Bản án số 15/2026/KDTM-PT ngày 17/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 15/2026/KDTM-PT ngày 17/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 15/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 15/2026/KDTM-PT Bản án số 15/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/KDTM-PT Bản án số 15/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 15/2026/KDTM-PT
Ngày 17-6-2026
V/v: “Tranh chp hợp đồng
mua bán hàng hóa”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh
Các Thẩm phán: Ông Dư Thành Trung và bà Nguyễn Thị Bích Thảo.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Dương
Phúc Trường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồngtiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số:
08/2026/TLPT-KDTM ngày 17 tháng 03 m 2026, về việc: “Tranh chp hợp đồng
mua bán hàng hóa”.
Do bản án dân sự thẩm số: 01/2026/KDTM-ST ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 7 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 402/2026/QĐ-PT ngày
17/05/2026, giữa:
- Nguyên đơn: Thị L Chủ hộ kinh doanh, sinh năm 1958; địa chỉ:
Thôn Q, xã K, tỉnh Lâm Đồng có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH N; địa chỉ: Thôn C, xã N, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông T chức vụ: Giám đốc có đơn xin xét
xử vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thị X; địa chỉ: Thôn C,
N, tỉnh Lâm Đồng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07-10-2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Võ Thị L - Chủ hộ kinh doanh trình bày:
Thị L là chủ hkinh doanh Võ Thị L, hoạt động trong lĩnh vực thu mua nông
sản. Trong các mùa vụ năm 2018-2019, bà thu mua cà phê và tiêu đen xô trong dân
rồi gửi tại kho của Công ty TNHH N (sau đây gọi tắt Công ty N) nhận phiếu
gửi kho. Người trực tiếp giao dịch với bà Lê Thị X, vợ ông Lê Thế T1Giám
đốc Công ty N. Các bên thỏa thuận khi nào chốt bán thì tính theo giá thị trường
tại thời điểm chốt bán. Sau khi gửi hàng, nhiều lần ứng tiền của Công ty N với
tổng số tiền tương đương khoảng 70% giá trị hàng hóa đã gửi để có vốn tiếp tục thu
mua nông sản và chịu lãi suất từ 0,8% đến 1%/tháng.
Đến năm 2021, bà chốt bán số tiêu đã gửi. Sau khi đối chiếu, tính toán số tiền
đã ứng thì xác định còn lại khoảng 5.000 kg tiêu đen nhân xô. X đã thanh toán
cho bà số tiền 1.000.000 đồng đối với phần tiêu lẻ còn lại; đối với 5.000 kg tiêu đen
nhân xô thì ngày 16-3-2021 các bên lập hợp đồng gửi kho, xác nhận bà ký gửi 5.000
kg tiêu đen mùa vụ 2018-2019 tại kho của Công ty N, quy cách, phẩm chất
theo nội dung hợp đồng.
Sau khi hợp đồng gửi kho, bà đã nhiều lần yêu cầu chốt bán số tiêu nêu
trên vào các ngày 31-12-2021, 30-3-2022, 26-6-2022 và 19-12-2023 nhưng bà X
Công ty N đều cho rằng không có tiền thanh toán và xin gia hạn nên các bên không
thực hiện được việc chốt bán. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty N, ông
Lê Thế T1Thị X liên đới trả lại cho bà 5.000 kg tiêu đen xô theo đúng quy
cách, phẩm chất đã ghi nhận trong hợp đồng gửi kho ngày 16-3-2021.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty
TNHH N là ông Lê Thế T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị X
cùng trình bày:
Trong các năm 2017, 2018 2019, L nhiều lần hợp đồng gửi kho để
gửi tiêu tại kho của Công ty N. Sau khi ký hợp đồng, bà L được ứng trước số tiền
tương đương khoảng 70% giá trị hàng hóa gửi kho với lãi suất khoảng 0,8%/tháng.
Khi bà L chốt bán thì các bên sẽ tính toán giá trị hàng hóa đã gửi, đối trừ với số tiền
đã ứng và tiền lãi; nếu còn dư thì Công ty N thanh toán cho bà L, nếu thiếu thì bà L
phải nộp thêm tiền để tiếp tục gửi giữ hàng hóa trong kho.
Theo ông T1 X, khi giá tiêu giảm xuống khoảng 34.000 đồng/kg thì việc
đối trừ công nợ làm phát sinh số tiền âm nên Công ty N yêu cầu bà L nộp thêm tiền
để tiếp tục giữ hàng nhưng L không thực hiện, dẫn đến Công ty N gặp khó khăn
và thua lỗ. Đến ngày 16-3-2021, khi giá tiêu tăng lên khoảng 70.000 đồng/kg, L
yêu cầu chốt bán số tiêu còn gửi nhưng Công ty N không khnăng thanh toán
nên các bên thống nhất lập hợp đồng gửi kho ngày 16-3-2021 đối với 5.000 kg tiêu
đen xô còn lại.
Ông T1 và bà X thừa nhận sau khi ký hợp đồng gửi kho ngày 16-3-2021, bà L
nhiều lần yêu cầu chốt bán số tiêu nêu trên nhưng Công ty N không tiền thanh
toán nên xin gia hạn. Nay L khởi kiện yêu cầu trả lại 5.000 kg tiêu đen thì
Công ty N chỉ đồng ý thanh toán số tiền 250.000.000 đồng, tương ứng giá trị 5.000
kg tiêu tính theo đơn giá 50.000 đồng/kg; trường hợp bà L không đồng ý thì đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu buộc ông Thế T1 Thị X liên đới thực hiện nghĩa
vụ cùng Công ty N, ông T1 X không đồng ý cho rằng giao dịch được xác
lập giữa L ng ty N pháp nhân độc lập, không phải giao dịch với cá nhân
ông T1 và bà X.
Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 01/2026/KDTM-ST ngày 21-
01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh m Đồng đã căn cứ các quy định
của pháp luật, tuyên xử:
1. Chp nhận một phần yêu cầu khi kin của Thị L - Chủ hộ kinh doanh:
Buộc Công ty TNHH N phải thanh toán cho Thị L - Chủ hộ kinh doanh số
tiền tương đương với giá trị 5.000kg tiêu đen theo giá thị trường tại thời điểm
ngày 31-12-2021 81.000đ/kg (tám mươi mốt nghìn đồng trên một gam),
thành tiền 405.000.000đ (bốn trăm l năm triu đồng).
2. Không chp nhận một phần yêu cầu khi kin của Thị L - Chủ hộ kinh
doanh về vic buộc Công ty TNHH N và ông Lê Thế T1, bà Lê Thị X phải liên đới
trả lại cho bà Võ Thị L - Chủ hộ kinh doanh 5.000kg tiêu đen xô.
Ngoài ra, Tòa án cp thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí
và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 09/02/2026 nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn
Thị X phải liên đới trả lại cho Thị L - Chủ hộ kinh doanh 5.000kg
tiêu đen xô. Trường hợp, Tòa án xác định đã chốt bán vào ngày 31/12/2021 thì buộc
bị đơn Thị X phải trả lãi chậm trả tiền từ ngày 31/12/2021 đến nay theo
quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi kháng cáo chỉ yêu cầu bị đơn
phải trả lãi chậm trả đối với số tiền 400.500.000 đồng kể từ ngày 31/12/2021 đến
ngày xét xử sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến:
Về thtục tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả
tranh tụng tại phiên a, đề nghị Hội đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ
thẩm số: 01/2026/KDTM-ST ngày 21-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn kháng cáo và đã nộp
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo,
chỉ yêu cầu bị đơn trả lãi chậm trả đối với số tiền 400.500.000 đồng tương ứng với
thời gian chậm trả kể từ ngày 31/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm theo quy định tại
Điều 357 Bộ luật Dân sự. Xét thấy, việc thay đổi nội dung kháng cáo của người
kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu
phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 284 Bộ luật tụng dân sự nên được chấp
nhận. Do vậy, trong phạm vi xét xử phúc thẩm HĐXX chỉ xem xét lại bản án
thẩm theo nội dung kháng cáo đã thay đổi nêu trên quy định tại Điều 293 Bộ luật
tụng dân sự.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:
[2.1]. Nguyên đơn căn cứ “hợp đồng gửi kho” ngày 16-3-2021 khởi kiện yêu
cầu bị đơn phải nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn 5.000 kg tiêu khô đã gửi. Mặc dù
về mặt hình thức đề “hợp đồng gửi kho”. Tuy nhiên về nội dung của hợp đồng thể
hiện rõ số lượng, chất lượng hàng hóa, chủ sở hữu tài sản đã giao tài sản, thực tế bên
nhận tài sản đã định đoạt số tài sản đã nhận theo thỏa thuận bên nhận hàng sẽ
thanh toán tiền cho bên giao hàng ngay sau khi bên giao hàng chốt giá bán. Như vậy,
căn cứ vào chủ thể tham gia giao kết hợp đồng thì việc thỏa thuận giữa các bên đã
thỏa mãn các nội dung đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định
tại Điều 25 Luật Thương mại năm 2005. Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định
quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng mua bán tiêu (hàng hóa” căn cứ,
đúng quy định pháp luật.
[2.2]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn thì thấy: Nguyên đơn cho rằng
hợp đồng gửi kho ngày 16-3-2021 là hợp đồng gửi giữ tài sản nên khởi kiện yêu cầu
bị đơn trả lại 5.000 kg tiêu khô. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định
pháp luật tập quán ng đã xác định hợp đồng đề ngày 16-3-2021 hợp đồng
mua bán hàng hóa nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
buộc bị đơn phải trả lại 5.000 kg như nhận định và quyết định của bản án sơ thẩm là
đúng.
Trong vụ án này, nếu không chứng cứ chứng minh nguyên đơn đã chốt bán
thì theo quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ quyết định buộc bị đơn phải nghĩa
vụ thanh toán cho nguyên đơn theo giá tiêu trên thị trường tại thời điểm phát sinh
tranh chấp. Do cấp thẩm căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ vụ
án xác định nguyên đơn đã chốt bán toàn bộ 5.000 kg tiêu vào ngày 31/12/2021 nên
đã buộc bị đơn phải nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn 400.500.000 đồng tương
ứng với số lượng 5.000 kg tiêu khô căn cứ. Tuy nhiên cấp thẩm không áp
dụng Điều 357 Bộ luật sự để buộc bị đơn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của
nguyên đơn. Bởi, như nhận định tại mục [2.2], nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn
trả 5.000 kg tiêu khô, không khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền theo giá
chốt bán ngày 31/12/2021. Do vậy, khi cấp thẩm căn cứ xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp “hợp đồng mua bán tiêu” và xác định thời điểm đã chốt bán mà đến
nay bên nghĩa vụ chưa thanh toán thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật sự mới đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, đồng thời giải quyết toàn diện vụ án.
Tòa án chỉ giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn khi
nguyên đơn chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền cụ thể các bên đã
thống nhất chốt giá bán.
[2.3]. Từ những nhận định, phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn, Sửa một phần Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm s
01/2026/KDTM-ST ngày 21-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng
theo hướng buộc bị đơn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian
chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật sự, cụ thể: 400.500.000
đồng x 0,83%/tháng x 48 tháng 20 ngày (từ ngày 01-01-2022 đến ngày xét xử
thẩm – ngày 21-01-2026) = 161.886.105 đồng.
[3]. Xét quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm là chưa phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4]. Về án phí.
[4.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu bị
đơn trả lãi chậm trả được chấp nhận nên số tiền án phí được xác định lại trên tổng
số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
[4.2]. Về án phí dân sự phúc thẩm:Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận và
sửa một phần bản án thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Chấp nhận kháng cáo của bà Thị L - Chủ hộ kinh doanh. Sửa một phần Bản
án Kinh doanh thương mại thẩm số 01/2026/KDTM-ST ngày 21-01-2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng.
Áp dụng Điều 144, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng d sự; Điều 25, Điu
34, Điều 50, Điều 55 Điều 62 Luật mại 2005; Điều 357, khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Thị L - Chủ hộ kinh doanh.
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L - Chủ hộ kinh doanh
về việc buộc Công ty TNHH N, ông Lê Thế T1 Thị X phải liên đới trả lại
cho bà Võ Thị L - Chủ hộ kinh doanh 5.000kg tiêu đen xô.
1.2. Buộc Công ty TNHH N phải nghĩa vụ thanh toán cho Võ Thị L - Chủ
hộ kinh doanh số tiền 562.386.105 đồng (Năm trăm sáu mươi hai triu ba trăm tám
mươi sáu nghìn một trăm lẻ năm đồng), trong đó: 400.500.000 đồng tiền nợ gốc và
161.886.105 đồng tiền lãi chậm trả.
Khi bản án có hiu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi nh án có đơn yêu
cầu thi hành án thì ng tháng người phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi
đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều
357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Buộc Công ty TNHH N phải chịu 26.496.000 đồng (Hai mươi sáu triu
bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
2.2. Trả lại cho Thị L - Chủ hộ kinh doanh số tiền 8.750.000đ (tám
triu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí thẩm đã nộp theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003018 ngày 14-10-2024 tại Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 7 - Lâm Đồng).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Thị L - Chủ hộ kinh doanh không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho Thị L - Chủ hộ kinh doanh 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
số 0003161 ngày 02 tháng 3 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ III);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 7- Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 7 Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên, đóng dấu)
Nguyễn Anh Ửng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 15/2026/KDTM-PT Bản án số 15/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/KDTM-PT Bản án số 15/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất