Bản án số 593/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 593/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 593/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 593/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 593/2026/DS-PT Bản án số 593/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 593/2026/DS-PT Bản án số 593/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 593/2026/DS-PT
Ngày: 16/6/2026
V/v “Tranh chp hợp đồng
chuyển nhượng quyn s dụng đất
và hợp đồng vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
Các Thẩm phán: Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Ông Nguyễn Hữu Bằng
- Thư phiên tòa: Trầm Thị Phương Hằng – Thẩm tra viên, Thư ghi
biên bản phiên tòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Bùi Trung
Nam - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên toà.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,
xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số: 437/2026/TLPT-DS ngày 01 tháng
4 năm 2026 về việcTranh chp hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất và
hợp đồng vay tài sn”.
Do bản án dân sự thẩm số 113/2026/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 684/2026/QĐPT-DS
ngày 24 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phương L, sinh năm 1987
Địa chỉ: I, Khu V, phường P, quận C, Tp Cần Thơ. (có đơn xin xét xử vắng
mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Thúy M (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C, KDC H, phường T, thành phố Cần Thơ
2. Bị đơn: ông Phạm Công H, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. ông Nguyễn Công C, sinh năm 1986
Địa chỉ: đường T, KV T, phường Ô, Tp Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm
1987 ( theo văn bản ủy quyền ngày 12/12/2024) (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đông Thạnh, xã Đông Thuận, huyện Thới Lai, Tp Cần Thơ
2. Văn phòng C3 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, Quốc lộ I, phường Ô, thành phố Cần T.
4. Người kháng cáo: Ông Phạm Công H và ông Nguyễn Công C
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án thẩm các tài liệu trong hồ thì nội dung vụ án như
sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2024 trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn tnh bày:
L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Công H
đối với thửa đất số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số DE 871801 số vào sổ CS07555 do Sở tài
nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 25/11/2022 (gọi tắt thửa đất số
23), thông tin cụ thể như sau:
- Thửa đất số: 23
- Tờ bản đồ số: 73
- Địa chỉ thửa đất: Đường T, khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần
Thơ
- Diện tích: 301,4 m2 (bằng chữ: Ba trăm linh một phẩy bốn mét vuông)
- Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng
- Mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm
- Thời hạn sử dụng: đến ngày 24/04/2048
- Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ
như giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng và đã đến Văn phòng công chúng
Nguyễn Thị Thủy A để ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào
ngày 05/10/2023, Hợp đồng được công chứng số 7192, quyển số 01/2023/TP/CC-
SCC/HDGD.
Sau khi kết Hợp đồng chuyển nhượng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ của mình, trả đủ số tiền 500.000.000 đồng cho ông H (có lập biên nhận
tiền) theo thỏa thuận trong hợp đồng, đúng thời hạn và theo đúng phương thức đã
thỏa thuận cho ông H. Đồng thời, đã thực hiện các thủ tục đăng quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật và ngày 01/04/2024, Chi nhánh Văn phòng
Đ1 đã xác nhận việc chuyển nhượng cho bà Nguyễn Phương L.
Theo Hợp đồng chuyển nhượng thỏa thuận: “Việc bàn giao tài sản chuyên
nhượng sẽ do hai bên tự thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Cùng ngày 05/10/2023, ông H cùng ông Nguyễn Công C lập Văn bản bàn
giao mặt bằng, theo đó cam kết: Chúng tôi hứa sẽ bàn giao nhà đất, tài sản gắn
liền với đất; lấy cốt mộ, giao mặt bằng vào tháng 03/2024 âm lịch (thanh minh),
tôi hứa sẽ giao”. Theo cam kết này, ông H ông C hứa sẽ giao tài sản chuyển
nhượng cho nguyên đơn vào tháng 03/2024 Âm lịch, đến nay đã quá thời hạn
theo cam kết, sau nhiều lần đôn đốc ông H vẫn chưa bàn giao tài sản.
vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông H ông C bàn giao thửa đất
số 23, tờ bản đồ số 73 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày
25/11/2022, đã nhận chuyển nhượng hợp pháp thửa đất trên và đã đứng tên
quyền sử dụng đất.
* Bị đơn trình bày: Vào năm 2022 ông Nguyễn Công C có hỏi ông vay số
tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) để làm ăn và đồng ý chuyển nhượng cho
ông thửa đất số 09, tờ bản đồ số 73, đất toạ lạc tại đường T, khu vực T, phường
T, quận Ô, TP Cần Thơ để làm tài sản bảo đảm, ông đồng ý đã giao đủ tiền
cho ông Nguyễn Công C thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 8402, quyển số
01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/11/2022 tại Văn phòng C3.
Đến năm 2023 do cần vốn để làm ăn và được sự đồng ý của ông C ông đã
vay của Nguyễn Phương L số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi
triệu đồng) với lãi suất 4%/tháng và bà L yêu cầu chuyển nhượng thửa đất số 23
(tách từ thửa 09), tờ bản đồ số 73 cho bà L đứng tên để đảm bảo khoản vay, ông
đồng ý và hai bên thực hiện việc chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
05/10/2023 tại Văn phòng C3. Ông chỉ chuyển nhượng trên mặt giấy tờ L chưa
từng đi xem đất không bàn giao đất trên thực tế. Thực hiện hợp đồng vay
tiền, ông đã đóng lãi cho bà L số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Đối với yêu cầu khởi kiện của L thì ông không đồng ý ông chỉ vay
tiền không chuyển nhượng đất cho L. Ông đồng ý trả lại cho L số tiền
gốc 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) tiền lãi tính từ ngày
05/10/2023 đến ny 21/8/2025, tạm tính 22 tháng với lãi suất 20%/năm
82.170.000 đồng (Tám mươi hai triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng), khấu trừ
số tiền lãi 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng), số tiền ông phải trả cho L
472.170.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi hai triệu một trăm bảy mươi nghìn
đồng).
Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Công C về huỷ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thì ông đồng ý, tuy nhiên ông không yêu cầu giải quyết
hậu quả của hợp đồng bị huỷ, ông ông C stự thương lượng giải quyết với
nhau.
* Đại diện người quyền li nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công C
ông Đ trình bày: Thực tế ông C không có bán đất cho ông H mà chỉ vay tiền của
ông H số tiền 1.000.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng. Nay yêu cầu tuyên bố
hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày từ ông C qua tên ông H
ngày 07/11/2022 tuyên bố hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất ngày 05/10/2023 từ ông H qua L. Về hậu quả của hợp đồng hiệu thì
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản án sơ thẩm số 113/2026/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông
Phạm Công H và ông Nguyễn Công C nghĩa vụ giao trả thửa đất số 23, tờ bản
đồ số 73, diện tích 301,4 m
2
, loại đất CLN theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 871801 số vào sổ
CS07555 do Sở tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày 25/11/2022,
chỉnh lý sang tên Nguyễn Phương L ngày 01/04/2024 di dời, tháo dỡ các
công trình, tài sản gắn liền với thửa đất số 23.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Công C: Tuyên
bố hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
07/11/2022 đối với một phần thửa đất số 09, tờ bản đồ số 73 (nay là thửa đất số
24, tờ bản đồ số 73 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số DE 871802 số vào sổ CS07556 do Sở tài nguyên
Môi trường thành phố C cấp ngày 25/11/2022), không chấp nhận yêu cầu tuyên
bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/10/2023 giữa
ông Phạm Công H với bà Nguyễn Phương L đối với thửa đất số 23.
3. Về hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
07/11/2022 vô hiệu:
Ông Phạm Công H có nghĩa vụ giao trả lại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 73
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số DE 871802 số vào sổ CS07556 do Sở tài nguyên Môi trường
thành phố C cấp ngày 25/11/2022 cho ông Nguyễn Công C.
Ông Nguyễn Công C nghĩa vụ trả lại cho ông Phạm Công H số tiền
1.570.410.959 đồng (trong đó gốc là 1.000.000.000 đồng, lãi phát sinh
570.410.959 đồng),
Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn tuyên về lãi chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, chi
phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, Bị đơn Phạm Công H đơn kháng cáo, yaau
cầu sửa án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp
nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Công C có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Phạm Công H, Phạm Công C1 có đơn
xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Nguyên đơn đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa ngày 16/6/2026, tuy
nhiên phiên ngừng tòa ngày 08/6/2026 nguyên đơn tham dự giữ nguyên u
cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn ông H và ông C1 phải di dời nhà cửa và mồ mã đi
nơi khác để giao đất cho nguyên đơn, khi nhận chuyển nhượng đất của ông H
nguyên đơn có xuống xem đất và xác định có căn nhà của gia đình ông C1 đang
sinh sống và có mấy ngôi mộ của gia đình ông C1, do ông H và ông C1 cam kết
di dời các ngôi mđể giao đất cho nguyên đơn vào tháng 3/2024, nếu Tòa án
tuyên hiệu hợp đồng thì ông H phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn,
nguyên đơn mua phần đất này để đầu tư chứ không mua để ở, thời điểm hiện tại
nguyên đơn không biết giá trị của phần đất bao nhiêu, nhưng nguyên đơn không
yêu cầu định giá phần đất trên theo giá thị trường, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm từ
giai đoạn thụ đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành đúng các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị áp dụng khoản 2
Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Sau khi xét xthẩm, bị đơn và người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan kháng o trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
Tại phiên tòa mở ngày 08/6/2026 vắng mặt người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn, tuy nhiên nguyên đơn có mặt và đồng ý xét xử vắng mặt người
đại diện theo ủy quyền Thúy M. Căn cứ Điều 228 Bộ luật dân sự Tòa án
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Xét kháng cáo của ông Phạm Công H ông Nguyễn Công C, Hội đồng
xét xử xét thấy:
Nguồn gốc phần đất các đương sự đang tranh chấp là của ông Nguyễn Công
C, ngày 07/12/2022 ông C chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phạm Công
H, thửa đất số 09 tờ bản đồ s73, nay hai thửa ông H đứng tên thửa 23
24. Ngày 05/10/2023 ông H chuyển nhượng thửa 23 diện tích 301,4m
2
loại đất
CLN với giá 500.000.000đồng, L đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất vào ngày 01/4/2024.
Cùng ngày 05/10/2023 ông H ông C văn bản cam kết bàn giao mặt
bằng cho bà L, tuy nhiên đến nay ông H và ông C không giao quyền sử dụng đất
cũng như di dời các công trình trên đất để trả lại đất cho bà L.
Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H L lập
ngày 05/10/2023 theo đó ông H chuyển nhượng cho lam thửa đất số 23 diện
tích 301.4m
2
loại đất CLN, tuy nhiên qua thẩm định phần đất thửa 23 xác định
căn nhà cấp 4 của gia đình ông C đang ở và 06 ngôi mộ của gia đình ông C trên
đất. Xét thấy sự thỏa thận chuyển nhượng đất giữa bà L ông H không phải là
hợp đồng giả cách, nhưng ngay từ đầu giao dịch chuyển nhượng giữa ông H
L đã đối tượng không thực hiện được theo quy định tại Điều 408 Bộ luật
dân sự liên quan đến vật kiến trúc trên đất của người thứ ba 06 ngôi mộ của gia
đình ông C, mặc dù ông C và ông H thỏa thuận di dời 6 ngôi mộ đi i khác
để giao đất cho L, tuy nhiên xét thấy thỏa thuận này không phù hợp với đạo
đức phong tục tập quán cũng như không được dòng họ, gia đình mồ trên
đất đồng ý, nên việc chuyển nhượng đất thỏa thuận không phợp với quy
định của pháp luật.
Do vậy, Hội đồng xét xử xét thất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa L và ông H vô hiệu, văn bản thỏa thuận bàn giao mặt bằng giữa ông
C, ông H với L cũng không hiệu lực. Buộc ông H trả số tiền chuyển nhượng
đất lại cho bà L, đồng thời phải bồi thường thiệt hại cho L, xét thấy căn cứ
biên bản định giá của Tòa án nhân dân khu vực 2 chỉ thể hiện diện tích 50 mét
đầu có giá thị trường là 5.000.000đồng/m
2
(BL- 177) không có giá của diện tích
đất còn lại. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 08/6/2026 Hội đồng xét xử đề nghị
nguyên đơn trưng cầu thẩm định giá theo giá trị trường, nhưng nguyên đơn không
hợp tác và không đồng ý, do vậy Hội đồng xét xử tách phần bồi thường thiệt hại
ra giải quyết thành vụ án khác khi nguyên đơn yêu cầu. Do L chưa nhận đất
nên không buộc bà L giam trả đất cho ông H và ông C.
Đồng thời Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án cấp sơ khi xét xử vụ án cần thu
thập chứng cứ đầy đủ và khách quan toàn diện của vụ án, để giải quyết triệt để v
án, tránh phát sinh thêm vụ kiện khác.
Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bị đơn ông Phạm Công H
người có quyền lợi liên quan ông Nguyễn Công C không có căn cứ chấp nhận,
Chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về án phí dân sphúc thẩm: Do kháng cáo của ông H ông C không
căn cứ chấp nhận, nhưng Hội đồng xét xử sửa án án sơ thẩm hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H bà L như đã phân tích, nên Ông
Phạm Công H và ông Nguyễn Công C không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 408 Bộ luật dân sự
Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khoá
14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
toà án.
Chấp nhận kháng cáo Bị đơn ông Phạm Công H
Chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Công C.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 113/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị
đơn ông Phạm Công H ông Nguyễn Công C có nghĩa vụ giao trả thửa đất số
23, tờ bản đồ số 73, diện tích 301,4 m
2
, loại đất CLN theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sCS07555 do
Sở tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày 25/11/2022, chỉnh sang tên
Nguyễn Phương L ngày 01/04/2024 và di dời, tháo dỡ các công trình, tài sản
gắn liền với thửa đất số 23.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn
Phương L ông Phạm Công H đối với thửa đất số 23 theo hợp đồng số 7192
ngày 05/10/2023 tại Văn phòng C3 vô hiệu.
Buộc ông Phạm Công H trả lại cho Nguyễn Phương L số tiền chuyển
nhượng đất là 500.000.000đồng (Năm trăm triệu đồng).
Tách phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của Nguyễn Phương L đối với
ông Phạm Công H và ông Nguyễn Công C ra giải quyết thành vụ án khác khi bà
L có yêu cầu.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Công C:
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/11/2022 đối
với thửa đất số 09, tờ bản đồ số 73 (nay thửa đất số 24, tờ bản đồ số 73 theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CS07556 ngày 25/11/2022 do Sở tài nguyên và Môi trường thành phố
C cấp cho ông Phạm Công H vô hiệu).
Kiến nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07556 CS 07555
do Sở tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 25/11/2022 cho ông Phạm
Công H để cấp lại theo quyết định của bản án.
Các đương sự có quyền liên hệ cơ quan chuyên môn đđăng ký cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
3. Về hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
07/11/2022 vô hiệu:
Ông Phạm Công H có nghĩa vụ giao trả lại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 73
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CS07556 do Sở tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày
25/11/2022 cho ông Nguyễn Công C.
Ông Nguyễn Công C nghĩa vụ trả lại cho ông Phạm Công H số tiền
1.570.410.959 đồng (trong đó gốc là 1.000.000.000 đồng, lãi phát sinh
570.410.959 đồng).
K t ngày b đơn ông Dương Văn C2 đơn yêu cầu thi hành án, nếu
nguyên đơn bà Tô Thị Xuân T chậm thực hiện nghĩa vụ, thì hàng tháng T phải
trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương
ứng với thời gian chậm thi hành án.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Phương L phải chịu 300.000đồng, chuyển tiền tạm
ứng án phí L đã nộp theo biên lai thu s0004483 ngày 22/10/2024 tại thi hành
án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí.
Bị đơn ông Phạm Công H phải chịu 600.000đồng tiền án phí.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công C phải chịu
59.412.329đồng, khấu trừ 600.000đồng, số tiền còn lại phải nộp thêm
58.812.329đồng.
Chi phi tố tụng: Bị đơn ông Phạm Công H phải chịu 8.500.000đồng để trả
lại cho bà Nguyễn Phương L đã nộp tạm ứng trước.
Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu, ông H ông C được nhận
lại mỗi người 300.000đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0005038 ngày
10/10/2025 và biên lai số 0003601 ngày 25/9/2025 tại Thi hành án dân sự thành
phó C4.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự,
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều
7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 16 tháng 6 m
2026.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Thị Bích H1
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 593/2026/DS-PT Bản án số 593/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 593/2026/DS-PT Bản án số 593/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất