Bản án số 490/2026/DS-PT ngày 02/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 490/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 490/2026/DS-PT ngày 02/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 490/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 01 phần kháng cáo của ông Trần Hữu B. Sửa 01 phần bản án dân sự sơ thẩm số 105/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 490/2026/DS-PT Bản án số 490/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 490/2026/DS-PT Bản án số 490/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 490/2026/DS-PT
Ngày: 02- 6- 2026
“Yêu cầu tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử
dụng đất hiệu, yêu cầu thu
hồi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.
Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu.
Ông Lê Khắc Thịnh.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Hồng - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 và ngày 02 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số 1017/2025/TLPT-
DS ngày 17 tháng 12 năm 2025, về việc tranh chấp: “Yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu, yêu cầu thu hồi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 105/2025DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
ca Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 344/2025/QĐXX-PT,
ngày 05 tháng 02 năm 2026, giữa:
- Nguyên đơn:
1. Ông Trần Văn V, sinh năm 1955.
Địa chỉ: B P, tổ C, khóm D, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bà Hoàng Mỹ L, sinh năm 1955.
Địa chỉ: Số A, đường T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông V, bà L:
- Anh Huỳnh Duy K, sinh năm 1992;
2
Địa chỉ: ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Trần Hoàng Q, sinh năm 1993.
Địa chỉ: số A, QL F, ấp L, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn:
1. Ông Trần Hữu B, sinh năm 1980.
Địa chỉ: số I, tổ A, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Chị Võ Thị Kim T, sinh năm 1973.
Địa chỉ: số I, tổ A, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Anh Trần Vĩnh C1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số A, tổ 19, khóm ĐB, phường C, Đồng Tháp
4. Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Tổ B, khóm M, phường M, tỉnh Đồng Tháp
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Phòng C2 Đồng Tháp.
Địa chỉ: số A, đường H, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Văn phòng C3.
Địa chỉ: số A N, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Bà Trần Thị Việt C, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số I, Tổ A, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Bà Trần Ngọc H, sinh năm 1959.
5. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960.
Cùng địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường S, tỉnh Đồng Tháp.
6. Ông Trần Văn P, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Số I, khóm Đ, phường S, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Ông Trần Hữu B bị đơn trong vụ án.
(Tại phiên tòa có mặt chị Q, ông B. Còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG V ÁN
* Theo án thẩm, nguyên đơn Trần Văn V, Hoàng M người đại diện
theo ủy quyền Trần Hoàng Q trình bày:
Nguyên trước đây, do cần tiền nên vào đầu tháng 7, 8/2019 vợ chồng ông
V, bà L có vay ca con nuôi tên Trần Vĩnh C1, số tiền là 200 triệu đồng, lãi suất
4%/tháng (tương đương 8 triệu đồng/tháng). Nhưng ông V, L chỉ nhận được
số tiền 192.000.000 đồng, do phải đóng lãi trước 8.000.000 đồng. Thời hạn trả
tiền vay thỏa thuận khi nào ông V, L nhận được tiền vay tngân hàng thì
ông V, L trả lại tiền vay cho anh C1. Việc vay tiền giữa ông V, L và anh
3
C1 làm biên nhận nhưng biên nhận vay tiền đã thất lạc, ông V, L không
cung cấp được.
Để đảm bảo khoản vay thì anh C1 buộc ông V, bà L phải thế chấp tài sản
bằng hình thức là ông V, bà L chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198 và 214,
cùng tờ bản đồ 14 cho anh Trần Vĩnh C1 đứng tên. Do đó, ngày 27/5/2019 ông
V, bà L có chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198 214, cùng tờ bản đồ 14
cho anh Trần Vĩnh C1, với giá trị chuyển nhượng bằng với số tiền vay
200.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198 214,
cùng tờ bản đồ 14 từ ông V, bà L sang cho anh Trần Vĩnh C1 chỉ là giả tạo, hợp
đồng vay tiền 200.000.000 đồng mới thật. Mặc khác, ông V, L anh C1
thỏa thuận sau khi ông V, L chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198
214, tờ bản đồ 14 cho anh Trần Vĩnh C1 đứng tên, anh C1 sẽ lấy 04 thửa đất
này vay ngân hàng, thực chất việc chuyển nhượng này để anh C1 đứng tên giấy
vay tiền dùm ông V, L, do ông V, bà L đã lớn tuổi ngân hàng không cho vay
số tiền lớn. Sau khi anh C1 vay tiền ngân hàng thì ông V, L lấy tiền vay này
trả tiền cho anh C1, nhưng sau khi anh C1 đứng tên 04 thửa đất trên thì anh C1
không vay tiền ngân hàng được nên anh C1 mới giới thiệu ông Trần Hữu B cho
ông V, L vay tiền, ông B đồng ý cho ông V, bà L vay số tiền 900.000.000
đồng nhưng với điều kiện ông V, L đồng ý cho anh C1 làm hợp đồng
chuyển nhượng từ anh C1 sang ông B 03 thửa 170, 198 214, cùng tờ bản đồ
số 14 để đảm bảo khoản vay 900.000.000 đồng.
Đến ngày 27/8/2019, vchồng ông V, L và anh C1 thỏa thuận stiền
ông V, bà L vay ca anh C1 200.000.000 đồng, nợ 02 tháng lãi, cộng chi phí 02
tháng đầu, cộng chi phí làm th tục sang tên 04 thửa đất 32 triệu đồng, tổng
cộng anh C1 yêu cầu ông V, L phải trả tiền vốn, lãi chi phí sang tên 04
thửa đất 300.000.000 đồng. Anh C1 sẽ chuyển tên từ Trần Vĩnh C1 qua tên
Trần Hữu B để ông V, bà L được vay số tiền 900.000.000 đồng từ ông B.
Đến ngày 12/9/2019, sau khi được ông V, L đồng ý thì anh C1
chuyển nhượng 03 thửa đất 170, 198 và 214, cùng tờ bản đồ số 14 cho ông B, lý
do ông B chỉ yêu cầu chuyển nhượng 03 thửa đất 170, 198 214, cùng tờ bản
đồ số 14 cho ông B, không yêu cầu chuyển nhượng thửa 185, tờ bản đồ số
14 ông B cho rằng giá trị 03 thửa đất 170, 198 214, cùng tờ bản đồ số 14
cũng đảm bảo khoản vay 900.000.000 đồng, mặt khác do thửa 185 khu m
nhà ông V, ông B thấy mồ nên không yêu cầu ông V, L, anh C1
chuyển nhượng cho ông B nên đến ngày 19/9/2019 anh C1 chuyển nhượng thửa
đất 185 lại ông V đứng tên. Sau khi hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất
trên cho anh C1 ông B tông V, bà L người sử dụng các thửa đất này,
việc hợp đồng chuyển nhượng gitạo để đảm bảo khoản vay, chứ không
có bàn giao đất trên thực địa.
Sau đó, ông B cho rằng 03 thửa đất 170, 198 và 214, cùng tờ bản đồ số 14
không đ để đảm bảo khoản vay nên ông B yêu cầu ông V, bà L chuyển nhượng
luôn thửa 185, tờ bản đồ số 14 cho ông B, ông B nói chuyển nhượng để làm tin
4
không phải chuyển nhượng thực sự nên ngày 28/10/2019, ông V, L chuyển
nhượng thửa 185 cho ông B.
Về số tiền 300.000.000 đồng trả cho anh Trần Vĩnh C1 thì vào ngày
06/9/2019, ông B đưa anh C1 100.000.000 đồng gọi tiền đặt cọc, có làm biên
nhận không thì ông V, L không biết. Đến ngày 12/9/2019, anh C1 ra Văn
phòng C3 tại TP . chuyển nhượng 03 thửa đất 170, 198 214, cùng tờ bản đồ
số 14 cho ông B ông B đưa anh C1 số tiền 200.000.000 đồng ông V,
L vay ca anh C1, đ số tiền 300.000.000 đồng ông V, L còn
thiếu anh C1. Đáng lẻ, số tiền ông V, L phải trả cho anh C1 tiền vốn tiền
lãi 232.000.000 đồng nhưng anh C1 bắt ông V, L phải đưa thêm
68.000.000 đồng chi phí làm th tục sang các thửa đất mới đồng ý sang
tên cho ông B, ông V, L brơi vào thế , đành phải đưa thêm 68.000.000
đồng cho anh C1. Tổng cộng số tiền ông V, bà L trả cho anh C1 là 300.000.000
đồng. Số tiền 300.000.000 đồng ông B đưa cho anh C1 được ông B trừ vào tiền
vay các lần nhận tiền vay sau. Sau đó, đến ngày 13/9/2019, anh C1ông B
làm hợp đồng đặt cọc thể hiện ông B đặt cọc cho anh C1 số tiền 100.000.000
đồng, trên số tiền chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198 và 214, cùng tờ bản
đồ 14 300.000.000 đồng, ông V tên làm chứng cùng với ông Nguyễn
Văn T1, ông T1 chỉ tên làm chứng không liên quan trong vụ án, nguyên đơn
không yêu cầu gì đối với ông T1.
Về số tiền ông V, L vay 900.000.000 đồng ca ông B thì ông V, L
nhận tiền vay tổng cộng 03 lần, cụ thể:
- Lần 1 vào ngày 19/9/2019 ông V, bà L vay ca ông B 650.000.000 đồng
nhưng thực tế ông V, L ch nhận được 231.000.000 đồng, ông B cấn trừ
300.000.000 đồng ông B đưa cho anh C1 (ông V, L vay 200.000.000
đồng ca anh C1 trả tiền vốn, tiền lãi là 300.000.000 đồng). Ngoài ra, ông B còn
trừ các khoản tiền sau: Ông B trừ số tiền 50.000.000 đồng trả tiền nợ ông V,
L n nợ ông B trước đây. Ông B trừ 5.000.000 đồng tiền công trả cho C.
Ông B trừ 20.000.000 tiền lãi ca khoản vay 650.000.000 đồng. Ông B trừ
25.000.000 đồng tiền chi phí làm th tục chuyển nhượng. Ông B trừ 18.450.000
đồng tiền lãi tngày 14 đến ngày 18. Tổng cộng 649.450.000 đồng. Lãi suất
vay thỏa thuận 3%/tháng, thời hạn vay không quy định khi nào tiền thì trả
lại. Việc vay tiền làm biên nhận nhưng biên nhận ông B giữ, ông V, L
không giữ. Về tiền lãi, từ ngày 03/8/2019 đến ngày 02/9/2019 âm lịch đã đóng
lãi được 20.000.000 đồng.
- Lần 2, ngày 04/10/2019 ông V, L vay nhận ca ông B số tiền
150.000.000 đồng. Lãi suất vay thỏa thuận 3%/tháng, thời hạn vay không có quy
định khi nào tiền thì trả lại. Việc vay tiền làm biên nhận nhưng biên nhận
ông B giữ, ông V, L không giữ biên nhận. Về tiền lãi, từ ngày 03/9/2019 đến
tháng 06/10/2019 âm lịch đóng lãi được 24.000.000 đồng ca 02 khoản vay
650.000.000 đồng và 150.000.000 đồng, số tiền lãi cụ thể ca khoản vay
650.000.000 đồng 150.000.000 đồng như thế nào thì ông V, L không xác
định được.
5
- Lần 3 ngày 07/11/2019 ông V, bà L vay và nhận ca ông B số tiền
100.000.000 đồng. Lãi suất vay thỏa thuận 3%/tháng, thời hạn vay không có quy
định khi nào tiền thì trả lại. Việc vay tiền làm biên nhận nhưng biên nhận
ông B giữ, ông V, L không giữ biên nhận. Về tiền lãi từ ngày 04/10/2019 âm
lịch đến ngày 14/02/2020 âm lịch, mỗi tháng đóng 27.000.000.000 đồng, 04
tháng tổng cộng 108.000.000 đồng, tiền lãi 108.000.000 đồng là tiền lãi đóng
chung ca 03 khoản vay số tiền 650.000.000 đồng, 150.000.000 đồng
100.000.000 đồng.
Tổng cộng tiền lãi ông V, L đã đóng cho ông B 152.000.000 đồng.
Về đóng tiền lãi thì bà L là người đi đóng tiền lãi, còn người nhận tiền lãi là ông
B, bà T (vợ ông B), bà C và bà N (bà C, bà N thì ông V, bà L không biết họ tên,
địa chỉ), nguyên đơn không yêu cầu gì đối với bà T, bà C, bà N, do những người
này chỉ nhận tiền lãi vay ca bà L. Việc đóng lãi thì không có làm biên nhận,
L tự ghi chú để nhớ đoạn ghi âm giữa L và ông B thể hiện việc trả,
nhận lãi. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn không yêu cầu giám định đoạn ghi
âm này.
Sau khi hợp đồng chuyển nhượng và ông V, bà L đóng lãi cho ông
B, sau đó giữa ông V, bà L và ông B phát sinh tranh chấp, ông V, L làm đơn
khởi kiện ông B ra Tòa án yêu cầu giải quyết thì ngày 12/11/2020, ông B bẻ
khóa cửa rào vào căn nhà ca ông V, L trên thửa đất 170, tbản đồ 14 tọa
lạc tại xã T, Tp ., Đồng Tháp chở đi 01 t thờ 01 t áo, tổng giá trị
40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Sau đó, ngày 21/02/2021, ông Trần Hữu B
tiếp tục đến căn nhà ca ông V, L bẻ khóa nhà chở đi 01 bộ ván lớn trị giá
5.000.000đ (Năm triệu đồng); 01 bộ ván nhỏ 2.000.000đ (Hai triệu đồng); 01 bộ
li văn nhỏ 3.000.000đ (Ba triệu đồng); 01 t thờ 16.000.000đ (Mười sáu triệu
đồng); 01 võng sắt 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng); 01 sào phơi đồ 500.00
(Năm trăm ngàn đồng); 01 giường bằng g 2.000.000đ (Hai triệu đồng); 01
giường bằng sắt 1.000.000đ (Một triệu đồng). Ông V, L làm đơn gửi
quan Công an thành phố S yêu cầu giải quyết. Đối với các tài sản ca ông V, bà
L bị ông B chở đi giá trị 70.000.000đ (Bảy ơi triệu đồng). Tại phiên
tòa, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu ông B trả giá trị tài sản ông B chở đi
70.000.000 đồng.
Sau đó, vụ án đang được Tòa án giải quyết thì ông Trần Hữu B đã hành
vi đập căn nhà ca vợ chồng ông V, L tại thửa đất số 170, hiện căn nhà đã bị
đập nát, san bằng (căn nhà được ghi chú trong biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ biên bản định giá tài sản ngày 13/4/2021), căn nhà xây dựng năm 1996,
diện tích 148,7m
2
, giá trị căn n còn lại 30%, giá 3.472.000 đồng/m
2
,
thành tiền 3.472.000 đồng/m
2
x diện tích 148,7m
2
x 30% = 154.886.000 đồng.
Trong vụ án dân sự này nguyên đơn không có yêu cầu giải quyết hình sự về việc
đập bỏ căn nhà, chỉ yêu cầu bồi thường.
Đồng thời, ông Trần Hữu B đã tý xây dựng vách tường trên đất 170, sau
thời điểm Tòa án thẩm định tài sản tranh chấp, đối với việc tý xây dựng ca
6
ông B, ông V, L yêu cầu ông B tháo dỡ, khôi phục lại hiện trạng đất, ông V,
bà L không đồng ý hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời.
Qua đo đạc thực tế thì diện tích 04 thửa đất sự chênh lệch so với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thì ông B thống nhất với diện tích thực tế.
Nay ông V, bà L yêu cầu giải quyết nội dung sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố hiệu chuyển nhượng QSD đất ca vợ
chồng ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L Trần Vĩnh C1 lập tại Phòng C2 vào
ngày 27/5/2019, đây hợp đồng giả cách ca hợp đồng vay mượn tiền
thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất.
- Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
12/9/2019 giữa anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A ông Trần Hữu B
lập tại Văn phòng C3, vì đây là hợp đồng giả cách ca hợp đồng vay mượn tiền
có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất.
Yêu cầu thu hồi 03 giấy chứng nhận quyền sdụng đất đã cấp, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất tại các thửa đất số 170, 198, 214
được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ đã cấp cho ông Trần Hữu B cùng
ngày 12/11/2019. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh C1,
chị Lan A và ông B bị tuyên vô hiệu.
- Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 28/10/2019
giữa ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L ông Trần Hữu B lập tại Văn phòng
C3, đây hợp đồng giả cách ca hợp đồng vay ợn tiền thế chấp tài
sản là quyền sử dụng đất.
Yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 185 được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp cho ông Trần Hữu B ngày 25/11/2019. Do hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V, bà L và ông B bị tuyên vô hiệu.
- Công nhận cho ông V, L tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất 170, qua
đo đạc thực tế các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-1, diện tích
1.226,3m
2
, thửa đất 185 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 9-15-16-17-18-10-9,
diện tích 630,5m
2
, thửa đất 198 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 17-16-19-24-
17, diện tích 1.555,5m
2
thửa đất số 214 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 19-
20-21-22-23-24-19, diện tích 747,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại
T, thành phố S, Đồng Tháp (nay là Phường S, tỉnh Đồng Tháp).
- Ông Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L tự nguyện trả lại số tiền vay,
900.000.000đ tiền lãi 1,66%/tháng tính từ ngày 01/4/2020 cho đến khi Tòa
án xét xử xong tạm tính đến ngày 26/9/2025 05 năm 05 tháng 25 ngày là
983.550.000 đồng, trừ tiền lãi đã đóng 152.830.000đ, số tiền lãi còn n
830.720.000đ. Tổng số tiền ông V, L tự nguyện trả cho ông B tổng cộng
1.730.720.000đ, trong đó gốc là 900.000.000đ, lãi là 830.720.000đ.
- Đối với các tài sản ca vợ chồng ông V, bà L bị ông B bẻ ổ khóa cửa rào
xông vào căn nhà chở các vật dụng, tài sản trong nhà tại thửa 170, TBĐ 14, DT
7
1476,4m
2
, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, trong đó đất ở 745m
2
đất ở,
đất trồng cây lâu năm 731,4m
2
; tọa lạc tại T, Tp ., Đồng Tháp thì ông V,
L rút lại yêu cầu ông Trần Hữu B phải trả lại cho ông V, L bằng giá trị, tổng
cộng là 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng), không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Buộc ông Trần Hữu B phải trả lại cho ông V, bà L giá trị căn nhà do ông
B cho người đập bỏ là 154.886.000đ.
- Yêu cầu ông Trần Hữu B phải có nghĩa vụ tháo dỡ vách tường xây dựng
trên thửa đất số 170, tờ bản đồ số 14, khôi phục lại hiện trạng đất, ông V, L
không hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời.
Trong trường hợp các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
27/5/2019 đối với 03 thửa đất 170, 198 và 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa ông Trần
Văn V, bà Hoàng Mỹ Lanh Trần Vĩnh C1 lập tại Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/9/2019 đối với 03 thửa đất
170, 198 214, cùng tbản đồ 14 giữa anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị
Lan A ông Trần Hữu B lập tại Văn phòng C3 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 28/10/2019 đối với thửa đất 185, tờ bản đồ 14 giữa ông
Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L ông Trần Hữu B lập tại Văn phòng C3
hiệu tông V, L không tranh chấp, không yêu cầu về các khoản
thuế đã nộp trước đây.
Đối với hợp đồng vay tiền giữa ông V, L anh C1 đã thanh toán
xong, ông V, bà L không tranh chấp, yêu cầu gì.
Ngoài ra, ông V, bà L không trình bày, yêu cầu gì khác.
* Bị đơn ông Trần Hữu B trình bày:
Ông B không thống nhất với lời trình bày ca đại diện y quyền ca
nguyên đơn. Giữa ông V, L không hợp đồng vay tiền nhưng thế chấp
quyền sử dụng đất như đại diện y quyền nguyên đơn trình bày. Giữa ông B
ông V, bà L không có mối quan hệ bà con quen biết, ông B chỉ biết ông V, bà L
thông qua anh Trần Vĩnh C1, ông B được biết ông V, L tìm người mua
(chuyển nhượng) 04 thửa đất 170, 185, 198 214, cùng tờ bản đồ 14, ông B
đồng ý mua 04 thửa đất trên nhưng với điều kiện gặp ch đất ông V, L.
Nhưng thời điểm ông V, L thỏa thuận chuyển nhượng với ông B thì 04 thửa
đất này anh Trần Vĩnh C1 đứng tên nên ông B yêu cầu anh C1 chuyển nhượng
04 thửa đất này lại cho ông V, L, sau khi ông V, L đã đứng tên rồi mới
làm th tục chuyển nhượng lại 04 thửa đất cho ông B. Nhưng ông V, L trình
bày nếu làm th tục chuyển 04 thửa đất từ anh C1 sang ông V, L thì tốn chi
phí, th tục sang tên nên ông V, bà L đề xuất chuyển trực tiếp từ anh C1 sang
cho ông B, với sự đồng ý ca ông V, L. Đến ngày 12/9/2019, ông B nhận
chuyển nhượng ca anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A 03 thửa đất 170,
198 214, ng tờ bản đồ 14. do chưa chuyển nhượng thửa đất số 185
ông B tưởng rằng khu đất này khu mồ mã nên không đồng ý chuyển nhượng.
Hợp đồng chuyển nhượng ngày 12/9/2019, giữa ông Trần Hữu B anh Trần
Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A đối với 03 thửa đất 170, 198 và 214, cùng tờ
8
bản đồ 14, đất tọa lạc tại T, TP ., Đồng Tháp giá trên hợp đồng
200.000.000 đồng nhưng thực tế giá chuyển nhượng 03 thửa đất trên
900.000.000 đồng, biên nhận chuyển nhượng 900.000.000 đồng nhưng
biên nhận đã thất lạc, stiền chuyển nhượng 900.000.000 đồng này ông B giao
cho ông V, L nhận. Sau đó, ông V, bà L tìm ông B để chuyển nhượng thửa
đất còn lại thửa đất số 185, qua kiểm tra thì ông B mới biết thửa đất 185
không phải phải thửa đất mồ mã trên đất nên ông B đồng ý nhận chuyển,
nhưng đến ngày 28/10/2019 ông Trần Hữu B ông V, L làm hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất số 185 tại Văn phòng C3 tại Tp ., giá chuyển nhượng
trong hợp đồng 50.000.000 đồng, nhưng giá thực tế 300.000.000 đồng,
làm biên nhận chuyển nhượng 300.000.000 đồng nhưng biên nhận đã thất lạc,
ông B không tìm thấy, giao tiền tại Văn phòng C3 cho ông V và bà L nhận.
Đối với 04 thửa đất 170, 185, 198 214, cùng tờ bản đồ 14 do ông B
đứng tên là tài sản riêng ca ông B, do trước đây giữa ông B và vợ là bà Thị
Kim T lập bản thỏa thuận xác nhận tài sản riêng, trong đó xác định 04 thửa
đất 170, 185, 198 và 214, cùng tờ bản đồ 14 là tài sản riêng ca ông B.
Còn phía nguyên đơn cho rằng ông V, L vay tiền ca ông B, ông B
buộc ông V, bà L chuyển nhượng đất để bảo đảm tiền vay là không đúng, ông B
xác định không có việc vay tiền giữa ông B và ông V, bà L.
Về tài sản ông B chở trong nhà ca ông V, L gồm: 02 t thờ đã mục,
01 t quần áo đã mục, gãy chân, 01 giường hộp bằng gỗ đã bị mục, trong đó
02 t thờ 01 t quần áo, khi ông B tháo dỡ nhà thì người qua đường xin
tài sản, ông B thấy tài sản này không còn giá trị sdụng, ông B đã cho người
đó, hiện tại ông B không nhớ cho người nào, ông B cũng không biết họ tên, địa
chỉ ca người ông B cho tài sản là ai, còn 01 giường bằng gđã bị mục ông B
bỏ ngoài đường khi dọn nhà, ai lấy ông B không biết, ông B xác định đây là tài
sản ca ông B n phía nguyên đơn yêu cầu trả giá trị ông B không đồng ý.
Đối với căn nhà trên đất thì ông B đập, tháo dỡ, do ông B xác định
đây là tài sản ca ông B nên ông tháo dỡ.
Ngoài ra, ông B xây dựng vách tường trên thửa đất 185, ông B cho
rằng đây đất ca ông B ông B xác định bơm 07 ghe cát, mỗi ghe 50
khối cát, giá tiền bơm cát 102.000.000 đồng. Ông B trình bày bơm cát để
xác định đất này ca ông B, ông B sdụng đất. Ông B không yêu cầu định giá
cát sang lấp, cũng không yêu cầu ai bồi hoàn giá trị cát sang lấp.
Qua đo đạc thực tế thì diện tích 04 thửa đất sự chênh lệch so với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thì ông B thống nhất với diện tích thực tế.
Đối với ý kiến ca người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
Văn H1, Trần Ngọc H tông B không đồng ý. Ông B xác định không
hợp đồng mua bán thỏa thuận nhận chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198
214, cùng tờ bản đồ 14 ca ông H1, H với giá 2.900.000.000 đồng,
không việc ông H1, H đã đặt cọc cho ông B số tiền 200.000.000 đồng.
Chữ ký, chữ viết họ tên Trần Hữu B trong hợp đồng mua bán đất ngày
9
09/6/2022 chữ photo, không phải chữ , chữ viết ca ông B, đây chữ
ký, chữ viết cắt ghép. Còn phía ông H1, H cung cấp Tòa án đoạn ghi âm
ông H1, H cho rằng đây giọng nói ca ông B thì ông B xác định đây
không phải là giọng nói ca ông B. Ông B không đồng ý cung cấp giọng nói để
Tòa án giám định, ông B yêu cầu tranh chấp giữa ông B với ông H1, H tách
ra giải quyết bằng vụ án khác.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn thì ông B không đồng ý
các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/5/2019 đối với 03
thửa đất 170, 198 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa ông Trần Văn V, Hoàng
Mỹ L và anh Trần Vĩnh C1 lập tại Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/9/2019 đối với 03 thửa đất 170, 198 và 214,
cùng tờ bản đồ 14 giữa anh Trần Vĩnh C1, chNguyễn Thị Lan A ông Trần
Hữu B lập tại Văn phòng C3 hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
ngày 28/10/2019 đối với thửa đất 185, tờ bản đồ 14 giữa ông Trần Văn V,
Hoàng Mỹ L ông Trần Hữu B lập tại Văn phòng C3 hợp pháp, đúng quy
định pháp luật.
Ông B yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất 170, qua đo đạc
thực tế các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-1, diện tích 1.226,3m
2
, thửa
đất 185 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 9-15-16-17-18-10-9, diện tích 630,5m
2
,
thửa đất 198 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 17-16-19-24-17, diện tích
1.555,5m
2
thửa đất số 214 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 19-20-21-22-23-
24-19, diện tích 747,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại xã T, thành phố S,
Đồng Tháp, hiện ông Trần Hữu B đứng tên, do đây tài sản ông B nhận
chuyển nhượng hợp pháp từ anh C1, chị Lan A và ông V, bà L.
Đối với 03 thửa đất 170, 198 và 214, cùng tờ bản đồ 14, theo hợp đồng thì
ông B nhận chuyển nhượng từ anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A,
nhưng thực tế chuyển nhượng từ ông V, L hợp đồng được công
chứng hợp pháp tại Văn phòng C3, ông B đã thanh toán xong tiền chuyển
nhượng cho ông V, L thửa đất 185, tờ bản đồ 14 ông B nhận chuyển
nhượng từ ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L, hợp đồng được công chứng
hợp pháp tại Văn phòng C3, ông B đã thanh toán xong tiền cho ông V, L
hiện tại 04 thửa đất này ông B đã sdụng, đang đứng tên quyền sử dụng đất.
Trong trường hợp các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
27/5/2019 đối với 03 thửa đất 170, 198 và 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa ông Trần
Văn V, Hoàng Mỹ Lanh Trần Vĩnh C1 lập tại Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/9/2019 đối với 03 thửa đất
170, 198 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị
Lan A ông Trần Hữu B lập tại Văn phòng C3 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 28/10/2019 đối với thửa đất 185, tờ bản đồ 14 giữa ông
Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L ông Trần Hữu B lập tại Văn phòng C3
hiệu thì ông B yêu cầu cho ông V, bà L trả lại ông B gtrị 04 thửa đất 170,
185, 198 và 214 theo giá thị trường theo giá ca Hội đồng định giá đã định. Tại
phiên tòa, ông B đồng ý chuyển nhượng lại cho ông V, L với số tiền
2.500.000.000 đồng (Hai tỷ, năm trăm triệu đồng).
10
Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
12/9/2019 đối với 03 thửa đất 170, 198 và 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa anh Trần
Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A ông Trần Hữu B hiệu thì ông B cũng
không yêu cầu gì đối với anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A. Ông B
không tranh chấp, không yêu cầu về các khoản thuế liên quan đến hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nộp trước đây.
Đối với các tài sản ông B chở 02 t thờ đã mục, 01 t quần áo đã mục,
gãy chân, 01 giường hộp bằng gỗ đã bị mục, trong đó có 02 t thờ và 01 t quần
áo đã cho người khác, còn 01 giường bằng gỗ đã bị mục đã bỏ, không biết ai lấy
căn nhà trên đất tại thửa 170 bị ông B đập, tháo dỡ vách tường trên thửa
đất 185 do ông B xây dựng trong trường hợp hợp đồng hiệu thì ông B yêu
cầu giải quyết theo quy định.
Đối với bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ca 04 thửa đất
170, 185, 198 214, ng tờ bản đồ 14 hiện ông B đang giữ, ông B không
thế chấp để vay tài sản tại tổ chức, cá nhân nào.
Ngoài ra, ông B không trình bày, yêu cầu gì khác.
* Bị đơn anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A vắng mặt nhưng có
văn bản xin vắng mặt có lời khai, ý kiến trình bày:
Trước đây do mối quan hệ quen biết nên anh C1 hỏi giùm ông V, L
vay số tiền 300.000.000 đồng.
Ngày 27/5/2019, ông V, L làm thtục chuyển nhượng các thửa số
170, 185, 198 214, cùng tờ bản đsố 14, đất tọa lạc tại T, thành phố S,
Đồng Tháp cho anh C1, chị Lan A. Mục đích việc chuyển nhượng trên để
đảm bảo khoản vay 300.000.000 đồng. Sau đó ông V, L tr số tiền
300.000.000 đồng cho anh C1, số tiền 300.000.000 đồng trả cho anh C1 tiền
ông B đưa cho ông V, L, ông V, L yêu cầu anh C1 chị Lan A
chuyển nhượng 03 thửa đất s170, 198 và 214, cùng tờ bản đsố 14 lại cho
ông Trần Hữu B, còn thửa đất 185 ông V cho rằng đây đất hương quả nên
ông V yêu cầu anh C1, chị Lan A chuyển nhượng lại cho ông V. Ngày
19/9/2019, anh C1, chị Lan A lập th tục chuyển nhượng các thửa số 170,
198 214, cùng tờ bản đồ số 14 cho ông Trần Hữu B, giá thỏa thuận theo hợp
đồng là 200.000.000 đồng nhưng thực tế là việc chuyển nhượng lại là do ông V,
L đã trả xong tiền vay chuyển nhượng thửa đất 185, tờ bản đồ 14 cho ông
V. Việc chuyển nhượng này do ông V, L yêu cầu anh C1, chị Lan A
chuyển nhượng lại cho ông B. Việc ông V, L và ông B thực hiện hợp
đồng vay, mượn không thì anh C1, chị Lan A không rõ, chỉ biết ông B đứng
ra trả khoản tiền vay 300.000.000 đồng cho ông V, L. Trên thửa đất căn
nhà nhưng chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không chuyển nhượng
nhà, thực chất việc chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198 214 là để đảm
bảo khoản vay, thực tế anh C1 không sử dụng đất, quyền sử dụng đất và nhà
trên đất ông V, bà L sử dụng.
11
Đối với yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn thì anh C1, chị Lan A ý
kiến như sau: Anh C1, chị Lan A đã thực hiện xong hợp đồng chuyển nhượng
lại 04 thửa đất số 170, 185, 198 214, cùng tờ bản đồ số 14 đất tọa lạc tại
T, thành phố S, Đồng Tháp cho ông B và ông V. Ông V, bà L không còn nợ anh
C1 khoản nợ nào nên anh C1, chị Lan A không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ
án.
Ngoài ra, anh C1, chị Lan A không trình bày, yêu cầu gì khác
* Bị đơn chị Thị Kim T từ khi Tòa án thụ vụ án, Tòa án đã ra tống
đạt hợp lệ (niêm yết công khai) thông báo thụ vụ án, giấy triệu tập, thông
báo cung cấp ý kiến tài liệu chứng cứ các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng
bà T không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 vắng mặt đơn
xin vắng mặt có văn bản ý kiến trình bày:
Ngày 12/9/2019, Văn phòng công chứng Bách Việt tỉnh C3 có nhận được
yêu cầu công chứng ca ông Trần Vĩnh C1 chứng nhận hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất được giao kết giữa bên chuyển nhượng ông Trần Vĩnh C1,
Nguyễn Thị Lan A với bên nhận chuyển nhượng là ông Trần Hữu B, số công
chứng 3546, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngày 28/10/2019, Văn phòng công chứng Bách Việt tỉnh C3 nhận
được yêu cầu công chứng ca ông Trần Văn V chứng nhận hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất được giao kết giữa bên chuyển nhượng ông Trần Văn V
hoàng M với bên nhận chuyển nhượng ông Trần Hữu B, số công chứng
4163, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD.
Qua kiểm tra hồ lưu trữ tại n phòng công chứng Bách Việt tỉnh C3,
việc chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 3546, quyển
số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/9/2019 hợp đồng chuyển nhượng QSD
đất số công chứng 4163, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/10/2019.
Văn phòng công chứng Bách Việt tỉnh C3 thực hiện đúng trình tự, th tục theo
quy định Luật Công chứng năm 2014. vậy, yêu cầu hy hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất số công chứng 3546, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
12/9/2019 và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 4163, quyển số
05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/10/2019 là không có căn cứ.
Ngoài ra, không trình bày, yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp vắng
mặt có đơn xin vắng mặt có văn bản ý kiến trình bày:
Qua kiểm tra hồ công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
ngày 27/5/2019, số công chứng 3902, quyển số 05TP/CC-SCC/HĐGD hiện
đang lưu giữ tại phòng C2; đối chiếu các quy định ca pháp luật. Việc công
chứng hợp đồng này đúng trình tự, th tục theo quy định ca pháp luật.
Ngoài ra, không trình bày, yêu cầu gì khác.
12
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Việt C vắng mặt
đơn xin vắng mặt có văn bản ý kiến trình bày:
Việc chuyển nhượng đất 04 thửa đất 170, 185, 198 214, tờ bản đồ 14
giữa ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L, anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A
với ông Trần Hữu B thì bà C không biết, vì đây là việc cá nhân ca ông B. Bà C
cũng không biết việc vay mượn tiền giữa ông V, L ông B như ông V,
bà L trình bày và bà C cũng không có nhận tiền lãi ca bà L như bà L trình bày.
Ngoài ra, bà C không trình bày, yêu cầu gì khác.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc H, ông Nguyễn
Văn H1 trình bày:
Vào năm 2022, ông H1, H ông Trần Hữu B làm hợp đồng mua
bán đất ngày 09/6/2022, theo đó ông H1, H đặt cọc cho ông B số tiền
200.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198 214,
cùng tờ bản đồ 14. Hợp đồng mua bán đất lập tại nhà ông H1, bà H, chữ viết
trong hợp đồng mua bán đất ngày 09/6/2022 là chữ viết ca người nữ đi cùng
ông B ghi, họ tên cụ thể ông H1, H không biết, còn chữ tên B chữ viết
họ tên Trần Hữu B là ca ông Trần Hữu B, còn chữ ký tên, chữ viết họ tên Trần
Ngọc H ca bà Trần Ngọc H. Số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng ông H1, bà H
giao cho ông Trần Hữu B nhận. Sau khi lập hợp đồng, ông H1, H được biết
phần đất 04 thửa đất 170, 185, 198 214, cùng tờ bản đồ 14 đang tranh chấp
không thực hiện th tục chuyển nhượng được.
Trên thực tế ông H1, H cũng chưa sử dụng đất, ông H1, H đã nhiều
lần yêu cầu ông B trả lại 200.000.000 đồng nhưng ông B không trả, ông H1,
H làm đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án hy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa Trần Ngọc H và ông Trần Hữu B được lập tại hợp
đồng mua bán đất ngày 09/6/2022 đối với các thửa đất số 214, tờ bản đồ số 14,
diện tích 886 m
2
; Thửa đất 198, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.282 m
2
thửa đất
số 170, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.476,4 m
2
, thửa đất số 185, tờ bản đồ số 14,
diện tích 671 m
2
yêu cầu ông Trần Hữu B trả lại cho Trần Ngọc H, ông
Nguyễn Văn H1 số tiền cọc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) không
yêu cầu tính lãi. Nay đối với yêu cầu độc lập yêu cầu ông B trả lại cho ông H1,
H số tiền 200.000.000 đồng thì ông H1, bà xin rút lại, không yêu cầu Tòa
án giải quyết trong vụ án này. Trong trường hợp tranh chấp sẽ yêu cầu giải
quyết bằng vụ án khác.
Ngoài ra, ông H1, bà H không trình bày, yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn P đơn xin vắng
mặt nhưng có ý kiến trình bày:
Trên một phần các thửa đất số 170, thửa đất số 185, thửa đất 198 thửa
đất số 214, cùng tờ bản đồ số 14, các thửa đất tọa lạc tại ấp Đ, T, Tp S, tỉnh
Đồng Tháp (nay khóm Đ, T, Tp S, tỉnh Đồng Tháp), hiện do ông Trần
Hữu B đứng tên. Ông B cho ông P để nhờ các chậu kiểng trên đất như
Chũi N1, Mai Cẩm T2…., ngoài ra ông P có dựng màng lưới che nắng các chậu
13
kiểng này (cấm y che màng). Việc để nhờ các chậu kiểng này sự đồng ý
ca ông B, ông B không có thu tiền, cũng như ông P ông B không có ký hợp
đồng gì. Việc ông P hỏi ông B để nhờ các chậu kiểng trên đất do ông B đứng
tên đất. Trên đất ngoài các chậu kiểng, lưới che nắng thì không còn i sản nào
ca ông P. Trong vụ án tranh chấp giữa ông V, bà L và ông B ông P không có ý
kiến tranh chấp, yêu cầu gì. Đối với các chậu kiểng để trên đất màng lưới
trên đất thì khi có yêu cầu di dời ca cơ quan có thẩm quyền hay ca ông B, ông
V, bà L thì ông P tự nguyện tháo dỡ, di dời tài sản trả lại đất, không yêu cầu hỗ
trợ chi phí di dời tài sản.
Ngoài ra, ông P không trình bày, yêu cầu gì khác.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 ca Tòa
án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 161, 165, 227, 228,
264, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 124, 131, 132, 166, 357, 468, 500, 501, 502 Bộ luật dân
sự năm 2015;
Căn cứ Điều 100, 166, 167, 179, 203 Luật đất đai năm 2013;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn ông Trần Văn V,
Hoàng Mỹ L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất vô hiệu, yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa
đất số 170, 185, 198 và 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa ông Trần Văn V, bà Hoàng
Mỹ L anh Trần Vĩnh C1 được Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày
27/5/2019 vô hiệu.
- Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
các thửa đất số 170, 198 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa anh Trần Vĩnh C1, chị
Nguyễn Thị Lan A và ông Trần Hữu B được Văn phòng C3 vô hiệu.
- Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 185, cùng tbản đồ 14 giữa ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L
ông Trần Hữu B được Văn phòng C3 ng chứng ngày 28/10/2019 vô hiệu.
Công nhận cho ông V, L được quản lý, sử dụng thửa đất 170, qua đo
đạc thực tế các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-1, diện tích 1.226,3m
2
,
thửa đất 185 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 9-15-16-17-18-10-9, diện tích
630,5m
2
, thửa đất 198 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 17-16-19-24-17, diện
tích 1.555,5m
2
và thửa đất số 214 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 19-20-21-22-
23-24-19, diện tích 747,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại T, thành
phố S, Đồng Tháp (nay là Phường S, tỉnh Đồng Tháp).
Buộc ông Trần Hữu B trả cho ông V, L thửa đất 170, qua đo đạc thực
tế các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-1, diện tích 1.226,3m
2
, thửa đất
185 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 9-15-16-17-18-10-9, diện tích 630,5m
2
,
14
thửa đất 198 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 17-16-19-24-17, diện tích
1.555,5m
2
thửa đất số 214 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 19-20-21-22-23-
24-19, diện tích 747,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại xã T, thành phố S,
Đồng Tháp (nay là Phường S, tỉnh Đồng Tháp).
Các đương sự trách nhiệm liên hệ quan thẩm quyền để được
điều chỉnh, đăng quyền sdụng đất theo quy định pháp luật, chi phí, lệ phí,
c loại thuế ông Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L chịu.
Đề nghị quan thẩm quyền điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với phần đất đã được Tòa án tuyên xử cho các đương sự theo
quy định ca pháp luật.
2. Ghi nhận sự tự nguyện ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L liên đới trả
cho ông Trần Hữu B số tiền 1.730.720.00(Một tỷ, bảy trăm ba mươi triệu,
bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
3. Buộc ông Trần Hữu B phải trả lại cho ông V, L giá trị căn nhà do
ông B đập bỏ 154.886.000đ (Một trăm năm mươi bốn triệu, tám trăm m
mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi
hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi ca số tiền còn phải
thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357,
Điều 468 ca Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn đối với yêu cầu
bị đơn ông B trả giá trị các vật dụng, tài sản trong nhà ông B chở đi
70.000.000 đồng.
5. Đình chỉ yêu cầu độc lập ca ông Nguyễn Văn H1, Trần Ngọc H đối
với yêu cầu ông Trần Hữu B yêu cầu trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng
chuyển nhượng 04 thửa đất số 170, 185, 198 và 214, cùng tờ bản đồ số 14.
6. Ông Trần Hữu B phải nghĩa vụ tháo dỡ vách tường gạch cột tông
ép dầy 10, không tô trát xây dựng trên thửa đất số 170, tờ bản đồ số 14. Ngoài ra
án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo ca các đương sự
theo quy định pháp luật.
* Sau khi xét xử thẩm ông Trần Hữu B không đồng ý với án thẩm
nên kháng cáo và yêu cầu như sau: Ông Trần Hữu B yêu cầu xem xét, giải quyết
sửa toàn bộ bản án thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 ca
Tòa án nhân dân khu vực 8 Đồng Tháp theo hướng không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn ông Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Trần Hữu B
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ông cho rằng bản thân nhận chuyển nhượng 04
thửa đất hợp pháp, ông hoàn toàn không có nhận tiền lãi từ phía nguyên đơn.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
15
Quan điểm ca đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Về việc
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ca Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư và những người tham gia tố tụng từ khi thụ vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân th đúng các quy định ca
Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung kháng cáo, đại diện Viện kiểm sát nêu,
phân tích nhiều sai sót ca cấp sơ thẩm như:
Toà cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp chưa đầy đ,
chưa đúng bản chất tranh chấp trong vụ án, dẫn đến việc áp dụng pháp luật
chưa đúng, đầy đ để giải quyết toàn diện vụ án.
Bản án thẩm tuyên xử ng nhận cho ông V, L được quản lý, sử
dụng 04 thửa đất 170, 185, 198, 214 và buộc anh B trả 4 thửa 170, 185, 198, 214
cho ông V, bà L. Toà cấp sơ thẩm đã giải quyết vượt phạm vi thụ lý yêu cầu ban
đầu ca nguyên đơn không được thụ bổ sung đối với yêu cầu này.
Cho thấy giao dịch chuyển nhượng giữa ông V, bà L và anh C1 giả tạo
để đảm bảo tiền vay nhưng chưa đ chứng cứ xác thực chứng minh mối liên
quan để kéo theo giao dịch chuyển nhượng giữa ông V, L anh B cũng
giả tạo để đảm bảo tiền vay.
Toà cấp thẩm chưa làm tình tiết trên đất tranh chấp có đăng tin bán
nhà và đất nên anh B mới biết và liên hệ để nhận chuyển nhượng nhà và đất.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất anh B san lấp cát, người làm
chứng Huỳnh Tấn P1 trình bày khoảng tháng 3/2020, anh B thuê bơm 7 ghe cát
san lấp đất phía sau trũng thấp, giá 102.000.000đ, thời gian bơm cát 01 tuần.
Còn ông V thì trình bày đóng lãi đến tháng 4/2020, đến tháng 8/2020 ông V
mới làm đơn khởi kiện, tháng 11/2020 ông V đơn tường trình, tố cáo anh B
vào nhà chiếm đoạt tài sản. Tại phiên toà phúc thẩm, anh B trình bày trường
hợp chuyển nhượng bị hiệu thì yêu cầu ông V, L trả tiền chuyển
nhượng 2.200.000.000đ và tiền bơm cát san lấp cho anh B.
Toà cấp thẩm chưa làm quá trình quản lý, sử dụng nhà và đất tranh
chấp để xem xét giải quyết toàn diện vụ án trong trường hợp các chuyển
nhượng bị vô hiệu.
Trường hợp các HĐ chuyển nhượng được công nhận thì chưa làm rõ việc
giao nhận tiền khi chuyển nhượng thửa 185 300.000.000đ, cũng như
thoả thuận các ngôi mộ trên đất.
Trường hợp các chuyển nhượng để che giấu vay thì chưa làm
việc giao nhận tiền, trả tiền lãi, thời gian tính lãi, trong khi anh B không thừa
nhận vay nhận tiền lãi, ông V, L không căn cứ trả lãi cho anh B
3%/tháng là 152.830.000đ và tính lãi còn lại từ ngày 1/4/2020.
Từ những sai sót trên, thấy rằng cấp phúc thẩm không thể khắc phục
được. vậy Viện kiểm sát đề nghị hy án thẩm giao hồ về Tòa án khu
vực để xét xử lại.
16
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, lời trình bày ca các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
ý kiến phát biểu ca đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
[1]. Về tố tụng: Ông Trần Hữu B nộp đơn kháng cáo thực hiện các th
tục kháng cáo theo đúng quy định ca Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét
giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung kháng cáo:
Qua nghiên cứu tài liệu trong hồ vụ án, trình bày tranh tụng tại
phiên tòa, nhận thấy:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
- Ông V, L yêu cầu khởi kiện: huỷ chuyển nhượng ngày
27/5/2019 giữa ông V, L anh C1 4 thửa 170, 185, 198, 214; huỷ HĐ
chuyển nhượng ngày 12/9/2019 giữa anh C1 anh B 3 thửa 170, 198, 214;
huỷ chuyển nhượng đất ngày 19/9/2019 giữa ông V, bà L anh C1, chị
Lan A thửa 185; huỷ HĐ chuyển nhượng ngày 28/10/2019 giữa ông V, L và
anh B thửa 185; thu hồi 4 GCN cấp cho anh B thửa 170, 198, 214, 185; thu hồi
04 GCN cấp cho anh C1 thửa 170, 185, 198, 214.
Ông V, L trả anh B tiền vay 900.000.000đ lãi 1,66%/tháng từ ngày
01/4/2020 đến khi xét xử, điều chỉnh lãi theo quy định khấu trừ tiền lãi đã
đóng 152.830.000đ.
Yêu cầu công nhận 04 thửa đất trên cho ông V, bà L được đăng QSD
đất và tiếp tục quản lý sử dụng.
Yêu cầu anh B trả giá trị tài sản trong nhà bị anh B lấy đi là 70.000.000đ.
Yêu cầu anh B trả giá trị căn nhà bị anh B đập phá tháo dỡ sau khi thẩm
định 347.500.000đ, tại phiên toà thẩm chỉ yêu cầu trả giá trị căn nhà bị
tháo dỡ là 154.019.000đ.
Yêu cầu anh B tháo dỡ vách tường xây trên thửa 170.
- Ông H1, H yêu cầu huỷ mua bán đất ngày 09/6/2022 giữa ông
H1, H anh B 4 thửa 214, 198, 170, 185; yêu cầu anh B trả tiền cọc cho
ông H1, bà H là 200.000.000đ.
Như vậy, các quan hệ pháp luật tranh chấp phát sinh trong vụ án này
gồm: HĐ chuyển nhượng QSD đất, thu hồi GCNQSD đất, HĐ vay tài sản, công
nhận QSD đất, đòi lại tài sản, bồi thường thiệt hại tài sản, HĐ đặt cọc.
Tuy nhiên, quá trình thụ lý, giải quyết thì Toà cấp sơ thẩm xác định quan
hệ tranh chấp chuyển nhượng QSD đất, vay, bồi thường thiệt hại tài
sản; khi đưa vụ án ra xét xử thì xác định quan hệ tranh chấp chuyển
nhượng QSD đất, HĐ vay; đến khi Bản án sơ thẩm thì nhận định chỉ có quan h
pháp luật tranh chấp yêu cầu tuyên bố chuyển nhượng QSD đất hiệu,
thu hồi GCNQSD đất nhưng tuyên xử chấp nhận yêu cầu ca ông V, bà L đồng
17
ý trả anh B tiền vay 900.000.00lãi 1,66%/tháng từ ngày 01/4/2020 đến
khi xét xử, khấu trừ tiền lãi đã đóng 152.830.000đ, còn trả vốn lãi
1.730.720.000đ là chưa phù hợp.
Tuy nhiên, xét thấy tại các thông báo thụ lý, thụ lý bổ sung là có các quan
hệ nêu trên. Tại bản án thẩm lại không ghi đầy đ nên cần thiết bổ sung cho
đầy đ để phù hợp với phần quyết định ca bản án.
* Về nội dung giải quyết vụ án:
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/5/2019
chuyển nhượng các thửa đất số 170, 185, 198 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa
ông Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L và anh Trần Vĩnh C1. HĐXX xét thấy:
Ông V, bà L và anh C1 trình bày thống nhất, do ông V, bà L cần vay tiền
làm ăn nên khoảng giữa năm 2019 ông V, L vay ca anh C1 số tiền
200.000.000đ. Để bảo đảm cho khoản vay ông V, L thay vì ký hợp đồng thế
chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, thì ông V, L anh C1 hợp
đồng chuyển nhượng 04 thửa đất số 170, 185, 198, 214 cho anh C1 đứng tên
QSDĐ; anh C1 thừa nhận không nhận chuyển nhượng đất ca ông V bà L, việc
ký hợp đồng chuyển nhượng ch yếu để làm tin (đảm bảo) cho khoản nợ vay.
Tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự quy định về Giao dịch dân sự
hiệu do giả tạo như sau:
“1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu
một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, ...”
Căn cứ quy định trên, cùng với việc trình bày thống nhất giữa ông V,
L và anh C1 cho thấy hai bên không có chuyển nhượng đất cho nhau, thực chất
giao dịch giữa hai bên vay tiền. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 27/5/2019 được giữa ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L
anh Trần Vĩnh C1 là vô hiệu do giả tạo.
Xét yêu cầu ca nguyên đơn yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 12/9/2019 giữa anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan
A ông Trần Hữu B và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
28/10/2019 giữa ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L và ông Trần Hữu B vô hiệu;
đồng thời xét yêu cầu ca bị đơn ông B về việc công nhận các hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ này có hiệu lực, thấy rằng:
Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/9/2019 giữa
anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A và ông Trần Hữu B đối với các thửa
đất 170, 198 214 thì giá trị ghi trên hợp đồng 200.000.000 đồng, bị đơn
ông B cho rằng giá trị chuyển nhượng 03 thửa đất này 900.000.000 đồng,
còn đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/10/2019 giữa
ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L ông Trần Hữu B đối với thửa đất 185 thì
giá trị ghi trên hợp đồng 50.000.000 đồng, tại phiên tòa bị đơn ông B cho
rằng giá trị chuyển nhượng thửa đất 185 là 300.000.000 đồng, nhưng ông B
không tài liệu chứng cứ chứng minh gtrị chuyển nhượng 04 thửa đất
170, 185, 198 và 214 như ông B trình bày, căn cứ giá trị ghi trên hợp đồng
18
chuyển nhượng 04 thửa đất 170, 185, 198 và 214 có công chứng là 250.000.000
đồng. Trong khi đó, qua kết quả thu thập chứng cứ thì giá thị trường thửa đất
04 thửa đất số 170, 185, 198 và 214 thời điểm năm 2019 là 2.888.640.000 đồng
và giá căn nhà chính trên đất là 154.886.000 đồng; tổng cộng căn nhà và đất giá
3.043.526.000 đồng, giá trị cao hơn nhiều so với số tiền bị đơn ông B
trình bày.
Bên cạnh đó, xuất phát từ việc ông V, L vay tiền ca anh C1, nhưng
làm hợp đồng chuyển nhượng giả tạo 04 thửa đất 170, 185, 198 và 214 cho anh
C1 đứng tên, nên ông V, bà L vẫn đang quản lý, sdụng 04 thửa đất số 170,
185, 198 214 này, anh C1 thừa nhận ông V, L không giao đất anh C1.
Sau đó, anh C1, chị Lan A chuyển nhượng 03 thửa đất 170, 198 và 214 cho ông
B ông V, L chuyển nhượng thửa đất 185 cho ông B, chỉ chuyển
nhượng trên giấy tờ, không tiến hành xem xét thẩm định, đo đạc việc
bàn giao đất trên thực tế. Theo hợp đồng đặt cọc ngày 13/9/2019 thì ông V
cũng chỉ tên với cách người làm chứng, không thể hiện ý chí chuyển
nhượng đất cho ông B.
Mặt khác, khi hay tin ông B bao chiếm đất, dùng khóa không cho ông V,
bà L vào nhà, đất thì ông V, bà L đã làm đơn báo Công an xử lý, đồng thời khởi
kiện, tranh chấp với ông B đến nay. Mặt khác, trên 04 thửa đất 170, 185, 198
214 căn nhà ca ông V, L trên đất, cũng như 10 ngôi mộ ca gia đình
ông V trên đất nhưng theo hợp đồng chuyển nhượng các bên không có văn bản
thỏa thuận phần căn nhà, cũng như phần mộ phải xử lý như thế nào.
Với những tình tiết nêu trên, lời trình bày ca ông B cho rằng đã nhận
chuyển nhượng đất từ anh C1 ông V, L, đã được đứng tên QSDĐ đã
nhận đất quản lýyêu cầu xác định các hợp đồng chuyển nhượng hiệu lực
không phù hợp với các tình tiết khách quan, không sở để chấp nhận
trình bày, cũng như yêu cầu ca ông B.
Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/9/2019 giữa
anh Trần Vĩnh C1, chị Nguyễn Thị Lan A và ông Trần Hữu B đối với các thửa
đất 170, 198 214 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
28/10/2019 giữa ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L ông Trần Hữu B đối với
thửa đất số 185 vô hiệu.
Xét trình bày ca nguyên đơn tự nguyện trả tiền cho bị đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày
vay ca bị đơn ông B số tiền 900.000.000 đồng, lãi suất vay là 3%/tháng, từ khi
vay tiền thì nguyên đơn ông V, L trả lãi được ông B số tiền
152.830.000đ. Đối với ông B không đồng ý với lời trình bày ca nguyên đơn là
ông B cho ông V, L vay tiền, ông B không đồng ý nhận tiền vay và tiền
lãi như nguyên đơn trình bày, ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng
vay tài sản này.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày tự
nguyện trả lại cho bị đơn ông B số tiền vay đã nhận 900.000.000 đồng số
19
tiền lãi từ ngày 01/4/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/9/2025) là
983.550.000 đồng. Đối với số tiền lãi 152.830.000đ, nguyên đơn cho rằng đã
đóng cho bị đơn, bị đơn không đồng ý nhận, nguyên đơn không sở
chứng minh. Bản án thẩm trừ số tiền nêu trên vào tiền lãi không sở
nên cần thiết sửa án sơ thẩm. Đây là trình bày ca một phía nguyên đơn, không
được bị đơn thừa nhận, theo quy định khi tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do
giả tạo thì phải xử giao dịch được che giấu nhưng trong vụ án này bị đơn
không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng vay giữa nguyên đơn và bị đơn, tuy
nhiên ông V, L tự nguyện trả cho ông B tổng số tiền 1.883.550.000đ, sự tự
nguyện này không trái đạo đức, pháp luật, đồng thời đảm đảm bảo quyền lợi
ca bị đơn, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này ca ông V, bà L.
Đối với các vấn đề khác theo án sơ thẩm, có căn cứ xác định:
Đối với yêu cầu ca nguyên đơn yêu cầu ông B trả giá trị căn nhà bị ông B
đập bỏ trên thửa đất 170 là 154.886.000 đồng. Xét thấy, thời điểm ông B đập bỏ
căn nhà trên thửa đất số 170, tờ bản đồ số 14 thì ông V, bà L làm đơn tố cáo
hành vi ca ông B đến quan điều tra Công an thành phố S, quan điều tra
văn bản trả lời đơn tố giác ca công dân số 36/CV-CQCSĐT ngày
28/02/2023 thông o đến ông V, vụ việc đã dược Tòa án nhân dân thành phố S
thụ lý, giải quyết. Mặt khác, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 04 thửa
đất số 170, 185, 198 214 thì ông B đang đứng tên đất. Trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện y quyền ca nguyên đơn ông V, bà L xác
định trong vụ án dân sự y nguyên đơn không yêu cầu giải quyết hình sự về
việc đập bỏ căn nhà, chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại căn nhà, do xác định hợp
đồng chuyển nhượng 04 thửa đất số 170, 185, 198 214 từ ông V, L cho
anh C1 hợp đồng chuyển nhượng 03 thửa đất số 170, 198 214 từ anh C1
cho ông B hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 185 từ ông V, L cho ông
B hiệu nên buộc ông B trả lại giá trị căn nhà trên thửa đất 170 cho ông V,
L là 154.886.000 đồng.
Do HĐ CNQSDĐ thửa đất số 170, 185, 198 và 214 giữa ông Trần Văn V,
Hoàng Mỹ L và anh Trần Vĩnh C1 ngày 27/5/2019 vô hiệu nên phải thu hồi
giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất 170, 185, 198 214 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Đ cấp cho cho anh Trần Vĩnh C1 cùng ngày 07/8/2019. Tuy
nhiên, các giấy chứng nhận QSDĐ đối với các 170, 198 và 214 đã được thu hồi
khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Trần Hữu B ngày 12/11/2019, nên
không cần thiết phải tuyên thu hồi.
Do CNQSDĐ thửa đất 170, 198 và 214 giữa anh Trần Vĩnh C1, chị
Nguyễn Thị Lan A ông Trần Hữu B ngày 12/9/2019 hiệu. Do đó, phải
thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ các thửa đất 170, 198 và 214 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông B ngày 12/11/2019.
Do CNQSDĐ thửa đất 185 giữa ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L
ông Trần Hữu B ngày 28/10/2019 vô hiệu. Do đó, phải thu hồi giấy chứng nhận
QSDĐ thửa đất 185 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông B
ngày 25/11/2019.
20
Đối với yêu cầu ca nguyên đơn yêu cầu ông B trả giá trị các vật dụng,
tài sản trong nhà ông V, L tổng cộng 70.000.000đ. Tại phiên tòa, nguyên
đơn rút lại yêu cầu, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu
cầu này theo quy định.
Qua đo đạc thực tế các thửa đất số 170, 185, 198 215 diện tích thay
đổi so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, các ch
đất liền kề (người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đều thống nhất theo ranh
đất đo đạc thực tế. Nên công nhận thửa đất số 170, tờ bản đồ số 14 là đường nối
các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-1, diện tích 1.226,3m
2
, thửa đất
185, tờ bản đồ 14 đường nối các mốc 9-15-16-17-18-10-9, diện tích 630,5m
2
,
thửa đất 198, tờ bản đồ 14 đường nối các mốc 17-16-19-24-17, diện tích
1.555,5m
2
và thửa đất số 214 , tờ bản đồ 14 đường nối các mốc 19-20-21-22-
23-24-19, diện tích 747,6m
2
, đất tọa lạc tại T, thành phố S, Đồng Tháp (nay
là Phường S, tỉnh Đồng Tháp).
Đối với yêu yêu cầu ca nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông B di đời tường
gạch cột tông ép dầy 10, không trát được ông B xây dựng tháng 11 năm
2022 trên thửa đất 170, nguyên đơn không đồng ý hỗ trợ chi phí di dời. Do chấp
nhận yêu cầu ca nguyên đơn nên buộc ông B nghĩa vụ tháo dỡ vách tường
xây dựng này trên thửa đất số 170, tờ bản đồ số 14.
Ông Trần Hữu B không tranh chấp, không yêu cầu đối với phần
cát anh B đã san lắp trên một phần trên thửa đất 198, 214 (đất ruộng), các
đương sự không tranh chấp, không yêu cầu về các khoản thuế đã nộp
trước đây nên chưa được xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Với nhận định và quyết định đối với từng quan hệ tranh chấp như nêu
trên ca cấp sơ thẩm là có căn cứ. Tuy nhiên, tại bản án sơ thẩm, phần xác định
về quan hệ tranh chấp chỉ có HĐ chuyển nhượng QSD đất, HĐ vay, bồi thường
thiệt hại tài sản. Việc xác định như trên chưa đầy đnên cần thiết được bổ
sung tại cấp phúc thẩm. Đối với số tiền lãi phía nguyên đơn cho rằng đã
đóng cho phía bị đơn, tuy nhiên bị đơn không thừa nhận, đồng thời phía nguyên
đơn cũng không cung cấp tài liệu chứng minh về lời trình bày đó nên việc
cấp thẩm công nhận việc trả nguyên đơn đã trả lãi cho bị đơn không
căn cứ nên cần thiết sửa án sơ thẩm về phần này.
[3]. Xét đnghị hy án thẩm ca đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Tháp, Hội đồng xét xử có xem xét cân nhắc trong quá trình nghị án, đồng
thời thấy rằng chỉ cần sửa án thẩm cho phù hợp với diễn biến quá trình giải
quyết và quy định ca pháp luật.
[4]. Về án phí: ông Trần Hữu B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5]. Những phần quyết định khác ca bản án sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị nên hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên,
21
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận 01 phần kháng cáo ca ông Trần Hữu B.
Sửa 01 phần bản án dân sự thẩm số 105/2025/DS-ST ngày 29/9/2025
ca Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
Căn cứ các Điều 124, 131, 132, 166, 357, 468, 500, 501, 502 Bộ luật dân
sự năm 2015;
Căn cứ Điều 100, 166, 167, 179, 203 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ca y ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn ông Trần Văn V, bà
Hoàng Mỹ L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất vô hiệu, yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa
đất số 170, 185, 198 và 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa ông Trần Văn V, bà Hoàng
Mỹ L anh Trần Vĩnh C1 được Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày
27/5/2019 vô hiệu.
- Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
các thửa đất số 170, 198 214, cùng tờ bản đồ 14 giữa anh Trần Vĩnh C1, chị
Nguyễn Thị Lan A và ông Trần Hữu B được Văn phòng C3 vô hiệu.
- Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đối với
thửa đất số 185, cùng tờ bản đồ 14 giữa ông Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L
ông Trần Hữu B được Văn phòng C3 ng chứng ngày 28/10/2019 vô hiệu.
Công nhận cho ông V, L được quản lý, sử dụng thửa đất 170, qua đo
đạc thực tế các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-1, diện tích 1.226,3m
2
,
thửa đất 185 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 9-15-16-17-18-10-9, diện tích
630,5m
2
, thửa đất 198 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 17-16-19-24-17, diện
tích 1.555,5m
2
và thửa đất số 214 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 19-20-21-22-
23-24-19, diện tích 747,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại T, thành
phố S, Đồng Tháp (nay là Phường S, tỉnh Đồng Tháp).
Buộc ông Trần Hữu B trả cho ông V, L thửa đất 170, qua đo đạc thực
tế các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-1, diện tích 1.226,3m
2
, thửa đất
185 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 9-15-16-17-18-10-9, diện tích 630,5m
2
,
thửa đất 198 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 17-16-19-24-17, diện tích
1.555,5m
2
thửa đất số 214 qua đo đạc thực tế gồm các mốc 19-20-21-22-23-
24-19, diện tích 747,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại xã T, thành phố S,
Đồng Tháp (nay là Phường S, tỉnh Đồng Tháp).
22
Các đương sự trách nhiệm liên hệ quan thẩm quyền để được
điều chỉnh, đăng quyền sdụng đất theo quy định pháp luật, chi phí, lệ phí,
các loại thuế ông Trần Văn V, bà Hoàng Mỹ L chịu.
Đề nghị quan thẩm quyền điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với phần đất đã được Tòa án tuyên xử cho các đương stheo
quy định ca pháp luật.
2. Ghi nhận sự tự nguyện ông Trần Văn V, Hoàng Mỹ L liên đới trả
cho ông Trần Hữu B số tiền 1.883.550.000 đồng (Một tỷ, tám trăm tám mươi ba
triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Buộc ông Trần Hữu B phải trả lại cho ông V, L giá trị căn nhà do
ông B đập bỏ 154.886.000đ (Một trăm năm ơi bốn triệu, tám trăm tám
mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi
hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi ca số tiền còn phải
thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357,
Điều 468 ca Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn đối với yêu cầu
bị đơn ông B trả giá trị các vật dụng, tài sản trong nhà ông B chở đi
70.000.000đồng.
5. Đình chỉ yêu cầu độc lập ca ông Nguyễn Văn H1, Trần Ngọc H đối
với yêu cầu ông Trần Hữu B yêu cầu trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng
chuyển nhượng 04 thửa đất số 170, 185, 198 và 214, cùng tờ bản đồ số 14.
6. Ông Trần Hữu B phải có nghĩa vụ tháo dỡ vách tường gạch cột tông
ép dầy 10, không tô trát xây dựng trên thửa đất số 170, tờ bản đồ số 14.
(Có đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp bổ sung xác nhận ngày
20/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố S (nay Chi
nhánh Văn phòng Đ), biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ngày
13/4/2021, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ngày 17/5/2023
và biên bản định giá bổ sung ngày 07/9/2023 kèm theo)
2. Những phần quyết định khác ca bản án thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghnên hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Hữu B không phải chịu án phí
dân sphúc thẩm. H2 lại cho ông B số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên
lai thu số 0004277 ngày 10/10/2025 ca Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
23
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp; (1)
- TAND khu vực 8 – Đồng Tháp; (1)
- THADS tỉnh Đồng Tháp; (1)
- Các đương sự; (1)
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Trung Hiếu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 490/2026/DS-PT Bản án số 490/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 490/2026/DS-PT Bản án số 490/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất