Bản án số 170/2026/DS-PT ngày 12/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 170/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 170/2026/DS-PT ngày 12/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 170/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo bị đơn chị Đỗ Thị B; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 170/2026/DS-PT
Ngày 12-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc,
hợp đồng vay tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân
Bà Đoàn Thị Hương Nhu
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2026/TLPT-DS ngày 03 tháng
03 năm 2026 v việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 122/2026/QĐ-PT ngày 22
tháng 4 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà s235/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng
5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; Số CCCD:
************; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương (nayxã T, thành
phố Hải Phòng); có mặt;
- Bị đơn: Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1984; Số CCCD: ************ anh
Lưu Duy Đ, sinh năm 1981; Số CCCDS: ************; cùng địa chỉ: Thôn T, xã
L, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là phường V, thành phố Hải Phòng); đu vắng mặt
(chị Đỗ Thị B đơn xin xét xử vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn chị Đỗ Thị B, sinh năm 1984; S CCCD:
************; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là phường V,
thành phố Hải Phòng).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên
đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh chị Đỗ Thị B không mối quan hệ họ hàng. Anh biết chị B khả
năng bán các đất tại khu đô thị P nên anh đặt vấn đ mua đất của chị B. Trên cơ
sở thỏa thuận, anh đặt cọc để mua 05 lô đất lin k từ lô 15-19. Số tin đặt cọc
1.765.000.000 đồng. Số tin này anh đã chuyển khoản cho chị B và chị B đã nhận
đủ. Khi đặt cọc hai bên thiết lập thành hợp đồng đặt cọc vào ngày 26/8/2021,
trong nội dung hợp đồng nêu chị B đồng ý bán cho anh nhà đất tại thửa đất lin
k 20 từ lô 15-19. Nội dung hợp đồng ghi như vậy nhưng tại thời điểm đặt cọc tin,
anh biết chị B chưa được nhận đất, toàn bphần đất đô thị phía tây Nam Sách lúc
đó mới là dự án, chưa có cơ sở hạ tầng. Anh hoàn toàn tin tưởng chị B nên mới đặt
cọc mua 05 lô đất trên. Sau này, giá đất tăng anh cũng không nhu cầu mua đất,
chị B cũng không khả năng bàn giao đất nên hai bên thống nhất chấm dứt hợp
đồng đặt cọc và anh yêu cầu chị B cùng anh Đ phải có trách nhiệm thanh toán toàn
bộ số tin cọc cho anh 1.765.000.000 đồng. Anh yêu cầu anh Đ phải trách
nhiệm cùng chị B thanh toán tin cho anh trong hợp đồng đặt cọc anh Đ ký tên
nên phải có trách nhiệm cùng.
Cùng ngày 26/8/2021 anh chị B tiếp tục hợp đồng vay vốn với mục
đích: Chị B vay đđặt cọc mua đất tại khu đô thị P. Anh cho chị B vay với số tin
3.275.000.000 đồng. Số tin này anh đã chuyển khoản cho chị B, chị B đã nhận đủ.
Khi cho vay hai bên có thiết lập hợp đồng vay tài sản. Trong nội dung hợp đồng có
chỗ ghi vay tin, chlại thể hiện nội dung là đặt cọc mua 10 đất tại khu phía
tây N. Tuy nhiên, anh xác định số tin trên anh cho chị B vay, vay có thỏa thuận v
lãi suất theo lãi suất Ngân hàng TMCP S có thỏa thuận v thời hạn thanh toán là
02 tháng. Quá thời hạn thanh toán anh đã trao đổi yêu cầu chị B trả lại số tin trên.
Chị B đã thanh toán cho anh được 340.000.000 đồng. Số tin chị B còn nợ anh tại
hợp đồng vay là 2.935.000.000 đồng. Anh xác định khoản tin vay này anh cho chị
B vay riêng, không liên quan đến anh Đ nên anh Đ không trách nhiệm liên đới
thanh toán cùng chị B.
Toàn bsố tin anh đặt cọc cho chị B và cho chị B vay là tin của anh, không
liên quan đến vợ anh là chị Trần Thị C. Tại hợp đồng đặt cọc do hai bên thống nhất
chấm dứt hợp đồng đặt cọc nên anh chỉ yêu cầu chị B thanh toán trả tin gốc cho
anh, anh không có yêu cầu giải quyết v phạt cọc hay bồi thường thiệt hại. Đối với
hợp đồng vay tài sản, anh cũng chỉ yêu cầu thanh toán tin nợ gốc, không yêu cầu
thanh toán tin lãi. Số tin chị B cầm của anh từ năm 2021 đến nay đã ảnh hưởng
đến quyn lợi của anh. Do vậy, anh đ nghị Tòa án buộc chị B anh Đ trách
nhiệm trả cho anh số tin đặt cọc 1.765.000.000 đồng, chị B trách nhiệm trả
cho anh số tin vay là 2.935.000.000 đồng (Phương thức thanh toán một lần.
3
Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị
đơn chị Đỗ Thị B trình bày:
Chị anh Nguyễn Văn H không mối quan hệ họ hàng mà chỉ là quen biết
do làm ăn kinh tế cùng nhau. Chị làm công nhân nhưng thỉnh thoảng cũng tham gia
vào công việc môi giới bất động sản. Ngày 26/8/2021 anh H đến nhà chị đặt
vấn đ muốn đặt cọc mua 05 lô đất tại khu đô thị P. Chị liên hệ với chị Nguyễn Thị
L người thường xuyên buôn bán bất động sản. Chị cũng đã nói với anh H v
việc chị nhận tin, sau đó chị chuyển cho chị L anh Hiệp đồng Ý. Do vậy, ngày
26/8/2021 chị anh H đã ký hợp đồng đặt cọc. Nội dung hợp đồng nanh H trình
bày chính xác. Chị đã nhận đủ số tin 1.765.000.000 đồng của anh H bằng hình
thức chuyển khoản. Số tin này chị đã chuyển cho chị L. Thời điểm đặt cọc thì đất
đô thị chưa hình thành, cơ sở hạ tầng chưa xong. Sau này, đất đã hình thành, giá đất
tăng cao, anh H không đồng ý mua nên hai bên thống nhất chấm dứt hợp đồng đặt
cọc. Anh H yêu cầu chị thanh toán cho anh số tin trên, chị nhất trí trả. Sau khi nhận
tin của anh H chị chuyển lại cho chị L nhưng trong vụ án này chị không yêu cầu
đối với chị L, chị sẽ trách nhiệm đối với anh H. Chị xác định số tin đặt cọc chị
nhận của anh H không liên quan đến anh Đ khi thỏa thuận đặt cọc, anh Đ không
có nhà, không tham gia vào công việc của chị. Thỏa thuận xong, anh Đ đi làm v
gặp anh H, anh H đ nghị anh Đ vào hợp đồng, anh Đ với cách là người
làm chứng, không liên quan đến công việc làm ăn của chị nên anh Đ không trách
nhiệm liên đới cùng chị thanh toán số tin trên cho anh H mà chị sẽ có trách nhiệm
riêng đối với số tin này.
Đối với hợp đồng vay tài sản: Ngày 26/8/2021 chị anh H hợp đồng
vay tài sản. Nội dung chị vay của anh H số tin 3.275.000.000 đồng. Chị đã nhận đủ
số tin vay bằng hình thức anh H chuyển khoản cho chị. Trong nội dung hợp đồng
vay, hai bên thỏa thuận vlãi suất thời hạn thanh toán nhưng thực tế thỏa thuận
ngoài với nhau không lãi suất và không có thời hạn vay. Chị nhận stin của anh
H để đặt cọc 10 đất tại khu đô thị P. Trong nội dung hợp đồng vay chỗ thỏa
thuận v vay tin có chỗ thỏa thuận v đặt cọc đất nhưng anh chị thống nhất là hợp
đồng vay. Số tin vay của anh H, chị đã trả được cho anh H 340.000.000 đồng. Hiện
nay chcòn nợ lại 2.935.000.000 đồng, anh H yêu cầu thanh toán, chị hoàn toàn
nhất trí. Do điu kiện hoàn cảnh khó khăn, chị chưa thu xếp được trả anh H ng
một lúc nên chị đưa ra phương án thanh toán số tin của hợp đồng vay và hợp đồng
đặt cọc làm nhiu lần tuy nhiên anh H không đồng ý nên chị đnghị Tòa án giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của chị Trần Thị C: Chị là vợ anh Nguyễn Văn H. Số tin anh H
đặt cọc cho chị Đỗ Thị B vay tin riêng của anh H, không liên quan đến chị.
Đây không phải là tài sản chung vợ chồng nên chị không liên quan đến vụ án.
4
Quan điểm của anh Lưu Duy Đ: Anh xác định, anh không liên quan đến khoản
tin chị Đỗ Thị B và anh Nguyễn Văn H đang tranh chấp tại Tòa án. Việc làm
ăn của chị B, anh không liên quan. Ngày 26/8/2021 khi anh đi làm vthì thấy anh H
và chị B đang nói chuyện, anh H gọi anh vào ký biên bản. Anh không hiểu việc làm
ăn của hai người nhưng anh vẫn với tư cách người làm chứng. Anh không liên
quan đến khoản tin đặt cọc trên giữa anh H và chB, anh H yêu cầu anh thanh toán,
anh không nhất trí và đ nghị Toà án không chấp nhận.
Quan điểm của chị Nguyễn Thị L: Chị là chị dâu của chị Đỗ Thị B và không
có mối quan hệ gì với anh Nguyễn Văn H. Năm 2021, chị B có đặt cọc cho chị tin
để mua các đất như nguyện vọng của anh H chị cũng trao đổi với anh H v việc
chị B đặt cọc chỗ chị để giữ đất cho anh H. Sau này đất anh H đặt cọc mua giá lên
cao nên hai bên thống nhất chấm dứt hợp đồng đặt cọc, chị B phải trách nhiệm
thanh toán trả tin cho anh H, còn chị có trách nhiệm với chị B. ChB không có đ
nghị Tòa án giải quyết mối quan hệ đặt cọc giữa chị và chị B, chị hoàn toàn nhất trí,
không có ý kiến gì. Mối quan hệ đặt cọc mua đất chị chỉ thực hiện giao dịch với chị
B, không liên quan đến anh Đ. Chị được biết, anh H yêu cầu anh Đ trách nhiệm
liên đới với chị B để thanh toán tin cho anh H không căn cứ đ nghị Tòa
án xem xét giải quyết theo quy định nhằm đảm bảo quyn lợi cho các bên.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31
tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng xử:
Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H.
- Buộc bị đơn chị Đỗ Thị B phải trách nhiệm thanh toán cho anh Nguyễn
Văn H số tin đặt cọc là 1.765.000.000 đồng và số tin vay là 2.935.000.000 đồng.
Tổng số tin là 4.700.000.000 (Bốn tỷ bẩy trăm triệu) đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu cầu thi
hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải chịu trả lãi đối với số tin
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tin được
xác định theo quy định tại Điu 357, Điu 468 của Bộ luật dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H v việc: Buộc
anh Lưu Duy Đ có trách nhiệm liên đới cùng chị Đỗ Thị B thanh toán cho anh H số
tin đặt cọc là 1.765.000.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên v án phí và quyn kháng cáo đối với các
đương sự.
* Sau khi xét x thẩm, bị đơn chị Đỗ Thị B, sinh năm 1984; Số CCCD:
************; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là phường V,
thành phố Hải Phòng) có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự thẩm số
27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải
5
Phòng, đ nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng xem xét lại
bản chất quan hệ tranh chấp giữa các bên; trường hợp vẫn xác định chị Đỗ Thị B
nghĩa vụ thanh toán, đ nghị cho phép chị được thanh toán nghĩa vụ tài chính theo
nhiu đợt phù hợp với khả năng thực tế, không buộc chị Đỗ Thị B phải thanh toán
một lần toàn bộ số tin 4.700.000.000đ (Bốn tỷ bảy trăm triệu) đồng.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn chị Đỗ Thị B không cung cấp thêm được tài
liệu, chứng cứ gì mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
V thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành thực hiện đúng các quyn
và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
V quan điểm đối với kháng cáo của bị đơn chị Đỗ Thị B:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa,
căn cứ vào khoản 1 Điu 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đ nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Đỗ Thị B; giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
12 - Hải Phòng.
V án phí: Bị đơn chị Đỗ Thị B phải nộp 300.000 đồng tin án phí dân sự
phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- V tố tụng:
[1] V quan hệ pháp luật thẩm quyn giải quyết: Đây vụ án tranh chấp
v hợp đồng đặt cọc, hợp đồng vay tài sản thuộc tranh chấp v giao dịch dân sự theo
quy định tại khoản 3 Điu 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án kháng cáo nên
thuộc thẩm quyn giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo điểm b
khoản 1 Điu 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- V yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H:
[2] Đối với hợp đồng đặt cọc: Ngày 26/8/2021 chị Đỗ Thị B anh Nguyễn
Văn H thiết lập hợp đồng đặt cọc. Nội dung thể hiện: Anh H đặt cọc cho chị B số
tin 1.765.000.000 đồng để mua 05 nhà đấtđịa chỉ: LK20 lô 15-19 tại khu đô thị
P. Anh chị đu thừa nhận, hợp đồng đặt cọc được kết trên cơ sở tự nguyện, chị B
đã nhận đủ số tin 1.765.000.000 đồng của anh H nên hợp đồng giá trị pháp
buộc các bên phải nghĩa vụ thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh chị tự
nguyện chấm dứt hợp đồng. Việc chấm dứt hợp đồng cũng tự nguyện nên HĐXX
ghi nhận. Do hợp đồng không được thực hiện nên anh H yêu cầu chị B anh Đ
6
phải có trách nhiệm thanh toán số tin 1.765.000.000 đồng, anh không yêu cầu phạt
cọc. Chị B nhất trí trả số tin trên nên HĐXX ghi nhận.
V nghĩa vụ thanh toán: Anh H yêu cầu chị Đỗ Thị B anh Lưu Duy Đ
trách nhiệm liên đới thanh toán nợ cho anh. Chị B và anh Đ xác định: Khoản nợ trên
là nợ riêng của chị B, chị B nhất trí trả không liên quan đến anh Đ. HĐXX đánh giá
như sau. Anh H và chị B thoả thuận kết hợp đồng đặt cọc thật, việc bàn bạc
liên quan đến đặt cọc mua đất chỉ chị B giao dịch với anh H. Chị B nhận tin bằng
hình thức chuyển khoản cũng chỉ chuyển vào tài khoản của chị. Chị nhận xong chị
chuyển lại cho chị L chị L thừa nhận đã nhận của chị B nhưng cũng chỉ liên hệ
với chị B, anh Đ chưa bao giờ tham gia vào giao dịch môi giới bất động sản giữa các
bên. Tại hợp đồng đặt cọc thể hiện: Bên bán chỉ tên chị Đỗ Thị B, tại phần tài sản
đặt cọc cũng chỉ thể hiện “tôi là Đỗ Thị B đã nhận đủ số tiền trên”. Trong toàn bộ
nội dung hợp đồng không có chnào thể hiện tên hoặc ý ccủa anh Đ tham gia vào
hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, tại mục cuối của hợp đồng, anh Đ có ký tên Lưu Duy
Đ vào cùng chị Đỗ Thị B. Anh Đ thừa nhận chữ ký đó là của anh nhưng anh ký chỉ
với vai trò làm chứng chị B đã nhận đủ số tin của anh H. Căn cứ vào toàn bộ quá
trình thực hiện thỏa thuận quá trình giao dịch. HĐXX đánh giá: Anh Đ vào
văn bản là thật nhưng chữ ký đó không thể hiện ý chí cùng chị B tham gia giao dịch,
anh chỉ với cách làm chứng. Do vậy, không căn cứ buộc anh Đ phải trách
nhiệm liên đới cùng chB trả anh H số tin tranh chấp nêu trên mà cần buộc chị B
phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tin nhận cọc cho anh H theo hợp đồng là
1.765.000.000 đồng.
Đối với số tin phạt cọc: Các bên đương sự cùng nhau thống nhất chấm dứt
hợp đồng đặt cọc không yêu cầu giải quyết vviệc phạt cọc nên HĐXX không
xem xét, giải quyết.
[3] Đối với hợp đồng vay tài sản: Ngày 26/8/2021 chĐỗ Thị B anh Nguyễn
Văn H thiết lập hợp đồng vay tài sản. Nội dung hợp đồng hai bên ký kết có chỗ thể
hiện là hợp đồng vay, có chỗ lại thể hiện hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, các đương
sự đu đồng quan điểmxác định đây là hợp đồng vay nên HĐXX chấp nhận và
xác định quan hệ tranh chấp tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Đối với số tin vay,
anh H và chị B đu thống nhất. Anh H cho vay với số tin 3.275.000.000 đồng, chị
B đã nhận đủ bằng hình thức chuyển khoản. Quá trình thực hiện hợp đồng chị B đã
trả cho anh 340.000.000 đồng. Anh khởi kiện đòi chị thanh toán số tin còn lại
2.935.000.000 đồng không yêu cầu trả lãi. Chị B nhất trí trả anh H số tin trên.
Xét việc thoả thuận của anh chị tự nguyện, không vi phạm điu cấm đạo đức
xã hội nên được HĐXX ghi nhận.
[4] V phương thức thanh toán: Đối với số tin còn nợ của 2 hợp đồng đặt
cọc hợp đồng vay tài sản, tổng 4.700.000.000 đồng; nguyên đơn anh Nguyễn
Văn H yêu cầu chị Đỗ Thị B thanh toán 01 lần, chị B đ nghị được trả làm 02 đợt.
7
Xét, các đương sự không thống nhất được với nhau v phương thức thanh toán nên
HĐXX sẽ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết. Theo quy định tại Điu
466 Bộ luật dân sự “Bên vay tài sản là tin thì phải trả đủ tin khi đến hạn”. Số tin
4.700.000.000 đồng chị B nợ anh H đã đến hạn thanh toán nên chị B phải có nghĩa
vụ thanh toán khi anh H yêu cầu. Chị B đưa ra lý do là hoàn cảnh kinh tế khó khăn,
không đủ khả năng thanh toán không căn cứ chấp nhận. Số tin chị B vay
nhận cọc từ anh H, chị đã nhận đủ nên chị phải nghĩa vụ thanh toán cho anh H.
Do vậy, HĐXX không có căn cứ chấp nhận phương án chị B đưa ra cần buộc chị
B phải trách nhiệm thanh toán 01 lần đối với số tin nợ trên cho anh H tmới
đảm bảo đúng quy định của pháp luật đảm bảo quyn lợi chung của các đương
sự.
Đối với mức lãi suất áp dụng sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật
bị đơn không thanh toán được tin gốc: Tại hợp đồng vay các bên thỏa thuận.
Lãi suất cho vay theo lãi suất Ngân hàng S. Tuy nhiên, quá trình giải quyết ván và
tại phiên tòa, các đương sự thống nhất không áp dụng lãi suất thỏa thuận mà đ nghị
giải quyết theo quy đinh của pháp luật. Do vậy, đối với mức lãi suất này, HĐXX sẽ
áp dụng lãi suất quy định theo Điu 468 Bộ luậtn sự là đảm bảo quyn lợi chung
của các đương sự.
[5] Sau khi xét x thẩm, bị đơn chị Đỗ Thị B đơn kháng cáo đối với
Bản án dân sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn chị Đỗ Thị B không cung cấp thêm được tài
liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ cho HĐXX xem xét kháng cáo của mình.
Xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Đỗ Thị B;
cần giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điu
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] V án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điu 147, khoản 1 Điu 148; căn cứ vào
khoản 4 Điu 26, khoản 1 Điu 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
V án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn chị Đỗ Thị B phải chịu án phí dân sự
thẩm số tin 112.700.000 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Hoàn trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Văn H tin tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp số tin 57.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà
án số 0003164 ngày 07 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải
Phòng.
8
V án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Đỗ Thị B
không được chấp nhận nên chị B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tin 300.000
đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm b khoản 1 Điu
38, điểm a khoản 1 Điu 39, khoản 1 Điu 147, khoản 1 Điu 148, Điu 273; khoản
1 Điu 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điu 116, 117, 118, 119, 275, 280, 328, 357, 463, 465, 466,
468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 4 Điu 26; khoản 1 Điu 29 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo bị đơn chị Đỗ Thị B; giữ nguyên Bản án dân
sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 12 - Hải Phòng.
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn
H.
Buộc bị đơn chị Đỗ Thị B phải trách nhiệm thanh toán cho anh Nguyễn
Văn H số tin đặt cọc là 1.765.000.000 đồng và số tin vay là 2.935.000.000 đồng.
Tổng số tin là 4.700.000.000đ (Bốn tỷ bẩy trăm triệu) đồng.
Khi bản ánhiệu lực pháp luật, người được thi nh án đơn yêu cầu thi
hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải chịu trả lãi đối với số tin
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tin được
xác định theo quy định tại Điu 357, Điu 468 của Bộ luật dân sự.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H v việc:
Buộc bị đơn anh Lưu Duy Đ trách nhiệm liên đới cùng chị Đỗ Thị B thanh toán
cho anh Nguyễn Văn H số tin đặt cọc là 1.765.000.000 đồng.
2. V án phí:
2.1. Ván phí dân sự thẩm: Buộc bị đơn chị Đỗ Thị B phải chịu án phí dân
sự thẩm số tin 112.700.000 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm nghìn)
đồng.
9
Hoàn trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Văn H tin tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp số tin là 57.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà
án số 0003164 ngày 07 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải
Phòng.
2.2. Ván phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn chị Đỗ Thị B phải nộp 300.000 đồng
tin án phí dân sự phúc thẩm. Chị B đã nộp tin tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
số tin 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án s0001899
ngày 10 tháng 02 năm 2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị B đã
nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyn thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điu 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 12 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 12 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất