Bản án số 278/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 278/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 278/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 278/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Hòa tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với ông Huỳnh Như Phú
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 278/2026/DS-PT
Ngày: 20-5-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Dư Thành Trung
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Huyền – Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thanh
Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 503/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 12
năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 687/2025/QĐ-PT ngày
15 tháng 12 năm 2025; Thông báo hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm số 1287/TB-
PT ngày 26 tháng 12 năm 2025; Thông báo mở phiên tòa xét xphúc thẩm số
177/TB-TA ngày 05 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị H, sinh năm: 1971; cư trú tại số A, xóm C, thôn N,
xã K, tỉnh Lâm Đồng.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Cao T Văn phòng L2
thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Như P, sinh năm: 1982, bà Lương Tâm Thùy T1, sinh
năm: 1985; cư trú tại thôn N, xã K, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
+ Ông Cao Hữu T2, sinh năm: 1968; trú tại số A, xóm C, thôn N, K,
tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Thị H, sinh năm: 1971; cư trú tại số A,
xóm C, thôn N, xã K, tỉnh Lâm Đồng.
+ Văn phòng C (trước đây Văn phòng C); địa chỉ: số A, đường B, Đ,
tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Đức N Chức vụ: Trưởng Văn
phòng.
+ Bà Võ Thị L, sinh năm: 1937; cư trú tại thôn N, xã K, tỉnh Lâm Đồng.
+ Ông Phạm Ngọc T3, sinh năm: 1960; trú tại thôn N, K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Bà Phạm Thị Xuân H1, sinh năm: 1963; cư trú tại thôn N, xã K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Bà Phạm Thị Xuân H2, sinh năm: 1965; cư trú tại thôn N, xã K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Bà Phạm Thị Xuân H3; sinh năm: 1967; cư trú tại số nhà A, đường N, xã
Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+ Ông Phạm Ngọc H4, sinh năm: 1969; trú tại thôn N, K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Ông Phạm Ngọc T4, sinh năm: 1971; trú tại thôn N, K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1974; trú tại thôn N, K, tỉnh Lâm Đồng.
+ Trần Thị Thu V, sinh năm: 1962; trú tại thôn N, K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Thị Phương L1, sinh năm: 1983; cư trú tại thôn N, xã K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Thị Phương T5, sinh năm: 1988; cư trú tại thôn N, xã K, tỉnh Lâm
Đồng.
+ Ông Trần Anh T6, sinh năm: 1995; trú tại thôn N, K, tỉnh Lâm
Đồng.
Người kháng cáo: Bà Lê Thị H Nguyên đơn.
(Ông P, bà T5, bà H và Luật sư T mặt tại phiên Tòa; Đại diện Văn Phòng C
có đơn xin xét xử vắng mặt; các đương sự còn lại vắng mặt).
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn bà Lê Thị H trình bày: Bà được nhà nước cấp quyền sử dụng thửa đất 346 tờ
bản đồ số 22 xã K và thửa 347 chưa cấp sổ, hai thửa đất liền kề nhau. Vào tháng
02/2024 chuyển nhượng đất cho ông Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1
thì thỏa thuận chuyển nhượng cả 02 thửa 346, 347 với giá 3.900.000.000đ, sau
khi làm giấy tờ xong ông P, T1 cho rằng chỉ nhận chuyển nhượng thửa 346 còn
thửa 347 chưa giấy tờ nên không mua và bớt 200.000.000đ, chthanh toán cho
tổng cộng 3.700.000.000đ. Khoảng hơn một tháng sau thì thấy ông P, bà T1
khoan giếng, dựng nhà trên phần đất chưa chuyển nhượng cho ông P, T1
(thửa 347) bà yêu cầu để đo đạc đất thì ông P, T1 không đồng ý cho đo. Sau
đó bà làm đơn ra K giải quyết. Đến nay sau khi đo đạc xác định bà chỉ yêu cầu
ông P, bà T1 trả lại cho bà thửa 347 diện tích 882m
2
như hiện trạng ban đầu.
Bị đơn ông Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1 trình bày: Vào tháng
02/2024 vợ chồng ông nhận chuyển nhượng đất của Thị H, ông Cao Hữu
T2, khi xem đất thì một lô đất khoảng 4000m
2
không đo đạc. Ban đầu thỏa thuận
nhận chuyển nhượng với giá 3.900.000.000đ nhưng sau đó ông thấy quá cao
nên yêu cầu H giảm giá còn 3.700.000.000đ thì ông bà đồng ý nhận chuyển
nhượng. Khi chuyển nhượng thì ông bà chỉ biết toàn thửa đất là một thửa 346 và
chuyển nhượng xong bà H bàn giao đất cho ông bà nguyên lô đất. Trong toàn
đất ông nhận chuyển nhượng của H thì không ranh giới của thửa 346,
347 mà nối liền nhau và đã làm nhà lưới kéo dài cả lô đất, bản thân ông bà và bà
H đều không biết thửa 347. Sau khi nhận đất ông khoan giếng, dựng nhà,
đào hồ…thì bà H mới tranh chấp. Đến nay bà H u cầu ông bà trả thửa 347 diện
tích 882m
2
ông đồng ý và yêu cầu H, ông T2 chuyển nhượng cho ông
thửa 346 với diện tích 3.547m
2
nhưng hiện nay đo đạc thực tế chỉ có 3.133m
2
thì
thiếu của ông 414m
2
nên ông yêu cầu H, ông T2 phải trả phần đất còn
thiếu cho ông theo giá trị tại thời điểm mua (3.547m
2
giá 3.700.000.000đ thì
1m
2
là 1.043.000đ, 414m
2
x 1.043.000đ) là 431.802.000đ và yêu cầu bà H trả lại
tiền đầu tư xây dựng trên đất cho ông bà là 456.310.000đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị Thu V trình bày: Gia đình thửa đất 346 giáp ranh thửa
347 của Thị L nên vợ chồng đã nhận chuyển nhượng thửa 347 sử
dụng thời gian, nhưng từ khi nhận chuyển nhượng cũng không biết thửa 347
đã được cấp quyền sử dụng đất cho bà L, đến khi chuyển nhượng toàn bộ lại cho
Thị H, ông Cao Hữu T2 cũng không biết đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị L nên cũng chlàm thủ tục chuyển nhượng thửa
4
346 tờ bản đồ s22 K cho H, ông T2. Nay việc tranh chấp giữa H với
ông P, bà T1 bà không có ý kiến và không có yêu cầu gì.
- Võ Thị L trình bày vợ chồng khai psử dụng khu đất tên
thường gọi là đồi ông T7 là thửa 347 tờ bản đồ số 22 K hiện nay, bà đã chuyển
nhượng thửa đất này cho vợ chồng ông Văn T8, bà Trần Thị Thu V, cũng
không biết được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất này chưa. đã chuyển
cho ông T8, bà V thời gian lâu nên không nhớ, nay việc tranh chấp giữa bà H với
ông P, T1 không ý kiến không yêu cầu gì. L đơn xin vắng
mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Văn phòng C trình bày: Ngày 01/02/2022 Văn phòng đã công chứng hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là bà Lê Thị H
ông Cao Hữu T2, bên nhận chuyển nhượng là ông Huỳnh Như P Lương Tâm
Thùy T1 chuyển nhượng đối với thửa đất 346 tờ bản đồ số 22 xã K tỉnh Lâm Đồng
với diện tích 3547m
2
, giá chuyển nhượng 1.000.000.000đ. Việc công chứng hoàn
tòan đảm bảo quy định pháp luật. Nay việc tranh chấp giữa H với ông P, T1
văn phòng công chứng Hoàng Đức N không có ý kiến và không có yêu cầu gì.
Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác trong quá trình giải quyết
vụ án vắng mặt không trình bày ý kiến.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị H. Buộc ông
Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1 trách nhiệm trả cho Thị H thửa
đất 347 tờ bản đồ số 22 K diện tích đo vẽ thực tế 882m
2
. (có bảng vẽ ngày
31/12/2024 kèm theo).
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố ca bị đơn, buộc bà Lê Thị H ông Cao Hữu T2
phải thanh toán cho bị đơn ông Huỳnh Như P Lương Tâm Thùy T1 số tiền
888.112.000đ (T9 trăm tám mươi tám triệu một trăm mười hai ngàn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 01/10/2025 Thị H kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án thẩm
hoặc sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn không đồng ý với
kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giải quyết như án sơ thẩm.
5
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong qtrình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xvà các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số
tiền tổng cộng là 832.916.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan htranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của Thị H; người kháng
cáo, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272,
273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xxem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H thì thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định diện tích đất tranh
chấp là thửa 347 tờ bản đồ số 22, xã K, tỉnh Lâm Đồng, đã cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng cho Thị L ngày 09/9/1994, diện tích 745m
2
(đo thực tế
882m
2
). L trình bày đã chuyển nhượng thửa đất này cho vợ chồng ông Lê Văn
T8, Trần Thị Thu V, c chuyển nhượng không biết đất đã được cấp sổ.
Tranh chấp giữa nguyên đơn, bị đơn thì không ý kiến cũng không yêu
cầu gì. Trần Thị Thu V trình bày gia đình có thửa 346, giáp ranh thửa 347 của
L nên vợ chồng đã nhận chuyển nhượng thửa 347, nhưng từ khi nhận chuyển
nhượng cho đến khi chuyển nhượng lại cho Lê Thị H, ông Cao Hữu T2, bà V
cũng không biết thửa 347 đã được cấp quyền sử dụng đất cho L nên cũng chỉ
làm thủ tục chuyển nhượng thửa 346.
Theo hợp đồng công chứng ngày 01/02/2024 thì ông Cao Hữu T2, Lê Thị
H chỉ chuyển nhượng cho ông Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1 thửa đất
346, diện tích 3.547m
2
. Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm
nguyên đơn đều thừa nhận đã nhận của bị đơn stiền 3.700.000.000đ. Tuy nhiên,
khi đo đạc thực tế diện tích thửa 346 ch3.133m
2
, thiếu 414m
2
so với
hợp đồng
chuyển nhượng nên bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn trả lại diện tích đất còn
thiếu căn cứ chấp nhận. Các bên thỏa thuận diện tích 3.547m
2
đất giá
3.700.000.000đ nên 1m
2
trị giá 1.043.000đ. Giá trị quyền sử dụng đất bị thiếu
414m
2
x 1.043.000đ = 431.802.000đ. Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn, buộc nguyên đơn H, ông T2 thanh toán cho bị đơn số tiền
431.802.000đ là phù hợp.
Bị đơn đã thanh toán đủ tiền cho nguyên đơn, nguyên đơn giao đất cho bị
đơn sử dụng thì trên đất đã có nhà lưới phủ kín hết diện tích đất. Theo họa đồ đo
đạc, thực tế bị đơn đang sử dụng thửa 346 và một phần thửa 347 bị đơn trình bày
6
nguyên đơn bán hết miếng đất là phù hợp với lời khai của bà V “Nếu nhìn vào sẽ
không phân biệt được thửa nào 346, thửa nào 347” (BL 108) nên việc ông P trình
bày bản thân ông và vợ chồng bà H không biết có thửa 347 là có căn cứ.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại thửa 347 diện tích đo đạc thực tế 882m
2
,
bị đơn đồng ý nên cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của các bên là phù hợp. Gắn
liền với thửa 347 là các tài sản bị đơn đã tạo dựng gồm công san ủi đất, nhà tiền
chế, mái che, hồ chứa nước ngầm, giếng khoan, rào lưới B40 nên giao cho nguyên
đơn các tài sản này buộc nguyên đơn thanh toán lại giá trị cho bị đơn phù
hợp. Tổng giá trị công trình theo thẩm định giá giai đoạn thẩm
456.310.000đ. Tại giai đoạn phúc thẩm nguyên đơn có đơn xin thẩm định giá lại.
Theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T10 giá Năm Thành Viên
tổng giá trị tài sản 401.114.000đ (giảm 55.196.000.000đ). Do đó, cần chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn về phần này.
Như vậy, tổng cộng bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn giá trị quyền sử
dụng đất thửa 346 thiếu giá trị tài sản tại thửa 347, stiền 431.802.000đ +
401.114.000đ = 832.916.000đ.
Như đã phân tích trên, nguồn gốc thửa 347, tờ bản đồ số 22, K các bên
tranh chấp, do L khai pđã được cấp quyền sử dụng đất ngày 09/9/1994
diện tích 745m
2
nhưng bản thân bà L xác định không biết đã được cấp thửa 347.
Theo trình bày của V thì bà L chuyển nhượng cho bà V, ông T8 bằng giấy tay
là phù hợp, vì chính bà L cũng không biết diện tích đất bà chuyển nhượng cho bà
V, ông T8 thửa 347 đã cấp quyền sử dụng cho bà. Quá trình giải quyết vụ
án Tòa án cấp sơ thẩm đã gửi văn bản trình bày ý kiến và triệu tập các con bà L,
con bà V nhưng các ông bà này đều không trình bày ý kiến gì, nếu có tranh chấp
thửa 347 với H, ông T2 thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác. H không
yêu cầu xem xét về việc chuyển nhượng thửa 347 từ bà L cho bà V, ông T8 cũng
như việc chuyển nhượng từ ông T8, V sang cho vợ chồng bà, cấp thẩm
không xem xét nên cấp phúc thẩm không đề cập.
Từ những phân ch trên, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn,
sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
[3] Về chi phí tố tụng: Tại giai đoạn sơ thẩm chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ, đo vẽ, thẩm đnh giá, tổng số tiền 6.516.000đ.000đ. Nguyên đơn và bị đơn
mỗi bên chịu ½ là 3.258.000đ (đã quyết toán xong) nên không đề cập tại phần
quyết định của bản án.
Tại giai đoạn phúc thẩm nguyên đơn yêu cầu thẩm định giá lại tài sản tranh
chấp, chi phí stiền 23.000.000đ (nguyên đơn đã ứng chi quyết toán xong).
Do chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn nên mỗi bên phải chịu
½ , số tiền 23.000.000đ : 2 = 11.500.000đ. Buộc bị đơn thanh toán lại cho
nguyên đơn số tiền 11.500.000đ.
7
[4] Về án phí:
Bị đơn đã nộp tạm ứng án phí dân ssơ thẩm số tiền 10.637.000đ theo Biên
lai thu số 0002904 ngày 04/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (BL
135) nhưng chưa được đề cập tại bản án sơ thẩm là thiếu sót.
Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định ca pháp
luật. Trả lại cho bị đơn tiền tạm ứng án phí còn dư. Do yêu cầu kháng cáo được
chấp nhận một phần nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H, sửa bản án sơ
thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị H.
Buộc ông Huỳnh NP, bà Lương Tâm Thùy T1 có trách nhiệm trả cho bà
Thị H thửa đất 347 tờ bản đồ số 22 K, diện tích đo vẽ thực tế là 882m
2
cùng
tài sản gắn liền với đất gồm công san ủi đất, nhà tiền chế, mái che, hồ chứa nước
ngầm, giếng khoan, rào lưới B40 (trị giá 401.114.000đ).
Kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh thửa đất ngày 31/12/2024 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
khu vực Đ).
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố ca bị đơn buộc bà Lê Thị H, ông Cao Hữu T2
phải thanh toán cho bị đơn ông Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1 số tiền
832.916.000đ (Tám trăm ba hai triệu chín trăm mười sáu ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Vchi phí tố tụng: Buộc ông Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1 thanh
toán lại cho bà Lê Thị H số tiền 11.500.000đ chi phí thẩm định lại giá trị tài sản.
4. Về án phí:
8
Thị H phải chịu 36.658.320đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ
vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002719 ngày
24/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đơn Dương (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 2 Lâm Đồng) số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai thu số 0007108 ngày 29/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
Lâm Đồng. Bà H còn phải nộp số tiền 36.058.320đ án phí.
Ông Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1 phải chịu 300.000đ án phí dân
sự thẩm nhưng được trừ vào số tiền 10.637.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 0002904 ngày 04/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Hoàn trả cho ông Huỳnh Như P, Lương Tâm Thùy T1 10.337.000đ tiền tạm
ứng án phí còn dư.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- TAND khu vực 2 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS khu vực 2 Lâm Đồng
(01);
- Đương sự (16);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Nguyệt
Tải về
Bản án số 278/2026/DS-PT Bản án số 278/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 278/2026/DS-PT Bản án số 278/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất