Bản án số 48/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 48/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 48/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Thị T "Đánh bạc"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 48/2026/HS-PT Bản án số 48/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 48/2026/HS-PT Bản án số 48/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG TRỊ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 48/2026/HS-PT
Ngày: 16 - 6 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Từ Thị Hải Dương
Các Thẩm phán: Ông Phan Hồng Phước; Ông Trần Văn Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông NTuấn Linh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên a:
Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại phòng xét xử án hình sự, Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
66/2026/TLPT-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị T do
kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2026/HS-ST ngày 26
tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 Quảng Trị, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 62/2026/QĐXXPT-HS ngày 26/5/2026 của Toà án nhân
dân tỉnh Quảng Trị.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị T; sinh ngày 15/7/1989 tại tỉnh Quảng Trị;
giới tính: Nữ; số CCCD: ************ cấp ngày 14/8/2021; nơi trú: thôn E
T, T, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không;
trình độ học vấn: Lớp 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Hồng
T1 (đã chết) Mai Thị Minh C; chồng Đặng Văn T2, con: 03 con: lớn nhất
sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: có 02 tiền án: ngày 30/11/2022
phạm tội Đánh bạc bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (cũ)
xử phạt tiền 35.000.000 đồng tại Bản án số 60/2022/HSST ngày 30/11/2022; ngày
15/9/2023 phạm tội Đánh bạc bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (cũ) xử phạt
06 tháng tù tại Bản án 86A/2023/HS-PT ngày 15/9/2023, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 19/6/2017 bị Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình (cũ) xử
phạt vi phạm hành chính vhành vi Đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính
số 99/QĐ-XPHC ngày 19/6/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/11/2025, hiện đang bị tạm giam
tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không liên quan đến kháng cáo
nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/11/2025, Hoàng Hữu
N sử dụng điện thoại di động nhắn tin, gọi điện rủ Nguyễn Văn M, Đinh Trọng G
Phạm Văn K đến nhà N thôn B B, xã T, tỉnh Quảng Trị để đánh bạc thì M,
G và K đồng ý. Một lúc sau, G và K đến nhà N. Trong lúc ngồi đợi M đến, G gọi
điện thoại cho Nguyễn Thị T đến tham gia đánh bạc, T đồng ý. Khi đã có mặt đầy
đủ, Nam btrí phòng tầng 2, chuẩn bị 02 bộ bài T3 khơ 01 cái chăn
hoa văn, họa tiết nhiều màu sắc để các đối ợng đánh bạc. Trước khi đánh, cả
nhóm quy ước cách đánh bạc như sau:
Hình thức đánh "Phỏm", sử dụng bộ bài khơ gồm 52 lá bài. Trước
khi chơi, một người sẽ được phân làm người chia bài (thường xác định ngẫu nhiên
ở ván đầu tiên, ván sau xoay vòng trái chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại). Người
chia bài sẽ chia cho mỗi người chơi 09 lá bài. Riêng người chia đầu tiên sẽ được
chia 10 lá. Bộ bài được chia lần lượt từng theo vòng tròn cho tới khi đủ bài.
"Phỏm" là tổ hợp 3 hoặc 4 bài cùng giá trị nhưng khác chất, hoặc một dây bài
gồm ít nhất 3 lá có giá trị liên tiếp và cùng chất. (Ví dụ: "Phỏm" 3 lá giống nhau:
5, 5, 5 hoặc Q, Q, Q; "Phỏm" dây 3 lá: 7, 8, 9 hoặc J, Q, K). Người chơi đầu tiên
(có 10 lá) sẽ đánh 01 lá bài xuống. Người tiếp theo xét lá bài đó và quyết định có
"ăn" hay không. Nếu "ăn": Bỏ ra một lá bài trong tay để đánh xuống và giữ lại lá
vừa "ăn". Nếu không "ăn": Bốc một lá bài từ bộ bài dư còn lại trên sòng rồi đánh
01 bài cho người tiếp theo. Mỗi người chơi chỉ được "ăn" bài từ người chơi
trước khi thể tạo “Phỏm”. Mỗi người được "ăn" tối đa 3 lượt. Khi đã đủ
“Phỏmhoặc không còn bài để chơi, người chơi thể hbài theo quy ước. Người
chơi không bất kỳ “Phỏm” nào sau khi kết thúc 4 lượt bốc bài sẽ bị gọi
“Móm” hoặc “Cháy” bị tính là thua. Sau khi hạ bài, những bài không nằm
trong Phỏm” sẽ được cộng lại để tính điểm. Các được tính điểm theo giá trị
trên lá bài: Át hoặc Xì tính là 1 điểm; Các lá 2-10 tính điểm tương ứng với số; J,
Q, K tương ứng 11, 12, 13 điểm. Người chơi nào tổng điểm thấp nhất là
người chiến thắng (trừ khi có người chơi ù). “Ù” xảy ra khi một người chơi có 09
hoặc 10 lá bài đều nằm trong các Phỏm”. Khi “Ù”, người chơi đó sẽ thắng tuyệt
đối. Ván chơi chấm dứt ngay lập tức mà không cần tính điểm các bên còn lại. Ăn
chồng bài: Nếu một người ăn liền 3 lượt sẽ được gọi là “Ùvà chiến thắng. Phạt
“mómhoặc "cháy": Bị xếp cuối bảng. Hạ bài sai (không đủ Phỏm nhưng vẫn
hạ): Bị xử thua ván. Ngoài ra, một bộ bài khác đặt tại sòng bạc, để bốc lá “đấu”,
nếu không đấu” trên ván bài (tức là không trùng với bài được bốc ngẫu
nhiên) thì tính là không "đấu".
Cách thắng thua được quy ước như sau: Nếu ai thắng ván bài thì được nhận
hết số tiền những người thua đã tham gia đánh, cụ thể người thua thứ 2 thì
phải đưa cho người thắng số tiền 50.000 đồng; Người thua thứ 3 thì phải đưa
cho người thắng số tiền 100.000 đồng; Người thua thứ 4 (đứng cuối) thì phải
đưa cho người thắng số tiền là 150.000 đồng. Nếu ván đó bài ù” thì mi người
phải đưa cho người thắng số tiền là 250.000 đồng. Ngoài ra, còn tính “ăn” lá bài
3
“chốt” là 200.000 đồng, hoặc thua “gà” (bị "ăn" lá bài rác), thì lượt đầu là 50.000
đồng, lượt thứ hai 100.000 đồng, lượt thứ 3 thì “ù” đền là 900.000 đồng. Ngoài
ra còn có lá bài đấu”, tức là lá bài của người chơi trùng lá bài mà người chơi bốc
thăm trên bộ bài đặt tại sòng bạc. Mỗi người không bài “đấu” thì khi kết thúc
ván bài sẽ phải đưa cho người nhiều hơn 01 bài đấu 200.000 đồng trên
một lá bài.
Về số tiền mà các bị can sử dụng để đánh bạc: Đinh Trọng G mang theo s
tiền 2.550.000 đồng; Nguyễn Thị T mang theo số tiền 2.000.000 đồng; Phạm Văn
K mang theo số tiền 6.200.000 đồng; Nguyễn Văn M mang theo số tiền 6.100.000
đồng. Hoàng Hữu N người khởi xướng, bố trí địa điểm các công cụ đánh bạc
để hưởng lợi tiền "xâu", đến khi bị bắt quả tang đã hưởng lợi được số tiền 200.000
đồng.
Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi Đinh Trọng G, Phạm Văn K, Nguyễn
Văn MNguyễn Thị T đang đánh bạc thì bị Công an xã T, tỉnh Quảng Trị phát
hiện lập biên bản bắt quả tang, tạm giữ giữa sòng bạc số tiền: 6.050.000 đồng;
tạm giữ trên người của Phạm Văn K số tiền: 5.000.000 đồng; tạm giữ trên người
của Nguyễn Văn M stiền: 5.600.000 đồng; tạm giữ trên người của Hoàng Hữu
N số tiền: 200.000 đồng cùng các vật chứng khác.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2026/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 Quảng Trị đã quyết định tuyên bố các bị cáo
Hoàng Hữu N, Nguyễn Thị T, Đinh Trọng G, Nguyễn Văn M, Phạm Văn K phạm
tội “Đánh bạc”,
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ
luật hình sự, xử phạt bcáo Nguyễn Thị T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (04/11/2025)
Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, xử
lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 01/4/2026, bị cáo Nguyễn Thị T đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt với do bản án toà án nhân dân khu vực 2 xử phạt bị cáo mức án 36
tháng tù là quá nặng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mất sớm, mbị
cáo già yếu, hay đau ốm, bị cáo phải nuôi 03 con nhỏ, bị cáo đã ly thân chồng, bị
cáo là lao động chính trong nhà.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở
về chăm sóc mẹ già và các con nhỏ, trở thành công dân có ích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Điều 355 Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T. Giữ nguyên mức hình phạt tại Bản
án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân khu vực
2, tỉnh Quảng Trị đối với bị cáo Nguyễn Thị T.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hvụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành
vi phạm tội của mình, cụ thể: Vào 18 giờ 00 phút ngày 03/11/2025 tại nhà Hoàng
Hữu N thôn B B, T, tỉnh Quảng Trị, bị cáo cùng với Hoàng Hữu N, Đinh
Trọng G, Phạm Văn K, Nguyễn Văn M đã hành vi đánh bạc bằng hình thức
đánh Phỏm” thắng thua bằng tiền Ngân hàng N1 với tổng số tiền là 16.850.000
đồng. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an
xã T, tỉnh Quảng Trị bắt quả tang.
Do đó, có căn cứ để khẳng định Bản án thẩm của Tòa án nhân dân khu
vực 2 – Quảng Trịt xử tuyên các bị cáo Hoàng Hữu N, Đinh Trọng G, Phạm
Văn K, Nguyễn Văn M phạm tội “Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình
sự, riêng bị cáo Nguyễn Thị T 02 tiền án chưa được xóa án tích nên thuộc
trường hợp tái phạm nguy hiểm, vì vậy bị cáo bị xử phạt tội “Đánh bạc” theo quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự đúng người, đúng tội, đúng
quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị T, Hội
đồng xét xử thấy: khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử
thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ba con nhỏ dưới 15
tuổi, thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS chưa được cấp
sơ thẩm áp dụng, cần áp dụng cho bị cáo.Tuy nhiên bản thân bị cáo có 02 tiền án
bị phạt tiền phạt vtội đánh bạc trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành
chính về hành vi đánh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng
đạo đức rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội, thuộc tờng hợp “tái phạm nguy
hiểm”. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ và nhân thân để
xử phạt bị cáo 36 tháng tù là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới,
do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a
khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án thẩm của Tòa án
nhân dân khu vực 2 Quảng Trị.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo kháng cáo không được chấp nhận
nên phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của án thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị T không
kháng cáo, không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
5
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án hình s
sơ thẩm số: 22/2026/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 – Quảng Tr;
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
38 Bluật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 36 (Ba mươi sáu) tháng về
tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm
giam (04/11/2025).
2. Về án phí nh sự phúc thẩm: áp dụng Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
xử buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng o, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ Giám đốc kiểm tra 1 TANDTC; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng PV 06 CA tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- TAND khu vực 2;
- Phòng THADS khu vực 2;
- Những người TGTT;
- Lưu VP; HSVA. Từ Thị Hải Dương
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THÀNH VIÊN THẨM PHÁN
HỘI ĐỒNG XÉT X CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 48/2026/HS-PT Bản án số 48/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 48/2026/HS-PT Bản án số 48/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất