan đến hợp đồng thế chấp số
01/2016/HĐTC ngày 27/09/2016 mà bà H cùng các đồng nguyên đơn đang khởi
kiện; Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình đã ký kết các hợp đồng sau:
- Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức. Số: 3012 LAV 201601315. MKH:
3012 - 139802727 ngày 04/10/2016. Tổng mức tín dụng được cấp:
7.000.000.000 đồng
- Hợp đồng tín dụng số: 3012LAV201701278 ngày 23/10/2017. Tổng
mức tín dụng được cấp: 7.000.000.000 đồng
- Hợp đồng tín dụng số 3012LAV201800991 ngày 31/7/2018. Tổng mức
tín dụng được cấp: 9.000.000.000 đồng
Công ty cổ phần Đ1 nay Công ty cổ phần T6 khách hàng vay vốn
truyền thống của Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình. Mục đích vay vốn: Bổ
sung vốn lưu động để thi công xây lắp công trình. Trong quá trình vay vốn Công
ty luôn trả n sòng phẳng. Kể t thời điểm Hợp đồng thế chấp s 01-
2016/HĐTC ngày 27/9/2016 - hàng năm, Ngân hàng bên vay vốn trước khi
kết hợp đồng hạn mức tín dụng mới đều đối chiếu, trao đổi về việc vay
vốn của Công ty, kiểm tra lại tài sản bảo đảm sẵn sàng bổ sung thêm thỏa
thuận, ghi nhận ý kiến khi bên thế chấp yêu cầu chính đáng, phù hợp với quy
8
định của pháp luật. Thể hiện tại: biên bản xác định lại giá trị tài sản số 01/2017
ngày 12/10/2017, số 01/2018 ngày 19/06/2018 và Sửa đổi bổ sung hợp đồng thế
chấp tài sản số 01- 2016/HĐTC ngày 19/06/2018.
- Tại thời điểm tháng 06/2018 tháng 07/2018 (là thời điểm kết hợp
đồng tín dụng số 3012-LAV-201800991 ngày 31/07/2018), theo thông tin tín
dụng của Trung tâm T10 (C4) - tình hình vay vốn của Công ty cổ phần Đ1 hoàn
toàn bình thường, khách hàng không có nợ xấu trong 05 năm gần nhất, không có
nợ cần chú ý trong 12 tháng gần nhất. Cho đến thời điểm báo cáo của CIC tháng
02/2019 thể hiện khoản vay của Công ty tại B Chi nhánh tỉnh P chuyển nợ xấu
từ đó Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình đã ngừng giải ngân cho khách
hàng, đồng thời thực hiện các biện pháp thu hồi nợ theo quy định.
*/ Về "diễn biến quá trình đưa tài sản nhà đất theo giấy chứng nhận QSD
đất số seri BG 44439 do UBND thành phố U cấp ngày 30/06/2011 đứng tên
Đỗ Thị H vào thế chấp bảo đảm cho việc vay nợ":
Ngân hàng làm theo thủ tục chung. Giá trị tài sản bảo đảm do các bên
thống nhất định giá là: 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ, hai trăm triệu đồng chẵn);
phạm vi bảo đảm số tiền gốc 1.650.000.000 đồng các khoản lãi trong
hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan (nếu có).
Tại thời điểm Công ty cổ phần Đ1 vay vốn Ngân hàng A - Chi nhánh P -
Hòa Bình tNguyễn Thị M, Nguyễn Thị T2 các cổ đông của Công ty.
Trong bộ hồ vay vốn gửi Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình hàng năm,
Công ty đều gửi đầy đủ biên bản họp Nghị quyết của Hội đồng quản trị với
việc thông qua hoạt động kinh doanh niên độ mới, về việc vay vốn Ngân hàng
việc dùng các tài sản bảo đảm cho khoản vay đều sự đồng thuận nhất trí
cao của các cổ đông Công ty.
Về nội dung văn bản thỏa thuận ngày 19/06/2018 giữa bàMinh, T2,
Công ty cổ phần Đ1 với vợ chồng H, ông C về thời hạn mượn Giấy chứng
nhận QSD đất số seri BG 44439 do U cấp ngày 30/06/2011 - Ngân hàng không
được thông báo, không được biết vấn đề trên. Ông Nguyễn Khắc T4 không phải
người đại diện pháp lý của Ngân hàng. Các lần ký sửa đổi, bổ sung hợp đồng,
phụ lục hợp đồng là do phía Công ty thay đổi tên gọi.
Nếu Công ty cổ phần Đ1 (nay Công ty cổ phần T6) không thực hiện
đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng A - Chi nhánh P
- Hòa Bình sẽ tiến hành các bước để xử lý tài sản bảo đảm là QSD đất và tài sản
gắn liền với đất của bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Mạnh C theo nội dung các bên
đã thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất của người khác số 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 theo quy định pháp luật.
Ngân hàng A - Chi nhánh P - Hòa Bình đồng thời đại diện theo ủy quyền cho
Ngân hàng A tham gia tố tụng không đồng ý với bất cứ yêu cầu khởi kiện nào
của các nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Ngân hàng cho biết: Thời điểm H nhận chuyển nhượng
QSD đất làm thủ tục cấp giấy chứng nhận, được cấp Giấy chứng nhận QSD
đất đương nhiên Giấy chứng nhận QSD đất M không trong Ngân hàng,
thể là doanh nghiệp đã xử nợ lấy Giấy chứng nhận QSD đất ra. Ngân
9
hàng đăng chữ mẫu tại Phòng C3 nên không cần phải trực tiếp ra
Phòng Công chứng ký hợp đồng thế chấp mà Công chứng viên chỉ cần đối chiếu
chữ mẫu của đại diện Ngân hàng, còn việc bên thế chấp, bên được cấp tín
dụng (Công ty cổ phần Đ1) mặt tại Phòng Công chứng khi kết hợp đồng
thế chấp, phlục sửa đổi thế chấp hay không thuộc trách nhiệm của Phòng
công chứng. Do sự thay đổi nhân sự, ông T1 mới về công tác nên không khẳng
định được bà H, ông C và đại diện Công ty cổ phần Đ1 hợp đồng thế chấp tại
đâu nhưng quan trọng nhất H, ông C đều thừa nhận chữ trên Hợp đồng
thế chấp và các văn bản liên quan đều là chữ ký của bà H, ông C.
3.5. Ngân hàng A Chi nhánh tỉnh P: Có ý kiến không liên quan đến hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng A Chi nhánh tỉnh P.
4. Ông Đỗ Đức H2 trình bày:
Ngày 25/04/2011, ông H2 là anh trai của H đã kết với vợ chồng
Đỗ Thị H ông Nguyễn Mạnh C một văn bản Hợp đồng hợp tác đầu tư, cùng
nhau bỏ vốn mua ngôi nhà tại phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình (QSD đất các
tài sản gắn liền với đất) với giá 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng chẵn) với mục
đích đầu tư. T lệ bỏ vốn tại thời điểm đó của ông H2 là khoảng 80%, vợ
chồngH, C khoảng 20%. Tuy nhiên, khi Giấy chứng nhận QSD đất thì
vợ chồng H lại tự ý cho Công ty cổ phần Đ1 (nay Công ty cổ phần T6)
mượn Giấy chứng nhận QSD đất thế chấp vào Ngân hàng để Công ty vay tiền.
Ông H2 không được H ông C thông báo, chỉ sau khi Tòa án ra thông báo
về việc thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của gia đình bà H thì ông mới được biết.
Nay ông H2 ý kiến: Yêu cầu Tòa án tuyên buộc vchồng H, ông C phải
tiếp tục hợp đồng hợp tác đầu đã với ông H2 ngày 25/04/2011, tuyên
hiệu các văn bản mà vợ chồng bà H, ông C đã ký như: Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01-2016/HĐTC ngày 27/09/2016 cùng
toàn bộ các phụ lục (sửa đổi, bổ sung) và Văn bản công chứng số 2167 quyển số
02/2016, TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/09/2016.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông H2 ông Lương
Đình T3 bổ sung nêu ý kiến: Đồng thuận với nội dung yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn người đại diện của H, ông C, tham gia tố tụng v
phía nguyên đơn, không ý kiến khác biệt khác (không phải là yêu cầu độc
lập).
5. Phòng C3 tỉnh Hòa Bình (nay Phòng C2 tỉnh Phú Thọ) văn
bản trình bày như sau:
Sau khi xem xét hồ yêu cầu ng chứng, Công chứng viên đã hướng
dẫn người yêu cầu công chứng tuân thủ đúng các quy định về thủ tục công
chứng và các quy định pháp luật có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, giao
dịch; giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích
hợp pháp của họ, ý nghĩa hậu quả pháp của việc tham gia hợp đồng, giao
dịch. Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc
công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe theo đề nghị của
người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bnội dung trong dự thảo hợp đồng,
giao dịch và ký vào hợp đồng, giao dịch.
10
Công chứng viên nhận thấy đây loại hợp đồng do các bên soạn thảo
sẵn, các bên tham gia hợp đồng gồm: bên nhận thế chấp, bên thế chấp, bên vay
vốn đã nghiên cứu toàn bộ nội dung dthảo hợp đồng. Các thành viên hộ gia
đình có tài sản thế chấp, trong đó có chủ hộ gia đình đã tự nguyện tham gia định
giá ký vào biên bản định giá tài sản QSD đất tài sản gắn liền với đất
theo giấy chứng nhận QSĐ đất có trong hồ sơ.
Các tài liệu về tài sản Giấy chứng nhận QSD đất, CMND do bên thế
chấp cung cấp đầy đủ. Bên thế chấp các thành viên hộ gia đình đã tự nguyện
vào hợp đồng thế chấp tài sản hợp đồng ủy quyền xử tài sản bảo đảm,
chủ thể tham gia hợp đồng đủ CMND; chữ của bên thế chấp đã vào
hợp đồng trùng khớp với chữ ký trong biên bản định giá tài sản.
Bên Ngân hàng đã ký, đóng dấu trước vào bản hợp đồng này do đã đăng
ký chữ ký và mẫu dấu tại Phòng công chứng; Công ty cổ phần Đ1 đã ký và đóng
dấu vào bản hợp đồng này cùng thời điểm với bên thế chấp, vào bản hợp
đồng này trước sự chứng kiến của công chứng viên theo quy định của pháp luật;
chính thế công chứng viên chỉ đối chiếu các thủ tục trong hồ để thực hiện
việc công chứng vào hợp đồng. Phòng C3 tỉnh Hòa Bình (nay Phòng C2 tỉnh
Phú Thọ) đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ, giải quyết vụ việc
theo quy định của pháp luật (Bút lục 281, 282). Hiện tại do thay đổi, di chuyển
nhà làm việc, bị thất lạc hồ thủ tục đăng chữ ký, mẫu dấu của Ngân hàng
nên Phòng công chứng không cung cấp được cho Tòa án.
6. Chi nhánh Văn phòng Đ2: đã nhận văn bản tố tụng của Tòa án, cung
cấp hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của Tòa án. Không có ý kiến gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa
án nhân khu vực 12 - Phú Thọ quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147;
Điều 227, 228, Khoản 2 Điều 244; 264, 266, 267, 269, Điều 271, 273 - Bộ luật
Tố tụng Dân sự;
Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Khoản 1 Điều 117, Điều 122,
Điều 127; Khoản 6, Điều 404, Khoản 1 Điều 405; Khoản 1 Điều 407, Điều 688
của Bộ luật dân sự 2015: Điểm c, d Điều 17; Khoản 4 Điều 40; Khoản 1
Khoản 2, Điều 44 của Luật công chứng;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đỗ Thị H, ông Nguyễn
Mạnh C;
- Tuyên vô hiệu: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất số 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 cùng toàn bộ các phụ lục, sửa đổi, bổ
sung hợp đồng thế chấp; văn bản công chứng số 2167 quyền số 02/2016,
TP/CC-SCC/HĐGD kèm theo tại Phòng C3 tỉnh Hòa Bình.
- Buộc Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị T2, Công ty cổ phần Đ1, Ngân
hàng N1 - Chi nhánh P; Ngân hàng N1 (trong phạm vi quản liên quan) phải
liên đới nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận QSD đất số BG 444399, số vào sổ cấp
GCN: CH 00368: thửa đất: 343, tờ bản đồ số: 06; địa chỉ: phường P, TP H, tỉnh
Hòa Bình (cũ), nay là: phường H, tỉnh Phú Thọ; U cấp ngày 30/06/2011 đứng
11
tên “Bà Đỗ Thị H” cho Đỗ Thị H ông Nguyễn Mạnh C. (đại diện nhận là:
Đỗ Thị H).
- Chi nhánh văn phòng Đ2 có nghĩa vụ xóa đăng thế chấp (ngày
27/9/2016 tại trang bổ sung 01 - Giấy chứng nhận QSD đất số BG 444399, s
vào sổ cấp GCN: CH 00368) theo yêu cầu của người được thi hành án.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị T, chị C1 khởi kiện của
đồng nguyên đơn với Ngân hàng A - Chi nhánh P.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của
các đương sự.
Ngày 09/01/2026, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn A - Chi nhánh P
kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo giữ nguyên nội dung đã kháng cáo các đương sự không thoả
thuận giải quyết toàn bộ vụ án. Người kháng cáo ý kiến: Đề nghị cấp phúc thẩm
hủy bản án thẩm, chuyển hồ cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại vi
phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, trường hợp không hủy án thì đề nghị bác
yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, công nhận của hiệu lực hợp đồng thế chấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán Thư
ký Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự tuân thủ đúng quy định về thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử quy
định. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng
theo quy định của pháp luật.
Về nội dung kháng cáo:
Bản án sơ thẩm đã tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất số 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 cùng toàn bộ các phụ
lục, sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp; Văn bản công chứng số 2167 quyển số
02/2016, TP/CC-SCC/HĐGD là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xác định Ngân hàng A cách pháp nhân còn Ngân hàng Chi nhánh
tỉnh P, cũng như Ngân hàng Chi nhánh P không có tư cách pháp nhân nên không
quyền nghĩa vụ tham gia tố tụng độc lập, trong vụ án này bị đơn Ngân
hàng A (A) - Chi nhánh P.
Về phần Quyết định của bản án: Buộc M, T2, Công ty cổ phần Đ1,
Ngân hàng phải liên đới nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận QSD đất số BG
444399 số vào scấp GCN: CH 00368: thửa đất: 343, tờ bản đồ số: 06 cho
Đỗ Thị H ông Nguyễn Mạnh C, xác định đây phần giải quyết hậu quả của
Hợp đồng thế chấp hiệu hiện tại Ngân hàng N3 - Chi nhánh P đang cầm
giữ, vì vậy chỉ tuyên Ngân hàng trả lại Giấy CNQSDĐ là phù hợp.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật
TTDS 2015, chấp nhận một phần kháng cáo sửa bản án dân sự thẩm số
42/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Phú Thọ
với nội dung nêu trên
Về án phí: Do sửa án, nên Ngân hàng N3- Chi nhánh P không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm.
12
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được xem xét,
thẩm tra tại phiên tòa cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Cấp thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh
chấp, thụ và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, nội dung theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp
nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Người không kháng cáo nhưng
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo và những người tham gia tố
tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo
quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
2.1. Về việc tham gia tố tụng: Theo Điều 68 BLTTDS: Bị đơn trong vụ
án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị quan, tổ chức, nhân
khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bngười đó xâm
phạm.
- Căn cứ vào nội dung khởi kiện của Nguyên đơn thể hiện các đồng
nguyên đơn khởi kiện chủ thể Ngân hàng A, Chi nhánh tỉnh P, Chi nhánh P,
cấp thẩm đã giải thích chỉ Ngân hàng A (A) cách pháp nhân, nhưng
nguyên đơn vẫn giữ nguyên việc khởi kiện này (thể hiện tại đơn sửa đổi bổ sung
khởi kiện ngày:14/3/2023); nhận thấy:
Theo khoản 1 Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2020, khoản 1 Điều 74,
Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015 thì Chi nhánh….là đơn vị phụ thuộc của pháp
nhân, không phải pháp nhân. Theo quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày
01/12/2022 của Ngân hàng N1 (A) quy định: Điều 1: y quyền thường xuyên
cho....Giám đốc, phó giám đốc Chi nhánh, đơn vị sự nghiệp thuộc A. Điều 2: (3)
Thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng khi A tham gia với cách
nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khi tham gia tố tụng
dân sự, tố tụng hành chính tại các cấp xét xử của Tòa án.
Như vậy, Ngân hàng A mới cách pháp nhân còn Ngân hàng Chi
nhánh tỉnh P, cũng như Ngân hàng Chi nhánh P không có tư cách pháp nhân nên
không quyền nghĩa vụ tham gia tố tụng độc lập, do vậy trong vụ án này
cần xác định bị đơn là - Ngân hàng A (A) Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm
Toàn V Tổng giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Xuân T1
Giám đốc Ngân hàng Chi nhánh P. địa chỉ: Đường C, phường H, tỉnh Phú Thọ.
- Căn cứ vào ni dung khi kin quá trình gii quyết v án, cấp
thẩm xác định Văn phòng C5 tỉnh Hòa Bình người quyn lợi nghĩa vụ
liên quan trong v án, để h thc hin quyền nghĩa vụ theo điều 73 B lut
T tng dân s đúng với qui định tại Điều 68 BLTTDS.
2.2. Về quyền sử dụng thửa đất:
- Giấy chứng nhận QSD đất số BG 444399, số vào sổ cấp GCN: CH
00368: thửa đất: 343, tờ bản đồ số: 06; địa chỉ: phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình
13
(cũ), nay là: phường H, tỉnh Phú Thọ; U cấp ngày 30/06/2011 đứng tên “Bà Đỗ
Thị H”
Nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án chị T và chị C1 là con của bà H ông
C trình bày được ông nội cho khoản tiền, hai chị đã p số tiền này cho bố
mẹ mua nhà đất (không tài liệu để chứng minh). Việc thế chấp QSD đất, chị
không được biết, không không đồng ý với trình bày của Ngân hàng, tại
cấp thẩm chị T chị C1 rút yêu cầu khởi kiện, đồng ý với nội dung khởi
kiện của bà H, ông C
Ông Lương Đình T3 người đại diện theo ủy quyền của ông H2 (ông H2
anh trai của H) ý kiến đồng thuận với nội dung yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và người đại diện của bà H, ông C (ông Đ), tham gia tố tụng về phía
nguyên đơn, không có yêu cầu độc lập.
Ngày 05/5/2026 Chị Nguyễn Phương TNguyễn Ngọc C1, ông Đỗ Đức
H2 đơn trình bày quyền sử dụng thửa đất 343 tài sản trên đất nêu trên
thuộc về ông C , bà H, đồng ý với phán quyết của cấp sơ thẩm.
Như vậy, căn cứ để xác định quyền sử dụng thửa đất số 343, tờ bản đồ
số: 06; địa chỉ: phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là: phường H, tỉnh Phú
Thọ; U theo Giấy chứng nhận QSD đất số BG 444399, số vào sổ cấp GCN: CH
00368: cấp ngày 30/06/2011 đứng tên “Bà Đỗ Thị H” là tài sản chung của bà Đỗ
Thị H và chồng ông Nguyễn Mạnh C được tạo lập trong thời ký hôn nhân.
2.3. Về việc ký hợp đồng thế chấp:
Hợp đồng thế chấp QSD đất tài sản gắn liền với đất của người khác số
01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 được ký kết giữa: Bên nhận thế chấp” (Bên A)
Ngân hàng A - Chi nhánh P, Bên thế chấp(Bên B) Đỗ Thị H ông
Nguyễn Mạnh C, “Bên được cấp tín dụng” (Bên C) là Công ty cổ phần Đ1.
H ông C khẳng định không được đến Ngân hàng hay Phòng công
chứng để ký, điều này được M thừa nhận việc mang hợp đồng thế chấp
đến nhà H. Ông Nguyễn Lương H1 cũng không khẳng định được Hợp
đồng thế chấp tại đâu; đại diện Ngân hàng cũng không khẳng định được là bà H,
ông C Công ty cổ phần Đ1 đến Ngân hàng Hợp đồng thế chấp hay
không; bên cạnh đó Ngân hàng còn khẳng định Ngân hàng không đến Phòng
công chứng để hợp đồng thế chấp đơn vđã đăng chữ ký mẫu Phòng
công chứng” và cho rằng như vậy phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 48
của Luật Công chứng. Ngân hàng Phòng công chứng không xuất trình được
tài liệu thể hiện việc Ngân hàng đăng chữ mẫu theo đúng quy định pháp
luật về công chứng.
Điều 44 Luật Công chứng 2014 quy đinh: “Việc công chứng phải được
thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.Việc công chứng thể được thực hiện ngoài trụ sở
của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng
người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang
thi hành án phạt hoặc do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ
chức hành nghề công chứng”.
14
Điều 48 Luật Công chứng 2014 quy đinh: “Người yêu cầu công chứng,
người làm chứng, người phiên dịch phải vào hợp đồng, giao dịch trước mặt
công chứng viên. Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của
tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác đã đăng chữ mẫu tại tổ chức hành
nghề công chứng thì người đó thể ký trước vào hợp đồng; công chứng viên
phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện
việc công chứng”.
Như vậy, với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ cũng như tranh tụng công khai
tại phiên tòa không thể hiện được là có việc bà H, ông C và Ngân hàng gặp nhau
đưa ra thông tin, ý chí, thỏa thuận, tiến tới giao kết Hợp đồng thế chấp nêu trên.
Đồng thời không tài liệu, chứng cứ chứng minh được địa điểm kết Hợp
đồng thế chấp tại trụ sở cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công chứng chứng thực.
Mặt khác lời chứng của công chứng viên ghi người đại diện của Ngân hàng
ông Đặng Lê N chức vụ giám đốc, người được ủy quyền ông Nguyễn Thanh H3
chức vụ phó Giám đốc theo giấy ủy quyền số 100 ngày 08/12/2015 do ông Đặng
Lê N ủy quyền, tuy nhiên hiện không có tài liệu này trong hồ sơ.
2.4. Về nội dung điều khoản của hợp đồng thế chấp:
Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp (về Nghĩa vụ được bảo đảm) đã ghi:
Bên B tự nguyện đem tài sản nói trên (kêt cả khoản tiền bảo hiểm cho tài sản đó
(nếu có) thế chấp cho bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên C tại các
hợp đồng cấp tín dụng được kết giữa bên A bên C (bao gồm ngốc, lãi
trong hạn, phạt quá hạn các khoản phí chi phí phát sinh khác liên quan nếu
có) trong đó số tiền gốc là 1.650.000.000đ.
Điều 317 BLDS quy đinh: Thế chấp tài sản việc một bên dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho
bên kia. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên thể thỏa thuận giao
cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.
Điều 293 BLDS quy đinh: Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm: (1). Nghĩa vụ
thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định
của pháp luật; nếu không thỏa thuận pháp luật không quy định phạm vi
bảo đảm thì nghĩa vụ coi nđược bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền
phạt và bồi thường thiệt hại. (2). Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện
tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ điều kiện. (3). Trường hợp bảo
đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo
đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 294 BLDS quy đinh: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai:
(1). Trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, các bên quyền
thỏa thuận cụ thể về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm thời hạn thực hiện
nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. (2). Khi
nghĩa vụ trong tương lai được hình thành, các bên không phải xác lập lại biện
pháp bảo đảm đối với nghĩa vụ đó.
Nhận thấy: Trong vụ án này, Hợp đồng thế chấp QSD đất tài sản gắn
liền với đất của người khác số 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 chỉ xác định
chung đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên C tại các hợp đồng cấp tín dụng
15
được kết giữa bên A bên C, không xác định cho hợp đồng tín dụng cụ
thể nào, tài liệu hồ sơ thể hiện (A) - Chi nhánh P đã ký kết các hợp đồng sau:
- Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 3012 LAV 201601315. MKH: 3012
- 139802727 ngày 04/10/2016. Tổng mức tín dụng được cấp: = 7 tỷ đồng, thời
hạn 12 tháng kể từ ngày hợp đồng này có hiệu lực,
Tại điều 9 của hợp đồng ghi: Trong thời hạn của hợp đồng cấp tín dụng
hạn mức nếu bên B nhu cầu được bên A chấp nhận hợp đồng cấp tín
dụng mới, các bên sẽ thanh hợp đồng cấp tín dụng hạn mức này ký hợp
đồng cấp tín dụng hạn mức mới, toàn bộ nợ còn lại của hợp đồng cấp tín
dụng hạn mức này sẽ chuyển sang theo dõi thực hiện tại hợp đồng cấp tín
dụng hạn mức mới”.
- Hợp đồng tín dụng số 3012LAV201701278 ngày 23/10/2017. Tổng mức
tín dụng được cấp: = 7 tỷ đồng thời hạn 12 tháng ktừ ngày hợp đồng này
hiệu lực, tại điều 12 của hợp đồng ghi: “Toàn bộ nợ của hợp đồng tín dụng
ngày 04/10/2016 được chuyển sang theo dõi tại Hợp đồng này”
- Hợp đồng tín dụng số 3012LAV201800991 ngày 31/7/2018. Tổng mức
tín dụng được cấp: = 9 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng kể từ ngày hợp đồng này
hiệu lực tại điều 12 của hợp đồng ghi: “Toàn bộ nợ của hợp đồng tín dụng
ngày 23/10/2017 được chuyển sang theo dõi tại Hợp đồng này”.
Với nội dung trên thì hiện tại chỉ Hợp đồng tín dụng ngày 31/7/2018 còn
hiệu lực, Ngân hàng cũng đã thể hiện tại văn bản trình bày ý kiến ngày
08/6/2026: A thực hiện cho công ty theo hợp đồng tín dụng ngày 31/7/2018 số
tạm tính đến ngày 31/5/2026 gốc là 624.322.423 đồng, lãi trong hạn
1.307516.807 đồng.
2.5. Tại biên bản làm việc giải quyết khoản vay nợ ngày 09/6/2020 H
ý kiến: Vợ chồng không nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng tín dụng bởi
ngày 19/6/2018 các bên gồm Công ty Đ1, gia đình tôi, ông Nguyễn Khắc T4
(cán bộ tín dụng, người quản khoản vay đã cùng nhau kết vào thỏa thuận
chấm dứt nghĩa vụ bảo đảm của vợ chồng tôi cho các khoản vay của công ty Đ1
trước ngày 19/6/2018, phía Ngân hàng cố tình giải ngân theo hợp đồng tín dụng
ngày 31/7/2018.
Nội dung biên bản thể hiện: Hai bên thống nhất thanh hợp đồng thế
chấp và trả lại Giấy chứng nhận QSD đất cho bà H. Tính đến thời điểm
15/6/2018 H, ông C đã thanh toán xong toàn btiền mua nhà đất. Đến trước
30/8/2018, Công ty T8 với Ngân hàng. Sau ngày 30/8/2018 Công ty phải trả n
Ngân hàng trả lại Giấy chứng nhận QSD đất cho H, ông C. Biên bản thỏa
thuận này xác nhận của H, Công ty C phần Đ1, “Người làm
chứng” là ông Nguyễn Khắc T4 - Cán bộ Ngân hàng Chi nhánh P.
Ngân hàng ý kiến anh T4 chỉ người chứng kiến nội dung buổi làm
việc với cách nhân không phải người đại diện - bl 173, tuy nhiên tại thông
báo xnợ ngày 19/7/2022 thì Ngân hàng vẫn xác định ông Nguyễn Khắc T4
các bộ xử nợ - bl 179. Tại Quyết định số 66/QĐ-HĐTV-KHDN ngày
22/01/2014 của (A) tại phần giải thích từ ngũ nêu: (30) Người quản khoản
vay người được giao nhiệm vụ soạn thảo hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo
16
đam,r tiền vay, đxuấ giải ngân khoản vay, kiểm tra, giám sát khoản vay, theo
dõi đôn đốc thu hồi xử khoản vay…Người quản khoản vay cán bộ
Ngân hàng nơi cho vay.
căn cứ xác định vào thời điểm ngày 19/6/2018 người thế chấp tài sản
đã thế hiện ý chí chấm dứt nghĩa vụ bảo đảm cho các khoản vay của công ty Đ1,
anh T4 người quản lý khoản vay đã biết về nội dung người có trách
nhiệm thông báo lại cho Ngân hàng trước khi Ngân hàng giải ngân theo hợp
đồng tín dụng ngày 31/7/2018.
2.6. Hợp đồng thế chấp trong hoạt động ngân hàng hợp đồng theo mẫu
do tổ chức tín dụng soạn thảo. Theo khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm
2015, trong trường hợp điều khoản của hợp đồng theo mẫu không ràng thì
phải giải thích theo hướng bất lợi cho bên đưa ra hợp đồng theo mẫu. Đặc biệt,
theo Điều 406 Điều 407, các điều khoản loại trừ trách nhiệm của bên đưa ra
hợp đồng theo mẫu hoặc m tăng trách nhiệm, hạn chế quyền lợi chính đáng
của bên kia. Việc giải thích điều khoản " Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của
bên C tại các hợp đồng cấp tín dụng được kết giữa bên A bên C " trong
hợp đồng thế chấp phải phù hợp với ý chí chung của các bên tại thời điểm giao
kết, gắn với hợp đồng tín dụng gốc hạn mức thời hạn xác định, không thể
hiểu là sự chấp thuận vô thời hạn, không giới hạn phạm vi.
Ngân hàng đã tự diễn giải theo hướng bất lợi cho bên thế chấp coi như
tài sản sẽ bảo đảm hết khoản vay này đến khoản vay khác trong tương lai
không cần thông báo cho chủ tài sản không phù hợp với với nguyên tắc tự
nguyện, thiện chí (Điều 3 BLDS), lẽ tự nhiên, với khoản 1 Điều 294 BLDS
có thể gây thiệt hại không chính đáng cho bên có tài sản thế chấp.
Hành vi thỏa thuận với Công ty để tiếp tục dùng tài sản của H, ông C
bảo đảm cho các khoản vay sau không sự đồng ý của chủ tài sản bxem
vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận và pháp luật. Do vậy, ngân hàng không
quyền xử lý tài sản thế chấp này để thu hồi các khoản nợ phát sinh về sau.
2.7. Việc vợ chồng H có ký vào Sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp tài
sản số 01- 2016/HĐTC ngày 19/06/2018 theo nội dung văn bản số
5857/NHNo-HSX ngày 21/7/2017 của (A) v/v bổ sung nội dung vgiao tài sản
bảo đảm cho ngân hàng trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi
nợ, cụ thể có nội dung:
3.2.12 Giao tài sản bảo đảm kèm theo đầy đủ giấy tờ, hồ pháp của
tài sản bảo đảm cho bên A hoặc được bên A ủy quyền khi phải xử lý tài sản bảo
đảm để thu nợ, đồng thời phải phối hợp với bên A để xử tài sản bảo đảm
thanh toán các chi phí phát sinh liên quan đến việc xử lý tài sản (nếu có)
3.3.8. Trường hợp phải xtài sản bảo đảm để thu nợ. Bên B không
phối hợp đgiao tài sản cho bên A xử thì bên A được quyền thu giữ tài sản
bảo đảm để xử lý thu hồi nợ gốc, lãi, phí và tiền phạt (nếu có).
Cũng nviệc vợ chồng H vào biên bản xác định lại giá trị tài
sản số 01/2017 ngày 12/10/2017, số 01/2018 ngày 19/06/2018. Các nội dung
sửa đổi và biên bản đó chưa thể hiện việc thỏa thuận cụ thể về phạm vi nghĩa vụ
được bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm.
17
2.8. Về việc đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền trên đất:
Ngày 10/8/2011, vợ chồng H, ông C cho bà Nguyễn Thị T2
Nguyễn Thị Minh M1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
trên đất số: BG444399 do U, tỉnh Hòa Bình cấp ngày 30/06/2011; số vào sổ cấp
GCN: CH 00368; đứng tên Đỗ Thị H. Hai bên lập: 01 “Giấy biên nhận”
ngày 10/8/2011, cam kết đến ngày 31/12/2011 sẽ trả lại Giấy chứng nhận QSD
đất bl 17, nội dung mượn không thể hiện làm việc gì, nhưng theo lời khai của
các bên thì để vay tiền cho Công ty cổ phần Đ1,
Theo Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21-9-2011 của Tòa án
nhân dân Tối cao thì: Nếu yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ
trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi cản trở thực hiện
quyền của người sử dụng đất thì Tòa án nhân dân sẽ thụ giải quyết theo quy
định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xác định hiện tại Giấy của H đang do Ngân hàng lưu giữ. do vậy việc
xem xét trả lại giấy cho H được giải quyết đồng thời khi giải quyết cùng với
hợp đồng thế chấp tài sản.
2.9. Về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:
Tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: (1). Giao dịch dân sự
hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các
bên kể từ thời điểm xác lập. (2). Khi giao dịch dân sự vô hiệu tcác bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; ..bên có lỗi gây
thiệt hại thì phải bồi thường.
Theo Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án
NDTC quy định: Khi giải quyết vụ án dân sự yêu cầu tuyên bố hợp đồng
hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu thì
Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp của việc tuyên bố
hợp đồng hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản lưu vào hồ
vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cđương sự vẫn không yêu
cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu
không phải giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu; trtrường hợp đương sự
không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ
với Nhà nước hoặc người thứ ba.
Quá trình giải quyết ván cho thấy các đương sự đều không ý kiến
giải quyết về hậu quả pháp của việc tuyên bố hợp đồng hiệu. Căn cứ vào
nội dung thông báo về việc thụ lý vụ án và biên bản tiếp cận công khai chứng cứ
ngày 28/11/2023 thể hiện Ngân hàng biết nội dung khởi kiện nhưng Ngân hàng
ý kiến chung không yêu cầu phản tố, khi cần thiết sẽ khởi kiện giải
quyết bằng vụ kiện khác - bl214. Ý kiến này của Ngân hàng là phù hợp với Điều
5 BLTTDS về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Việc cấp sơ thẩm
chưa lập biên bản cụ thể là thiếu sót.
Nhận thấy, tại phần quyết định của bản án thẩm cũng đã buộc
Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị T2, Công ty cổ phần Đ1, (A) - Chi nhánh P; (A)
(trong phạm vi quản liên quan) phải liên đới nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận
18
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền trên đất, đây nội dung việc giải quyết
hậu quả hợp đồng hiệu theo đúng khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự. (khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận), xác định hiện
tại (A) - Chi nhánh P đang cầm giữ giấy, vì vậy chỉ cần tuyên (A) - Chi nhánh P
trả lại Giấy CNQSDĐ cho bà H là phù hợp và đầy đủ.
2.10. Theo Điều 29 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính
Phủ quy định: Hợp đồng bảo đảm bị hiệu không làm chấm dứt hợp đồng
nghĩa vụ được bảo đảm, do vậy, trường hợp Công ty cổ phần Đ1, đổi tên là:
Công ty cổ phần T9; nay đổi tên thành Công ty cổ phần T6 - HÒA BÌNH. Địa
chỉ: số C T, tổ H, Q (cũ), phường H, tỉnh Phú Thọ chưa thực hiện nghĩa vtrả
tiền đã vay cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đòi nợ theo quy định.
[3] Như vậy, việc thu thập chứng cứ chứng minh đã được cấp thẩm
thực hiện đầy đủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp
thẩm căn cứ lời khai của đương sự các tài liệu, chứng cứ do các bên cung
cấp để chấp nhận đơn khởi kiện là căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại
phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ
nào mới được pháp luật chấp nhận. Bản án thẩm một số nội dung cần sửa
đổi (do người khởi kiện đã trình bày tại phiên tòa phúc thẩm) như đã nhận
định trên nên, nên chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án dân sự sơ thẩm số
42/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Phú Thọ,
phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân n
tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa.
[4] Ván phí: Giữ nguyên án phí dân sự thẩm. Do sửa một phần bản
án nên người kháng cáo không phải phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án dân sự thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy
định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một
phần kháng cáo của bđơn, sửa bản án dân sự thẩm số 42/2025/DS-ST ngày
29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Phú Thọ, cụ thể:
Căn cứ: Khoản 2, 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147;
Điều 227, 228, khoản 2 Điều 244; 264, 266, 267, 269, Điều 271, 273 - Bộ luật
Tố tụng Dân sự;
Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. khoản 1 Điều 117, Điều 122, Điều
127; khoản 6, Điều 404, khoản 1 Điều 405; khoản 1 Điều 407, Điều 688 của Bộ
luật Dân sự 2015. điểm c, d Điều 17; khoản 4 Điều 40; khoản 1 khoản 2,
Điều 44 của Luật Công chứng;
Căn cứ vào Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của U1.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H, ông
Nguyễn Mạnh C;
19
- Tuyên vô hiệu: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất số 01-2016/HĐTC ngày 27/9/2016 cùng toàn bộ các phụ lục, sửa đổi, bổ
sung hợp đồng thế chấp; văn bản công chứng số 2167 quyền số 02/2016,
TP/CC-SCC/HĐGD kèm theo tại Phòng C3 tỉnh Hòa Bình, nay sát nhập,
chuyển đổi là: Phòng C2, tỉnh Phú Thọ.
- Buộc Ngân hàng A - Chi nhánh P trả lại Giấy chứng nhận QSD đất số
BG 444399, số vào sổ cấp GCN: CH 00368: thửa đất: 343, tờ bản đồ số: 06; địa
chỉ: phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là: phường H, tỉnh Phú Thọ; U
cấp ngày 30/06/2011 đứng tên “Bà Đỗ Thị H” cho Đỗ Thị H ông Nguyễn
Mạnh C (đại diện nhận là: bà Đỗ Thị H).
- Chi nhánh Văn phòng Đ2, tỉnh Phú Thọ nghĩa vụ xóa đăng thế
chấp (ngày 27/9/2016 tại trang bổ sung 01 - Giấy chứng nhận QSD đất số BG
444399, số vào sổ cấp GCN: CH 00368) theo yêu cầu của người được thi hành
án.
2. Về án phí:
2.1 Án phí thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí DSST. Mỗi bị
đơn M, T2, Công ty cổ phần T6 phải chịu án phí DSST là: 300.000 đồng.
Ngân hàng A - Chi nhánh P phải chịu án phí DSST là: 300.000 đồng
Trả lại cho các nguyên đơn: Đỗ Thị H, ông Nguyễn Mạnh C, chị
Nguyễn Phương T, chị Nguyễn Ngọc C1 mỗi người 300.000 đồng theo các biên
lai: 0004571, 0004752, 0004753, 0004754 ngày 22/02/2023 tại: Thi hành án dân
sự tỉnh Phú Thọ.
2.2. Án phí phúc thẩm: Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng A - Chi nhánh P số tiền 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000666 ngày 23/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
[3] Các quyết định khác của Bản án dân sự thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy
định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (09/6/2026).
20
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm 1- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 12- Phú Thọ;
- TAND khu vực 12- Phú Thọ;
- P.THADS khu vực 12- Phú Thọ;
- Các Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Quang Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 155/2026/DS-PT Bản án số 155/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 155/2026/DS-PT Bản án số 155/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất