Bản án số 312/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 312/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 312/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 312/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị L. - Nguyễn Ngọc Q. - Tranh chấp đòi tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
_________________
Bản án số: 312/2026/DS-PT
Ngày : 18/6/2026
V/v Tranh chấp Đòi tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Giao và bà Phan Thị Minh Tâm.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (
sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án n sự phúc thẩm thụ số
229/2026/TLPT-DS ngày 10 tháng 4 năm 2026 về việc Tranh chấp Đòi tài
sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực – An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 206/2026/QĐ-PT ngày
14 tháng 4 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 251/2026/QĐ-PT ngày 06
tháng 5 năm 2026 và Thông báo mở lại phiên tòa số 70/TB-TA ngày 09 tháng 6
năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phạm Thị L, sinh năm 1953; nơi trú: Ấp T, xã V,
huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp T, xã V, tỉnh An Giang) (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Đặng Ngọc M, sinh
năm 2000; nơi trú: Khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ
liên lạc: Số C đường B, khóm B, phường L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền
ngày 29/7/2024) (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Thành T Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số C đường
B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1959 (vắng mặt).
2
2.2. Bà Lê Thị Thúy D, sinh năm 1965 (có mặt).
Cùng nơi trú: Tổ C, ấp V, V, huyện T, tỉnh An Giang; nay V,
tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Lại Thị Ánh N, sinh năm
1988 nơi trú: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay khóm
Đ, phường L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 20/4/2025) (có mặt).
3. Người làm chứng:
3.1. Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1988; nơi trú: Ấp V, V,
huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang) (vắng mặt).
3.2. Ngô Thị P, sinh năm 1972; nơi trú: ấp T, V, huyện T, tỉnh
An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang) (có mặt).
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q và bà Lê Thị Thúy D.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị L, quá trình giải quyết
ván tại phiên tòa, Đặng Ngọc M người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn trình bày:
Bà L với ông Q, bà D là hàng xóm. Vào ngày 19-10-1998 dl, ông Q, D
mượn của L 04 cây 4 chỉ vàng 24kara (loại vàng 9999). Biên nhận ngày
19-10-1998 dl do D viết; được ông Q D và ghi họ tên. Sau khi lập biên
nhận thì ông Q, bà D đã trực tiếp nhận 04 cây 04 chỉ vàng 24kara tại nhà của bà.
Mặc dù L đã nhiều lần yêu cầu ông Q, D phải nghĩa vụ trả lại số vàng
đã mượn nhưng ông Q, D không thiện chí, nhiều lần trốn tránh trách
nhiệm trả nợ nên L khởi kiện yêu cầu ông Q, D phải nghĩa vụ trả lại
cho bà số vàng đã mượn là 04 cây 04 chỉ vàng 24kara (Bốn cây bốn chỉ vàng 24
kara), loại vàng 9999; không yêu cầu tính lãi suất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, M trình bày, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu. Tuy nhiên, trong vụ án này, bà L chỉ yêu
cầu ông Q, D phải nghĩa vụ trả lại số vàng đã mượn; không yêu cầu tính
lãi suất nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận việc áp dụng thời hiệu
của bị đơn. Bị đơn bà D thừa nhận biên nhận do bà D viết, chữ ký và chữ viết họ
tên của vợ chồng bà; không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định nhưng cho
rằng vợ chồng bà chỉ mượn tiền bà L, bà L ép buộc bà phải viết nội dung quy ra
vàng nhờ P trả giùm. Ngoài lời trình bày thì ông Q, D P hoàn
toàn không chứng cứ nào để chứng minh nên đề nghị HĐXX không chấp
nhận những lời khai nại của bđơn. Về nội dung giao cây nước quản lý, hoàn
toàn không việc L nhận cây nước từ ông Q, D hoàn toàn không
việc L thu tiền nước của các hộ dân; nội dung của biên nhận không phải
hợp đồng song vụ như lời khai nại của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn.
Ngoài ra, những tờ giấy xác nhận bị đơn cung cấp không khách quan,
ngày tháng năm stẩy xóa; các chữ thể hiện trong tờ xác nhận không
3
được chính quyền địa phương chứng thực nên không đảm bảo theo quy định của
pháp luật về chứng cứ.
Bị đơn Thị Thúy D trình bày: Vào năm 1998, vợ chồng mượn
của Phạm Thị L khoảng mười mấy triệu đồng; không nhớ chính xác; không
thỏa thuận lãi suất. Tuy nhiên, do thời điểm này giá vàng còn thấp nên L quy
ra vàng và ép buộc vợ chồng bà ký tên o Biên nhận ngày 19-10-1998 dl thì
L mới cho mượn tiền. Do sợ L không cho mượn tiền nên ghi nội dung
mượn vàng theo ý bà L và vợ chồng bà ký tên. Do thời gian đã lâu nên bà không
nhớ viết biên nhận nhận tiền tại đâu; mệnh giá tiền như thế nào. Sau đó, do
hoàn cảnh gia đình khó khăn nên vợ chồng đi làm ăn xa nhờ Ngô
Thị P trả cho bà L mỗi tháng với số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng);
trả trong khoảng thời gian từ 2-3 năm; không nhớ tổng số tiền đã trả cho bà L.
Sau khi L khởi kiện, do không còn nợ nần nên con gái của
Nguyễn Thị Thúy A đến nhà L để hỏi sự việc dùng điện thoại để
ghi hình nhưng chưa xin phép bà L về việc ghi hình. Sau đó chị A có sao chép ra
USB để cung cấp cho Tòa án chứ không nhằm phát tán, bôi nhọ về danh dự hay
xúc phạm đến hình ảnh cá nhân của bà L. Do đó, bà không yêu cầu Tòa án trưng
cầu giám định giọng nói thể hiện tại USB cung cấp cho Tòa án cũng
không yêu cầu trưng cầu giám định chữ , chữ viết họ tên trong Biên nhận
ngày 19-10-1998 dl.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị D trình bày bổ sung: Sau khi vay tiền, ông Q, bà
D gửi tiền qua đường bưu điện nhờ P trả thay ttháng 12 năm 1998 đến
tháng 5 năm 2005 với số tiền 13.200.000 đồng. Vợ chồng không tranh
chấp với P số tiền này cũng không yêu cầu thu thập chứng cứ tại bưu điện
do thời gian đã lâu. Ngoài ra, không nhớ thời gian nào, ông Q, bà D đã giao
cây nước cho L tương đương với số tiền 13.200.000 đồng nên hai bên không
còn nnần nhau. Quá trình giải quyết vụ án, cung cấp cho Tòa án Bản
xác nhận của những người làm chứng là những người đang sử dụng nguồn nước
sinh hoạt tại chợ B (xã V) những người này biết ông Q, D giao cây nước
cho L quản biết ông Q, D đã lấy lại cây nước khoảng tháng 5 năm
2005 nên không còn ai nợ ai. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn yêu cầu Tòa
án áp dụng thời hiệu. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà D xác định không yêu cầu Tòa
án xem xét về việc áp dụng thời hiệu này.
Người làm chứng bà Ngô Thị P trình bày: Bà không biết chính xác ông Q,
D ợn vàng hay mượn tiền của L; nhưng nghe nói ông Q, D
thiếu tiền của bà L. Không nhớ thời gian nào, ông Q, D đi làm ăn xa gửi
tiền cho để nhờ đem trả giùm cho L mỗi tháng với số tiền 200.000
đồng; bà không nhớ bà đã trả tổng số tiền là bao nhiêu và trả trong thời gian bao
lâu; nhưng nhớ L tự ghi vào sổ của L; không sổ này.
Mỗi lần trả, nói với L “dì út ghi nghen út”; thấy L ghi.
Còn việc bà L ghi như thế nào; ghi có đều đặn hay không thì bà không biết; việc
trả tiền giùm cho ông Q bà D không có ai chứng kiến.
4
Tại phiên tòa, P xác định khi trả tiền thay cho ông Q bà D thì bà với
L không lập giấy tờ gì và cũng không có người chứng kiến cho việc trả tiền này.
Người làm chứng Nguyễn Thị Thúy A trình bày: Do ba mẹ của
ông Q, bà D đã trả tiền cho bà Phạm Thị L xong nhưng bà L còn kiện ba mẹ của
nên vào ngày 12/11/2024, đến nhà của bà L dùng điện thoại để
ghi hình nhằm hỏi ba mẹ của thiếu tiền hay vàng thì L nói thiếu
tiền. Việc ghi hình chưa được sđồng ý của bà L nên bà ba mẹ của đều
không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định giọng nói trong USB cung
cấp cho Tòa án.
Tại Bản án dân sự thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 m 2025
của Toà án nhân dân khu vực – An Giang:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 2 Điều 92; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều
280 ; Điều 357; Điều 463, 466, 468 ; điểm đ khoản 1 Điều 12 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị L.
Buộc bị đơn là ông Nguyễn Ngọc QLê Thị Thúy D phải có nghĩa vụ liên đới
trả lại cho Phạm Thị L 44 (bốn mươi bốn) chỉ vàng 24kara (loại vàng 9999).
(Giá bán ra của tiệm vàng tại địa phương tại thời điểm xét xử vụ án
10.930.000 đồng/01 chỉ (Mười triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng/01 chỉ).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phạm Thị L thuộc trường hợp người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn tiền
tạm ứng án phí, án phí ngày 29/7/2024 nên bà L được miễn án phí.
- Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q, Thị Thúy D phải chịu án phí đối với
nghĩa vụ trả nợ 23.237.000 đồng (Hai mươi ba triệu hai trăm ba mươi bảy
nghìn đồng). Tuy nhiên ông Q bà D thuộc trường hợp người cao tuổi, có yêu cầu
miễn tiền tạm ứng án phí, án phí nên được HĐXX miễn án phí.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 07 tháng 9 năm 2025 bị đơn ông Nguyễn
Ngọc Q Thị Thúy D đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ nội
dung bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã tạm
ngừng phiên tòa để tiến hành cho đối chất giữa nguyên đơn Phạm Thị L, bị
đơn bà Lê Thị Thúy D với người làm chứng bà Ngô Thị P.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,
5
Lại Thị Ánh N người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bởi , mỗi tháng P trả thay cho D
200.000 đồng tiền gửi về bưu điện và 200.000 đồng bà P thu được từ cây nước,
tổng cộng mỗi tháng trả 400.000 đồng, từ năm 1999 đến năm 2005 đã trả được
28.800.000 đồng, tương đương số tiền đã vay. Còn việc L cho rằng đến nay
mới khởi kiện đòi nợ là do không gặp được D không căn cứ, năm
2004 D đã trở về địa phương nhà mẹ của D chỉ cách nhà L khoảng
500m. Và cũng trong thời gian này, năm 2006 D đã sinh con tên Nguyễn Thị
Thúy H đồng thời năm 2006 vợ chồng bà D cũng đã xây dựng nhà kiên cố. Cho
nên việc bà L cho rằng không gặp mặt để 26 năm sau mới khởi kiện là hoàn toàn
phi lý. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm,
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn Thị Thúy D trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Nguyễn Thành T người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn bà Phạm Thị L trình bày ý kiến: Về tố tụng, không có ý kiến. Về nội
dung, các bên xác lập hợp đồng vay tên. Quá trình xét hỏi tại phiên tòa
hôm nay, bđơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã trả tiền đồng
thời số tiền vay và trả phía bị đơn trình bày cũng không chính xác. Do đó, đ
nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đặng Ngọc M người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến: Tại giai
đoạn phúc thẩm những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân stuân thủ đúng pháp luật trong
quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các
quy định về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, thành phần
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Không chấp nhận kháng
cáo của bđơn ông Nguyễn Ngọc Q, bà Thị Thúy D. Sửa Bản án dân sự
thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu
vực – An Giang về việc bên vay không phải chịu lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả
nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
6
[1.1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc Q, bà
Thị Thúy D kháng cáo trong hạn luật định nộp tạm ứng án phí đầy đnên
được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[1.2] Về thủ tục ủy quyền:
Nguyên đơn Phạm Thị L ủy quyền cho Đặng Ngọc M theo Giấy ủy
quyền ngày 29/7/2024 do Phòng C chứng nhận schứng thực 755, Quyển số
01/2024-SCT/CK, ĐC.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q, Thị Thúy D ủy quyền cho Lại Thị
Ánh N theo Hợp đồng ủy quyền ngày 20/4/2026 do Phòng C1 chứng nhận số
công chứng 2304/2026/CCGD.
Hội đồng xét xử xét thấy các thủ tục ủy quyền trên phù hợp với quy định
tại khoản 4 Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, xét thấy:
[2.1] Nguyên đơn Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn
Ngọc Q Thị Thúy D nghĩa vụ trả 04 cây 04 chỉ vàng 24kara (loại
vàng 9999) theo Biên nhận lập ngày 19/10/1998 dl và không yêu cầu tính lãi.
[2.2] Về phía bị đơn cho rằng chỉ vay s tiền 13.200.000 đồng bị
nguyên đơn ép buộc ghi nội dung mượn 04 cây 04 chỉ vàng 24kara nhưng bị đơn
D lại thừa nhận nội dung trong biên nhận ngày 19/10/1998 dl chính do bà
viết và chữ ký, chữ viết họ tên trong biên nhận là của vợ chồng bà. Tuy nhiên, bị
đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh cũng không yêu cầu trưng
cầu giám định chữ ký, chữ viết họ tên nên không sở xác định Biên nhận
lập ngày 19/10/1998 dl là do bị ép buộc viết và ký tên.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn cho rằng hằng tháng, từ
năm 1999 đến năm 2005 đã gửi 200.000 đồng cho P qua đường bưu điện
cộng với số tiền 200.000 đồng thu từ cây nước để bà P mang đến trả cho nguyên
đơn thay bị đơn, tổng cộng đã trả được 28.800.000 đồng; lời trình bày này có sự
mâu thuẫn, khác với những bị đơn, P đã trình bày tại giai đoạn thẩm.
Tuy nhiên, ngoài lời trình bày này, bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ
chứng minh có sự việc giao trả số tiền 28.800.000 đồng cho bà L cũng không
được bà L chấp nhận. Do đó, không có cơ sở xem xét.
[2.4] Đối với việc bị đơn giao cây nước cho nguyên đơn được ghi trong
Biên nhận ngày 19/10/1998 dl. Theo Biên bản đối chất ngày 09/6/2026 của Tòa
án nhân dân tỉnh An Giang, cả nguyên đơn L, bị đơn D người làm
chứng P đều thống nhất không việc nguyên đơn nhận cây nước cây
nước này vẫn do bị đơn quản lý, sử dụng người trực tiếp thu tiền những
người sử dụng nước hằng tháng P nên cấp thẩm không xem xét là
căn cứ.
[2.5] Do đó, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q và bà Thị Thúy D cùng có nghĩa vụ liên đới
trả lại cho bà Phạm Thị L 44 chỉ vàng 24kara (vàng 9999) là có căn cứ.
7
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn ông Nguyễn
Ngọc Q Thị Thúy D kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không sở xem xét chấp
nhận.
[4] Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm lại quy đổi vàng thành tiền theo giá trị tại
thời điểm xét xử thẩm trong khi các đương sự thuộc trường hợp được miễn,
không phải chịu án phí dân sự - điều này là không cần thiết. Ngoài ra, tại mục 31
Phần II của Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân
dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc
trong công tác xét xử đã hướng dẫn “…Trong trường hợp Tòa án quyết định bên
vay trả lại vàng cho bên cho vay thì không quyết định bên vay phải chịu lãi
chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ…”. Do cấp thẩm quyết định tuyên buộc bị
đơn phải chịu lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ “…. Kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự năm 2015….” không chính xác, cấp phúc thẩm cần điều
chỉnh lại như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5] Về án phí dân sự thẩm, dân sự phúc thẩm: Do bà Phạm Thị L, ông
Nguyễn Ngọc Q và bà Thị Thúy D đều là người cao tuổi, có đơn yêu cầu nên
thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm, dân sự
phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban
thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q
Thị Thúy D.
Sửa Bản án dân sự thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực An Giang về tính lãi chậm trả.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều
463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị L.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q, Thị Thúy D phải nghĩa vụ liên đới
trả lại cho bà Phạm Thị L 44 (bốn mươi bốn) chỉ vàng 24kara (loại vàng 9999).
2. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc Q, Thị Thúy D người cao tuổi
thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
8
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,
Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện
theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
- Phòng Thi hành án DS khu vực-An Giang;
- Tòa án nhân dân khu vực-An Giang;
- Phòng KTNV & THA;
- Đương sự “Để thi hành”;
- Văn phòng; Tòa Dân sự, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất