Bản án số 86/2026/DS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 86/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 86/2026/DS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 86/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 46/2026/TLPT-DS ngày 24/4/2026 về “Kiện đòi tài sản”. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Hồng S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 86/2026/DS-PT Bản án số 86/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 86/2026/DS-PT Bản án số 86/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 86/2026/DS - PT
Ngày: 22 tháng 6 năm 2026
V/v Kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Truyền.
Ông Hoàng Anh Tuấn.
- Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Lao Thị Hồng Hoài - Thư
Toà án nhân dân tỉnh Thái nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa:
Ông Nông Văn Đổi - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 46/2026/TLPT-DS ngày
24/4/2026 về “Kiện đòi tài sản”. Do Bản án dân sự thẩm số 07/2026/DSST
ngày 20/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 80/2026/QĐ-PT ngày 01
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1976; Địa chỉ: xóm A,
A, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
2. Bị đơn: Trần Thị V, sinh năm 1966; Địa chỉ: xóm G, xã Đ, tỉnh Thái
Nguyên. (Có mặt)
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm
1983; Địa chỉ: xóm G, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
* Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyn Hng S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Hồng S
trình bày: Khoảng tháng 6 năm 2021, anh có bán một bãi cây keo tại xóm G, xã
L (nay Đ, tỉnh Thái Nguyên). Bãi keo này gần nhà bà Trần Thị V. Khi anh
dẫn thợ mua cây trên bãi mặc cả với thợ mua cây giá 6.500.000 đồng. Sau
khoảng 03 ngày thợ mua cây gọi anh lên nhận tiền đặt cọc. Do thời điểm đó
dịch covid nên anh không lên nhận tiền đặt cọc và bảo thợ mua cây đưa cho bà V
là mẹ vợ của anh số tiền đặt cọc là 1.000.000 đồng. Sau đó bà V đã đưa cho anh
2
1.000.000 đồng đặt cọc đó. Đến khoảng tháng 6 – tháng 7 năm 2021, thợ mua cây
đến cắt và gọi anh lên nhận nốt số tiền 5.500.000 đồng. Do lúc đó vẫn còn dịch
covid nên việc đi lại bị hạn chế nên anh bảo thợ mua cây đưa số tiền 5.500.000
đồng cho V để V chuyển lại số tiền đó cho anh thợ mua cây đã chuyển
cho bà V số tiền 5.500.000 đồng. Một thời gian sau, anh không thấy bà V chuyển
tiền cho anh nên anh gọi điện cho V bảo V chuyển tiền thì V trả lời Ngày
trước cái T còn với y, hai đứa vay vàng của X. Khi chúng mày không
được với nhau mày bắt trả không tiền, vay của tao giờ tao trừ đi”.
Nay anh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc V phải trả anh số tiền
5.500.000 đồng.
Tại bản tự khai, quá trình tố tụng bị đơn bà Trần Thị V trình bày: Chị gái
bà là Trần Thị K có bãi đất, lúc đó anh S là con rể của muốn mua lại bãi đất
của chị gái đtrồng cây. Chị gái đã bán với giá 5.000.000 đồng thì anh S
không đồng ý mua với giá 5.000.000 đồng. Sau đó thì chị gái không bán cho
anh S. Hai tháng sau, con gái bà (vợ anh S) lại lên hỏi chị gái để mua bãi đất
đó, sau khi mua bãi đất đó xong, anh S trồng cây trên bãi đất đã mua lại của
chị gái bà. Bãi đất của anh S thì gần bãi đất của nhà bà, khi nhà bà bán thì bà có
hỏi anh S cũng đồng ý bán. Anh S đã gọi người mua cây đưa cầm hộ stiền
5.000.000 đồng. Mấy hôm sau chị T (con gái của khi đó vợ anh S) lên hỏi
thì bà đã trả cho chị T. Đầu năm 2019, anh S và chị T không ở được với nhau và
ly hôn ttại buổi làm việc cuối cùng anh S hỏi đã đưa tiền bán cây
5.000.000 đồng cho chị T chưa?” bà trả lời đã trả rồi” thì anh S có trả lời trước
Tòa trả rồi thì không cần tính đến nữa”. Đến nay anh S yêu cầu trả số tiền:
5.500.000 đồng, bà không nhất trí.
Tại bản án dân sự thẩm số 07/2026/DSST ngày 20/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Thái Nguyên đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 92; các Điều 227, 266, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân
sự 2015; Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn
Hồng S đối với bị đơn bà Trần Thị V về việc buộc bà Trần Thị V phải trả số tiền:
5.500.000 đồng.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về án phí thẩm quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 03/4/2026, nguyên đơn anh Nguyễn Hồng S đơn kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm, đnghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm, chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
3
Nguyên đơn anh Nguyễn Hồng S thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Bị đơn bà Trần Thị V khẳng định việc anh S (con rể bà) nhờ cầm hộ
số tiền 5.000.000 đồng tiền bán cây keo của người mua keo trả. Sau đó anh S yêu
cầu trả cả lãi 5.500.000 đồng. đã điện cho anh S lên lấy nhưng anh S bảo v
là chị T lên lấy, bà đã đưa trả số tiền trên cho chị T vào tháng 3/2019.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn ThT: Xác nhận lời trình
bày của V đúng. Thời điểm năm 2019, chị anh S bán cây keo thì chị
anh S vẫn là vợ chồng hợp pháp, việc bà V đưa trả thực tế số tiền 5.000.000 đồng
bán cây keo cho chị thì anh S cũng biết. Đến cuối năm 2021 thì vợ chồng chị mới
được Toà án giải quyết cho ly hôn, khi đó tại Toà anh S cũng đã nói đến số tiền
đó thì mẹ chị là bà V cũng đã trình bày là đã đưa số tiền đó cho chị thì anh S nói
đã đưa rồi thì thôi không yêu cầu chia nữa. Số tiền đó chị đã s dụng hết để chi
tiêu cho sinh hoạt gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến có quan
điểm như sau:
- V s tuân theo pháp luật: Những người tiến hành tố tụng, những người
tham gia tố tụng t khi th lý v án cho đến trước khi ngh án đã thc hiện đúng
các quy định ca B lut t tng dân s;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và quan điểm của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà, Hội đồng xét
xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Hồng S đảm bảo về hình
thức, trong hạn luật định, nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm
ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Chị Nguyễn Thị T người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong ván.
Việc Tòa án cấp thẩm không đưa chị T tham gia tố tụng thiếu sót. Tuy nhiên,
tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi được Hội đồng xét xử giải thích quyền và nghĩa
vụ tố tụng, chị T không có ý kiến, yêu cầu gì và nhất trí tham gia tố tụng. Do đó,
Hội đồng xét xử quyết định đưa chị Nguyễn Thị T tham gia tố tụng với cách
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[3]. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, anh
S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Trần Thị V trả số tiền 5.500.000 đồng
tiền bán cây keo thuộc quyền sở hữu của anh. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh S
4
thay đổi nội dung kháng cáo t yêu cầu hủy bản án sơ thẩm sang yêu cầu sửa bản
án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc thay
đổi nội dung kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Hồng S về việc đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
[4]. Tại bản tự khai, biên bản đối chất ngày 14/11/2023, biên bản đối chất
ngày 27/01/2026 tại phiên tòa thẩm, bị đơn bà Trần Thị V đều tha nhận
nhận cầm giữ số tiền 5.500.000 đồng là tiền bán cây keo của anh S do người
mua cây giao. Đây là tình tiết, sự kiện được đương sự tha nhận nên theo khoản
2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không phải chứng minh. Căn cứ các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác
định V đã nhận số tiền 5.500.000 đồng thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn
Hồng S.
[5]. Về nguồn gốc, bản chất của số tiền bán cây keo 5.500.000 đồng, Hội
đồng xét xử thấy theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diện tích đất trồng keo là
do vợ chồng anh S, chị T nhận chuyển nhượng số cây keo được trồng, khai
thác trong thời kỳ hôn nhân của anh S chị T. Do đó, khoản tiền thu được t
việc bán cây keo tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản do vợ chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh thu nhập hợp pháp
khác trong thời kỳ hôn nhân tài sản chung của vợ chồng. vậy, số tiền
5.500.000 đồng thu được t việc bán cây keo được xác định là tài sản chung của
vợ chồng anh S và chT.
[6]. Xem xét nghĩa vụ hoàn trả số tiền của bị đơn, quá trình giải quyết vụ án
và tại phiên toà phúc thẩm bà Trần Thị V chị Nguyễn Thị T đều tha nhận sau
khi nhận tiền t người mua cây, bà V đã giao lại số tiền 5.500.000 đồng cho chị
T. Việc giao nhận tiền được thực hiện vào thời điểm chị T anh S vẫn đang
vợ chồng hợp pháp. Theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân gia đình năm
2014, vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc
tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; đồng thời khoản 2 Điều 35
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Do đó, việc bà V giao số tiền nêu trên cho
chị T là một trong hai chủ sở hữu đối với khối tài sản chung của vợ chồng là phù
hợp với quy định của pháp luật.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu
chỉ quyền đòi lại tài sản t người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc người được
lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Trong vụ án này, các tài liệu, chứng cứ
đã thu thập không chứng minh được bà V hiện đang quản lý, chiếm hữu hoặc sử
dụng số tiền 5.500.000 đồng. Ngược lại, căn cứ xác định V đã giao lại số
5
tiền trên cho chị T t thời điểm quan hệ hôn nhân giữa chị T anh S vẫn đang
tồn tại hợp pháp. Do đó, bà V không phải người đang chiếm hữu tài sản
không phải người nghĩa vhoàn trả số tiền 5.500.000 đồng theo yêu cầu
khởi kiện của anh S.
[7]. Trường hợp anh S cho rằng khoản tiền bán cây keo là tài sản chung của
vợ chồng chưa được phân chia hoặc cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình
đối với khoản tiền này bị ảnh hưởng thì anh S quyền khởi kiện bằng một vụ án
khác để yêu cầu giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn
theo quy định tại các Điều 33, 59 và Điều 62 Luật Hôn nhân gia đình năm
2014. Đây quan hệ pháp luật khác, không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án
đòi tài sản đối với bà Trần Thị V.
[8]. T những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu khởi kiện
của anh S là không có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của anh S căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm,
anh S không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án.
Vì vậy, kháng cáo của anh S không có căn cứ cần bác kháng cáo, giữ nguyên bản
án dân sự thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 20/3/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Thái Nguyên. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy phần nhận định của bản
án sơ thẩm viết sơ sài, không có căn cứ pháp lý, nguyên đơn khởi kiện đòi lại số
tiền bán cây keo do bị đơn nhận hộ t thợ mua cây nhưng tòa án cấp sơ thẩm lại
nhận định số tiền vay không đúng, tòa án cấp sơ thẩm nhận định nguyên đơn
không đưa ra được chứng cứ chứng minh vviệc bị đơn nợ stiền không
căn cứ. Với những sai sót trên, Tòa án cấp thẩm cần nghiêm túc rút kinh
nghiệm.
[9]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên
tòa là có căn cứ chấp nhận.
[10]. Về án phí: Căn cứ Điều 148 Bộ luật tố tụng n sự, do Hội đồng xét xử
giữ nguyên bản án thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Tuy nhiên anh S thuộc trường hợp được miễn án pdân sự phúc thẩm theo
quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 33, khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ điểm đ khoản
1 Điều 12; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Hồng S, gi
nguyên bản án thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 20/3/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Thái Nguyên.
6
2. Về án phí: Anh Nguyễn Hồng S được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 6- Thái Nguyên;
- Phòng THADS Khu vực 6- Thái
Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 86/2026/DS-PT Bản án số 86/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 86/2026/DS-PT Bản án số 86/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất