Bản án số 50/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 50/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 50/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 50/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 50/2026/DS-PT Bản án số 50/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2026/DS-PT Bản án số 50/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 50/2026/DS-PT
Ngày 18/6/2026
V/v: “Tranh chấp kiện đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh.
Các Thẩm phán: Thị Dung (Tòa Gia đình NCTN), ông Mai Nam
Tiến.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Mai Hồng Minh - Thư ký TAND
tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hxét xử
theo trình tự phúc thẩm vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 131/2026/TLPT-DS ngày
05/11/2025 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản”
Do bản án thẩm số 13/2025/DSST ngày 08/9/2025 TAND khu vực 1 -
Thanh Hoá bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số
165/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1974; ĐKHK: S L, phường
H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Số nhà B, đường E, phường H, tỉnh Thanh Hóa
(có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Luật sư Phạm Duy B; Địa chỉ: P, tòa nhà L, số
A Khu Ấ, phường N, phường T, Thành phố Hà Nội (có mặt)
- Bị đơn: ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1976;Trú tại: Lô F MBQH I, phường
P, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật Trần Đại P
Luật Đặng Đình P1, Công ty L2, Đoàn Luật thành phố H. Địa chỉ: P Toà CT3,
KĐT ,M, phường T, Hà Nội (đều có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Đạt C, sinh năm 1979; ĐKHK: Số nhà I L, phường H, tỉnh
Thanh Hóa; Nơi hiện nay: B, đường Đ, phường H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt);
+ Bà Lưu Thị T1, sinh năm 1979; ĐKHK: Số nhà I L, phường H, tỉnh Thanh
Hóa (vắng mặt)
+ Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978; Trú tại: S L, phường H, tỉnh Thanh
Hóa. Nơi ở hiện nay: Số nhà B, đường E, phường H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
+ Phạm Thị Q, sinh năm 1975; Trú tại: F MBQH I, phường H, tỉnh
Thanh Hóa (có mặt).
+ Anh Nguyễn Duy D, sinh năm 2003; Trú tại: F MBQH I, phường H,
tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
Và những người làm chứng mà Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo nguyên đơn anh Nguyễn Trọng H trình bày tại đơn khởi kiện ngày
27 tháng 3 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm:
Khoảng tháng 9 năm 2021, do có nhu cầu mua nhà qua giới thiệu, anh
biết anh Nguyễn Duy T đang muốn bán căn nhà tại địa chỉ: F, MBQH 90/UB-
CN, phường Đ, thành phố T nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa. Tại buổi gặp, anh T
giới thiệu là chủ căn nhà, hiện tại đang cho người em là Hoàng Đạt C đứng tên hộ
anh vay vốn tại ngân hàng để kinh doanh. Anh T anh H đã thống nhất giá chuyển
nhượng căn nhà và đất 3.200.000.000 đồng hẹn nhau tại Văn phòng C3 để
thực hiện việc mua bán.
Ngày 29/10/2021, vợ chồng anh H gặp vợ chồng anh T và vợ chồng anh
Hoàng Đạt C tại văn phòng C3 để thực hiện thủ tục chuyển nhượng. Lúc này, anh
T nói nhà đất tại F, MBQH 90/UB-CN, phường Đ đã bán cho anh C, do không
có nhà ở nên anh C cho gia đình anh T mượn 01 năm, có hợp đồng mượn nhà. Hết
thời hạn mượn nnhưng anh T không trả lại nhà cho anh C. Biết được sự việc trên
nên anh H yêu cầu anh T anh C thống nhất cách thức chuyển nhượng thanh
toán trước. Sau khi trao đổi thì các bên thống nhất anh H sẽ trả số tiền vay cho anh
C tại Ngân hàng A chi nhánh T7 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) để giải chấp tài
sản là nhà ở và đất tại lô F, MBQH 90/UB-CN, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh
Hóa và đưa trực tiếp cho anh T số tiền 1.200.000.000 đồng tiền mặt là tiền chuyển
nhượng nhà đất (có giấy biên nhận). Anh H đồng ý cho anh T thêm 03-05
tháng để anh T tìm nơi ở mới, nếu tháng 11 năm 2021 anh T chuyển chỗ ở trả nhà
thì anh H sẽ hỗ trợ thêm cho anh T 500.000.000 đồng anh T cũng thống nhất với
phương án nêu trên.
Sau khi nhận được tiền của anh H, anh T đã khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh
Thanh Hóa tuyên bố: giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất ngày 22/11/2019, số công chứng 2437, quyển số 5 của
Văn phòng C4 giữa anh C anh T hiệu do giả tạo nhằm che dấu giao dịch
khác; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT650131 do UBND thành phố
T cấp ngày 23/12/2019 cho anh Hoàng Đạt C khôi phục lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền shữu nhà tài sản gắn liền với đất do UBND thành
phố T cấp ngày 06/3/2018 cho anh T.
Vụ án mà anh T khởi kiện đã được TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử thẩm
TAND Cấp cao tại Nội xét xử phúc thẩm, kết quả không chấp nhận u
cầu của anh T.
Sau khi vụ án anh T khởi kiện đã có hiệu lực pháp luật, ngày 27/02/2024 anh
H đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CT 650131.
Anh H đã nhiều lần yêu cầu anh T trả lại nhà đất nhưng anh T chây ì không trả nên
anh khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 1- Thanh Hóa) căn cứ Điều 496 và Điều 499 để buộc:
1. Anh Nguyễn Duy T phải dọn đồ trả lại nhà đất cho mượn tại địa chỉ: Lô
06 MB, MBQH 90/UB-CN, phường Đ, thành phố T (nay là phường H), tỉnh Thanh
Hóa cho gia đình anh H.
2. Yêu cầu anh Nguyễn Duy T phải bồi thường khoản tiền thiệt hại về tiền
cho thuê tài sản là 8.000.000 đồng, ktngày tháng 03/2024 đến ngày anh T trả lại
tài sản cho gia đình anh. Trường hợp trong thời gian chậm trả tài sản, nếu xảy ra
thiệt hại thì anh T phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.
2. Bị đơn là anh Nguyễn Duy T trình bày tại các bản tự khai, trong quá trình
tố tụng và tại phiên toà:
Bản án sơ thẩm số 24/2022/DS-ST ngày 21/7/2022 của TAND tỉnh Thanh
Hóa Bản án số 263/2023 ngày 22/5/2023 của TAND cấp cao tại Nội đều
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh, do đó hiện anh đang khiếu nại theo
trình tự Giám đốc thẩm đã được Viện kiểm sát nhân dân Tối cao xem xét, giải quyết.
Anh cho rằng yêu cầu khởi kiện của anh không được hai cấp xem xét, giải quyết
đúng pháp luật vì: hợp đồng mua bán giữa anh và anh Hoàng Đạt C là hợp đồng giả
nhằm che giấu một giao dịch dân sự cho vay khác mà anh T không hề biết. Nếu anh
đã bán nđất cho anh C tại sao anh vẫn thường xuyên, liên tục không bàn
giao lại cho anh C hay cho bất kỳ ai. Bản thân anh H cũng nhận thức được việc anh
bản nhà cho anh C chỉ là hợp đồng giả tạo để che dấu giao dịch vay tiền.
Mặt khác, trong quá trình cấp phúc thẩm TAND Cấp cao tại Nội đang giải
quyết đơn kháng cáo của anh t anh C đã chuyển quyền sử dụng đất cho anh
Nguyễn Trọng H để nhanh chóng chấm dứt nghĩa vụ của mình bằng hợp đồng
chuyển nhượng với anh Nguyễn Trọng H. Anh T cho rằng hợp đồng chuyển nhượng
đất giữa anh C và anh H trái pháp luật, vì hiện tại thủ tục giám đốc thẩm của anh
T đang trong quá trình giải quyết và anh T đã có đơn ngăn chặn tất cả các giao dịch
về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03; tờ bản số 67; địa
chỉ thửa đất: 06 MBQH 90/UB-CN, phường Đ, thành phố T gửi chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai thành phố T Văn phòng đăng đất đai - Sở T8 nhưng
không được thực hiện việc ngăn chặn giao dịch với thửa đất đó. Mặt khác, đối với
giao dịch dân sự giữa anh và anh H là việc anh vay mượn tiền của anh H để trả cho
anh Hoàng Đạt C rồi thỏa thuận việc mua bán với anh H sau khi anh lấy được
GCNQSDĐ về, nhưng anh C đã lén lút sang tên quyền sử dụng đất chuyển
nhượng lại cho anh H, chị H1. vậy, anh cho rằng giao dịch chuyển nhượng quyền
giữa anh Hoàng Đạt C anh Nguyễn Ngọc H2 không đúng quy định của pháp
luật, vi phạm nghiêm trọng tại điểm a, mục 1.3 của Hợp đồng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất đã nêu:
Tại thời điểm giao kết hợp đồng này thửa đất và nhà ở không có tranh chấp; không
quyền nghĩa vụ của bên thứ ba nhưng thửa đất trên đang tranh chấp đang
trong quá trình giải quyết của cấp phúc thẩm thì anh C đã chuyển nhượng cho anh
H2 nên anh đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất giữa anh Hoàng Đạt C với anh
Nguyễn Trọng H chị Nguyễn Thị H1 anh không giao dịch chuyển nhượng nhà
đất với anh C, không mượn nhà để ở của anh C cũng như của anh H mà bản chất ở
đây svay mượn tiền bạc của hai bên để rồi các bên cho vay âm thầm biến tướng
thành giao dịch chuyển nhượng với nhau để che giấu giao dịch cho vay.
3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Anh Hoàng Đạt C: Về hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa anh
anh Nguyễn Duy T tại F, MBQH 90/UB-CN, phường Đ, thành phố T, tỉnh
Thanh Hóa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số CL
087912 do UBND thành phố T cấp ngày 06/3/2018, thửa đất số 03, tờ bản đồ số 67,
diện tích là 107,3m
2
đất đô thị được Tòa án có thẩm quyền giải quyết và hiệu lực
pháp luật tại Bản án thẩm số: 24/2022/DS-ST ngày 21/7/2022 của TAND tỉnh
Thanh Hóa Bản án phúc thẩm số 236/2023/DS-PT ngày 22/5/2023 của TAND
cấp cao Hà Nội. Theo quyết định của hai bản án trên đều không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của anh T về việc tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
hiệu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, giao dịch chuyển nhượng
nhà ở, quyền sdụng đất giữa anh và anh C là hoàn toàn hợp pháp, đúng pháp luật.
Sau khi bán nđất cho anh, do anh T không chỗ nên đã xin mượn nhà ch
tìm nơi mới, anh đồng ý hai bên lập hợp đồng cho mượn với thời hạn 01
năm tính tngày 29/12/2019. Tuy nhiên đến hạn thì anh T chây ì không trả khiến
cho anh C phải khởi kiện ra TAND thành phố Thanh Hóa yêu cầu anh T phải trả lại
nhà ở và đất.
Vụ án đang đang được Tòa án thành phố T (nay là Tòa án Khu vực 1- Thanh
Hóa) xem xét thụ giải quyết thì đến đầu tháng 08/2021, anh Nguyễn Hữu G
luật đại diện của anh T liên lạc và trao đổi với anh được mua lại ngôi nhà trên
với giá 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng). Do căn nhà đang được thế chấp tại Ngân hàng
hành vi xâm phạm nhà của anh T nên anh cũng muốn giải quyết nhanh đồng
ý đề nghị của anh G.
Đến khoảng tháng 10 năm 2021, anh G gọi điện giới thiệu anh Nguyễn
Trọng H muốn mua nhà đất trên hẹn nhau để thực hiện thủ tục mua bán. Ngày
29/10/2021, anh anh H thống nhất văn bản thỏa thuận việc mua bán chuyển
nhượng dưới sự chứng kiến của anh G. Theo đó, anh H chuyển trực tiếp cho anh C
số tiền 02 tỷ đồng, cụ thể: 1.950.000.000 đồng 50.000.000 tiền mặt. Anh nghe
anh H nói tổng số tiền mua bán nhà đất và hỗ trợ cho anh T 3.700.000.000 đồng,
cùng ngày 29/10/2021 anh chứng kiến anh H đã giao cho anh T 1.200.000.000 đồng
(một tỷ hai trăm triệu đồng) đồng thời vợ chồng anh H cam kết cho gia đình anh T
tiếp tục mượn nhà và đất để ở.
Sau khi hoàn tất thủ tục giải chấp tài sản, các bên kết Hợp đồng chuyển
nhượng và bàn giao tài sản cho vợ chồng anh H để gia đình anh H thực hiện thủ tục
sang tên, thì anh T lại đơn kiện ra TAND tỉnh Thanh Hóa tuyên bHợp đồng
chuyển nhượng QSD đất ngày 22/11/2019 giữa anh anh T tại Văn phòng C
hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản gắn
liền với đất số CT 650131 do UBND thành phố T cấp cho anh ngày 23/12/2019 và
khôi phục lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gắn liền với
đất mang tên Nguyễn Duy T. Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh T không được Tòa
án hai cấp thẩm và phúc thẩm chấp nhận. Do đó anh C đề nghị Tòa án xem xét
giải quyết chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên.
3.2 Chị Nguyễn Thị H1: Khoảng tháng 9 năm 2021, do nhu cầu cần nhà
gần trường học để thuận lợi cho học tập của con cái nên vợ chồng chtìm kiếm mua
nhà khu vực phường Đ, thành phố T. Qua giới thiệu, gia đình chị được biết anh
Nguyễn Duy T đang muốn bán căn nhà tại địa chỉ: Lô F, MBQH 90/UB-CN, phường
Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Lúc này, mọi công việc mua bán đều do chồng chị
anh Nguyễn Trọng H trực tiếp gặp làm việc với anh Nguyễn Duy T và những
người liên quan. Toàn bộ nội dung sự việc về lập hợp đồng chuyển nhượng
giao tiền chị đều có mặt và như anh H trình bày là đúng.
Xét thấy quyền lợi của gia đình chị đang bị xâm phạm nghiêm trọng, chị đồng
ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chồng anh Nguyễn Trọng H, đề nghị Tòa án
nhân dân thành phố Thanh Hóa (nay Tòa án nhân dân khu vực 1-Thanh Hóa),
tỉnh Thanh Hóa xem xét giải quyết và chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của anh H
để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình chị.
4. Những người làm chứng trình bày:
4.1. Anh Nguyễn Hữu G: Do có quen biết anh Nguyễn Duy T là gần nhà, anh
T có nói với anh là có sổ đỏ nhà đất tại Lô F, MBQH 90/UB-CN, phường Đ, thành
phố T đứng tên anh Nguyễn Duy T đã sang tên cho anh Hoàng Đạt C và anh C đang
thế chấp tại Ngân hàng A, đường P, phường Đ, thành phố T, anh T nói vay mượn
tiền của anh C. Khoảng tháng 10/2021, anh T nhờ anh đi cùng lên Ngân hàng A,
Phan Chu T2, tại Ngân hàng anh chứng kiến thấy anh Nguyễn Trọng H i là người
nhận chuyển nhượng nhà đất tại F, MBQH 90/UB-CN, phường Đ, thành phố T
do anh Hoàng Đạt C đứng tên đang thế chấp Ngân hàng A anh thấy anh H chuyển
tiền để thanh toán nợ gốc và lãi vào ngân hàng do anh Hoàng Đạt C vay để tất toán
rút sổ tại ngân hàng. Sau đó, các bên về Văn phòng C3 để làm thủ tục. Việc thỏa
thuận tiền bao nhiêu là do anh Hoàng Đạt C, anh Nguyễn Trọng H và anh Nguyễn
Duy T trao đổi quyết định, anh Nguyễn Khắc T3 người giới thiệu nhà đất nêu trên
cho anh H. Tại nhà hàng Đ, vợ chồng anh Nguyễn Trọng H đã giao cho anh T tiền
viết giấy với nhau là 1.200.000.000 đồng, còn cụ thể số tiền do anh H anh T
làm việc với nhau.
4.2. Anh Phạm Khắc T4 trình bày: Anh và anh T5 có chơi với anh H và biết
anh H đang nhu cầu mua nhà. Anh T5 biết thông tin anh T bán nhà tại địa chỉ
F MBQH I, phường Đ, thành phố T nên anh và anh T5 đến xem nhà thì gặp anh T
được anh T nói bộ về nhà cửa. Sau khi xem xong, anh giới thiệu cho anh
H mua. Anh và anh H đến xem nhà gặp thì anh T nhà. Anh T và anh H thỏa thuận
và chốt giá bán với nhau, đồng thời anh T cho xem sổ đỏ photo đứng tên anh C
và giải thích trước kia 2 bên có làm ăn chung do anh T nợ xấu nên đứng tên anh C
để tiện vay vốn ngân hàng, sổ đỏ đang cắm ngân hàng A. Vợ chồng anh H có đến
gặp anh T xem lại nhà trước khi quyết định mua, sau đó anh H đưa 100.000.000
đồng nhờ anh đặt cọc mua nhà. Anh có hẹn các bên lên phòng C5 (địa chỉ A đường
T, phường L, thành PhT) để đặt cọc. Tại đây, anh nhờ cán bộ công chứng là chị L
soạn giấy đặt cọc. Khi đặt cọc có tôi, anh T, anh C, chị L (cán bộ công chứng), anh
G (luật sư làm chứng việc đặt cọc), anh đưa 100.000.000 đồng cho anh T và anh C.
Anh T anh C thỏa thuận số tiền mua nhà anh H sẽ đưa cho anh C 2.000.000.000
đồng (hai tỷ đồng), số tiền còn lại sẽ đưa cho anh T. Sau khi đặt cọc xong hẹn
nhau lên ngân hàng A để giao dịch. Tại ngân hàng có mặt anh, anh C, anh T, anh H,
chị H1 cán bộ ngân hàng A thì anh H có đưa tiền cho anh C để lấy sổ ra để đưa
cho bên công chứng công chứng hợp đồng mua bán. Sau khi lấy được sổ đỏ anh H
có hẹn anh T ra để đưa nốt số tiền còn lại.
5. Các chứng cứ khác:
5.1. Kết quả định giá ngày 03/4/2025 của Hội đồng định giá xác định: Đất ở
giá trị tính theo giá thị trường 50.000.000đ/m
2
x 107,3m
2
= 5.365.000.000
đồng và tài sản trên đất có giá trị 688.703.250 đồng. Tổng tài sản là 6.053.703.250
đồng.
5.2. Ngày 24/02/2025, Tòa án Khu vực 1 - Thanh Hóa đã nhận được Thông
báo về việc không kháng nghị giám đốc thẩm số 172/TB-VKS-DS ngày 16/10/2024
của Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao.
5.3. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Trọng H đề nghị đưa chị Phạm
Thị Qanh Nguyễn Duy D (là vợ con ở cùng anh T) vào tham gia tố tụng với tư
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tòa án đã tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng nhưng chị Q và anh D không đến Tòa án để tự khai và tham
gia hòa giải, xét xử.
5.4 Ngày 06/8/2025, Tòa án Khu vực 1 - Thanh Hóa đã nhận được đơn xin
rút một phần yêu cầu khởi kiện ca anh Nguyễn Trọng H đối với yêu cầu buộc anh
T phải bồi thường thiệt hại do mất thu nhập cho thuê tài sản với stiền 8.000.000
đồng/tháng tính từ tháng 3/2024 cho đến khi xét xử.
5.5 Ngày 18/8/2025, anh Nguyễn Trọng H đề nghị đưa chị Lưu Thị Thúy V
tham gia tố tụng với tư cách là người quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Chị T1 xin vắng mặt ý kiến trình bày như sau: việc làm ăn, kinh doanh và mua
bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong gia đình đều do anh Hoàng Đạt C
(chồng chị) quyết định, chị không tham gia bất kỳ nội dung . Đối với các nội dung
liên quan đến anh Nguyễn Duy T anh Nguyễn Trọng H do anh C người trực
tiếp làm việc thỏa thuận với anh T anh H, chị chỉ vào các thủ tục. Hiện nay
anh H đang kiện đòi anh T nhà đất tại Lô 06 MBQH 90/UB-CN phường Đ (nay là
phường H), chị không ý kiến và yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Bản án số 13/2025/DSST, ngày 08/9/2025 của TAND khu vực 1- Thanh
Hóa đã: Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 273 và Điều 147
Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 166, Điều 223 Bộ luật dân sự. Khoản 3 Điều 24, khoản
1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H vyêu cầu
anh Nguyễn Duy T bồi thường khoản tiền thiệt hại về cho thuê tài sản.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H về việc kiện đòi
tài sản là nhà đất cho mượn đối với anh Nguyễn Duy T.
Công nhận nhà đất tại thửa số 03, tờ bản số 67, địa chỉ: Lô F M-CN, phường
Đ nay phường H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận Quyền sdụng đất
tài sản gắn liền với đất số CT 650131 do UBND thành phố T cấp ngày 23/12/2019
mang tên anh Hoàng Đạt C đã được Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố
T cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 27/02/2024 cho anh Nguyễn Trọng H,
chị Nguyễn Thị H1 là tài sản của anh Nguyễn Trọng H, chị Nguyễn Thị H1.
Buộc anh Nguyễn Duy T cùng các thành viên trong gia đình là chị Phạm Thị
Q anh Nguyễn Duy D phải trả lại quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đt
tại thửa số 03, tờ bản số 67; địa chỉ: F-CN, phường Đ (nay phường H), tỉnh
Thanh Hóa cho anh Nguyễn Trọng H và chị Nguyễn Thị H1.
Buộc anh Nguyễn Trọng H chị Nguyễn Thị H1 trả cho anh T số tiền
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 19/9/2025, anh Nguyễn Duy T kháng cáo yêu
cầu cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.
Quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Về trình tự tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố
tụng đã thực hiện đúng các quy định của B luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết vụ án; đơn kháng o của bị đơn Nguyễn Duy T hợp lệ, được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Viện kiểm sát nhận định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
đối với nhà đất tại 06 MBQH 90/UB-CN, phường Đ (nay phường H), tỉnh
Thanh Hóa đã được chuyển nhượng hợp pháp cho anh Nguyễn Trọng H ch
Nguyễn Thị H1; việc đăng biến động được thực hiện theo quy định của pháp
luật. Các nội dung anh Nguyễn Duy T trình bày về việc giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giả tạo, che giấu giao dịch vay tài sản; yêu cầu tuyên giao dịch
hiệu; khiếu nại của anh Nguyễn Duy L1 về việc không được tham gia tố tụng với
cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không căn cứ chấp nhận. Việc
anh L1 cư trú hoặc có hoạt động kinh doanh tại địa chỉ nhà đất tranh chấp (nếu có)
không làm phát sinh quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản không
làm ảnh hưởng đến tính hợp pháp, có căn cứ của bản án sơ thẩm.
Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308
Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Duy
T, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa;
Về án phí: Người kháng cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu
án phí phúc thẩm.
(có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về trình tự kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Duy T làm
trong hạn luật định hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm anh giữ nguyên kháng cáo,
hai bên không thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ bản án nên kháng cáo của
anh được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là anh Nguyễn Trọng H, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Đạt C, chị Lưu Thị T1 đã được tống đạt hợp lệ
nhưng vắng mặt không lý do nên HĐXX căn cứ Điều 227 B luật tố tụng xét xử
theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn và quyết định của tòa án cấp
sơ thẩm:
Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được kết giữa anh
Hoàng Đạt C và anh Nguyễn Duy T tại 06 MBQH-90 UB/CN phường Đ (nay là
phường H, tỉnh Thanh Hóa) hợp đồng mượn nhà với thời hạn 01 năm được
kết giữa anh C và anh T tại lô đất 06 nêu trên, ngày 23/12/2019 anh Hoàng Đạt C
đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất sCT650131.
Đến năm 2021, anh H đã mua lại nhà đất của anh C thông qua anh T. Các bên đã
thỏa thuận anh C bán cho anh H với giá 2.000.000.000 đồng, còn giữa anh T và anh
H thỏa thuận giá chuyển nhượng là 3.700.000.000 đồng, trong đó: anh H sẽ trả cho
anh C 2.000.000.000 đồng anh T 1.700.000.000 đồng. Việc kết hợp đồng
chuyển nhượng này thực hiện theo đúng quy định tại Văn phòng C3, đồng thời anh
H đã thanh toán đủ cho anh C là 2.000.000.000 đồng và tại nhà hàng Đ, phường Đ
thì anh H đã thanh toán cho anh T 1.200.000.000 đồng (có giấy nhận tiền của anh
T) trước sự chứng kiến của nhiều người khác (hình ảnh giao nhận tiền). Cùng
trong ngày 29/10/2021 thì vợ chồng anh C đã bàn giao nhà đất trên cho vợ chồng
anh H (các bênlập biên bản)có anh G chứng kiến. Trong biên bản bàn giao
thể hiện cho anh T chị Q tiếp tục được lại ngôi nhà trên nhưng không nêu
thời hạn.
Sau khi anh H và anh C ký hợp đồng chuyển nhượng xong thì anh T làm đơn
khởi kiện yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa anh C anh T
hiệu do giả tạo nhằm che dấu giao dịch khác đề nghị hủy Giấy chứng nhận
cấp cho anh C, vụ án đã được Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử thẩm
Tòa án Cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, quyết định không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của anh Nguyễn Duy T. Đồng thời, Viện kiểm sát Tối C1 Thông báo
về việc không kháng nghị thủ tục giám đốc thẩm theo đề nghị của anh T. Sau khi
bản án nêu trên hiệu lực pháp luật, ngày 27/02/2024 vợ chồng anh Nguyễn Trọng
H, chị Nguyễn Thị H1 đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T
cập nhật biến động chuyển nhượng trên Giấy chứng nhận QSDĐ số CT 650131 do
UBND thành phố T cấp ngày 23/12/2019 nên nhà đất tại Lô 06 MBQH 90/UB-CN,
phường Đ (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa.
Như vậy, quyền sử dụng đất sở hữu nhà của vợ chồng anh Nguyễn Trọng
H, chị Nguyễn Thị H1 đã được nhà nước công nhận tại thông tin cập nhật biến động
ngày 27/02/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T.
Tuy nhiên, do anh T gia đình anh T vẫn sinh sống tại 06 MBQH-90
nêu trên, không di chuyển ra khỏi nhà để bàn giao tài sản cho chủ sử dụng hợp pháp
vợ chồng anh H chị H1 nên quyền lợi của vchồng anh H chị H1 bị xâm
phạm, anh H chị H1 khởi kiện để buộc anh T và các thành viên sống trong 06
MBQH-90 phải di chuyển ra khỏi nhà nhà đbàn giao lại tài sản cho chủ sử dụng
hợp pháp. Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào các Điều 166 Bộ luật dân svề “quyền đòi
lại tài sản” và Điều 223 Bộ luật dân sự v“Xác lập sở hữu theo hợp đồng’’ để chp
nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H về “đòi lại tài sản’’ đúng quy
định.
[3]. Đối với kháng cáo của bị đơn: Bị đơn anh Nguyễn Duy T kháng cáo huỷ
toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về: Hội đồng xét xử phúc
thẩm hủy bản án sơ thẩm, huỷ một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho
Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ chứng minh không theo đúng quy định tại
Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ tại phiên tòa phúc
thẩm không thể thực hiện bổ sung được;
2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật
này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự.
Xét thấy:
Anh Nguyễn Duy T kháng cáo cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông ông Hoàng Đạt C chỉ giao dịch giả tạo nhằm che giấu quan hệ
vay tài sản; đồng thời cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Hoàng Đạt C với ông Nguyễn Trọng H, Nguyễn Thị H1 trái pháp luật nên
không đồng ý giao trả nhà đất cho ông H và bà H1.
Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án và kết quả tranh tụng
tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện:
Thứ nhất, tính hợp pháp của việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn Duy T ông Hoàng Đạt C đã được giải quyết bằng bản án hiệu lực
pháp luật.
Cụ thể, ông T đã khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 22/11/2019 giữa ông và ông C hiệu do giả tạo, yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C. Tuy nhiên, tại Bản án n
sự thẩm số 24/2022/DS-ST ngày 21/7/2022 của TAND tỉnh Thanh Hóa Bản
án dân sự phúc thẩm số 236/2023/DS-PT ngày 22/5/2023 của TAND cấp cao tại
Nội đều không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Sau đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông báo số 172/TB-
VKS-DS ngày 16/10/2024 về việc không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
đối với các bản án nêu trên.
Như vậy, quan hệ pháp luật về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông T ông C đã được giải quyết bằng bản án hiệu lực pháp luật; quyền s
dụng đất thuộc về ông Hoàng Đạt C sự kiện pháp đã được xác lập không
thuộc phạm vi xem xét lại trong vụ án này.
Thứ hai, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Hoàng Đạt C cho ông
Nguyễn Trọng H và bà Nguyễn Thị H1 được thực hiện hợp pháp.
Tài liệu trong hồ thể hiện ngày 29/10/2021 các bên đã thống nhất việc
chuyển nhượng nhà đất tại 06 MBQH 90/UB-CN. Ông H đã thanh toán
2.000.000.000 đồng để giải chấp tài sản cho ông C; đồng thời giao cho ông T số tiền
1.200.000.000 đồng, có giấy nhận tiền do chính ông T nhận. Nội dung này còn
được xác nhận bởi lời khai của ông Hoàng Đạt C, ông Nguyễn Hữu G và ông Phạm
Khắc T4.
Đặc biệt, chính ông T người trực tiếp giới thiệu, thỏa thuận và thống nhất
việc chuyển nhượng nhà đất cho ông H. Do đó, việc ông T cho rằng bản chất chỉ là
quan hvay tài sản nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh không có
căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, ngày 27/02/2024 Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai thành phố T đã thực hiện đăng biến động sang tên cho ông
Nguyễn Trọng H và bà Nguyễn Thị H1 theo quy định của pháp luật. Vì vậy, ông H
và bà H1 chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất và tài sản gắn liền với đất đang
tranh chấp.
Thứ ba, việc ông T tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất chỉ dựa trên quan hệ
mượn nhà và không làm phát sinh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản.
Sau khi chuyển nhượng cho ông C, ông T được ông C cho mượn lại nhà để
ở. Khi ông C chuyển nhượng tài sản cho ông H thì ông H tiếp tục đồng ý cho gia
đình ông T tạm thời lại. Do đó, việc ông T đang quản lý, sử dụng nhà đất ch
việc chiếm hữu có căn cứ từ quan hệ mượn tài sản.
Theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu có quyền
đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật. Khi
ông H, bà H1 đã trở thành chủ sử dụng hợp pháp và yêu cầu nhận lại tài sản thì ông
T có nghĩa vụ hoàn trả.
Thứ tư, việc ông T cho rằng đang đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám
đốc thẩm nên chưa thể giải quyết vụ án là không có cơ sở.
Theo quy định của pháp luật tố tụng, bản án đã có hiệu lực pháp luật vẫn phải
được tôn trọng thi hành cho đến khi quyết định kháng nghị hoặc quyết định
khác của quan thẩm quyền. Trong vụ án này, không tài liệu nào thể hiện
bản án đã có hiệu lực bhủy, sửa hoặc bị tạm dừng thi hành. Do đó, việc ông T viện
dẫn do đang khiếu nại, đnghị xem xét giám đốc thẩm không làm ảnh hưởng đến
hiệu lực pháp luật của các bản án đã tuyên cũng như quyền sở hữu hợp pháp của
ông H và bà H1.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định Tòa án
cấp thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, xác định đúng cách chủ sở hữu
hợp pháp của tài sản tranh chấp, áp dụng đúng quy định của Bộ luật Dân sự để chấp
nhận yêu cầu đòi lại tài sản của ông Nguyễn Trọng H và bà Nguyễn Thị H1.
Kháng cáo của bị đơn Nguyễn Duy T không xuất trình được tài liệu, chứng
cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án; các nội dung kháng cáo thực chất lặp lại
những vấn đđã được xem xét, giải quyết bằng bản án hiệu lực pháp luật.
vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.
Nên giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 08/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa.
Các vấn đề khác của vụ án:
1. Trong quá trình giải quyết phúc thẩm, TAND Tỉnh Thanh Hoá đã nhận
được kháng cáo của chị ĐThị Q1(là vợ anh T), anh Nguyễn Duy D(là con trai anh
T) kháng cáo quá hạn đối với Bản án dân sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày
08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa. TAND tỉnh Thanh Hoá đã
mở phiên họp xét kháng cáo quá hạn ban hành Quyết định không chấp nhận việc
kháng cáo quá hạn số 01/2026/-PT ngày 09/01/2026 đối với người kháng cáo
Đỗ Thị Q1 Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 03/2026/QĐ-
PT ngày 02/02/2026 đối với người kháng cáo là anh Nguyễn Duy D
2. Đối với kiến nghị, khiếu nại của anh Nguyễn Duy L1 Công ty TNHH
T9 do anh Nguyễn Duy L1 làm giám đốc:
Ông Nguyễn Duy L1 con của bị đơn Nguyễn Duy T. Ông L1 cho rằng tại
thời điểm Tòa án cấp thẩm giải quyết vụ án, ông vẫn thành viên hgia đình
đang sinh sống tại căn nhà tranh chấp, đồng thời đã thành lập công ty riêng và cho
người khác thuê địa điểm tại căn nhà này nên cho rằng quyền lợi ích hợp pháp
của mình bị ảnh hưởng.
Sau khi nghiên cứu hồ vụ án, xem xét các tài liệu do ông Nguyễn Duy
Long cung C2 và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thấy
rằng:
Công ty TNHH Một thành viên T9 do anh Nguyễn Duy L1 làm giám đốc
đăng lần đầu ngày 26/8/2024, việc khởi kiện vụ án này được TAND thành phố
Thanh Hoá(Khu vực 1 Tỉnh Thanh Hoá) thụ số 133 ngày 08/4/2024; Việc chuyển
nhượng tài sản giữa ông Hoàng Đạt C với ông Nguyễn Trọng H thông qua ông
Nguyễn Duy T6 thực hiện ngày 29/10/2021;
Toà án cũng đã thu thập được hồ tài liệu về việc anh Nguyễn Duy L1 đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
DO 610065 đối với căn hộ số 1001, diện tích 52,99m2 tại Chung C, Nhà
hội tại khu dân cư N thuộc khu đô thị Đ. Anh Nguyễn Duy L1 đã thực hiện gói vay
tại Ngân hàng C6 xã hội tỉnh Thanh Hóa tại Hợp đồng ba bên ngày 24/9/2021, với
số tiền vay là 370.000.000đ để mua căn hộ có giá trị 532.433.000đ. Với thu nhập để
khảo sát thực hiện việc mua nhà của anh Nguyễn Duy L1 là: 5.560.000đ/tháng.
Với thời hạn cho vay 300 tháng và thời hạn trả ncuối cùng là ngày 27/9/2046,
mỗi tháng trả 1.234.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T và anh L1 là con trai, thời điểm giải quyết vụ
án anh L1 đã đi làm ở Nhà in báo Thanh Hoá, mỗi tháng cũng đưa cho mẹ một vài
triệu phụ giúp sinh hoạt gia đình, không đóng góp bất cứ khoản tiền nào khác.
Như vậy ông L1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh mình
quyền tài sản độc lập đối với tài sản tranh chấp hoặc quyền, nghĩa vụ liên quan
trực tiếp đến quan hệ pháp luật đang được giải quyết. Các tài liệu, chứng cứ trong
hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác lập và giải quyết trên
cơ sở quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản tranh chấp giữa các đương sự là
ông Nguyễn Duy T, ông Hoàng Đạt C và ông Nguyễn Trọng H. Việc ông L1 có cư
trú tại căn nhà nêu trên hoặc sử dụng địa điểm này để đăng hoạt động kinh
doanh, cho thuê địa điểm kinh doanh (nếu có) chỉ tình trạng quản lý, sử dụng thực
tế tài sản, không phải là căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu hoặc quyền lợi độc lập
đối với tài sản đang tranh chấp và không làm thay đổi bản chất vụ án.
Hội đồng xét xnhận thấy nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Duy L1 không
làm phát sinh tình tiết mới của vụ án, không phải là căn cứ để hủy hoặc sửa bản án
thẩm theo quy định của pháp luật do đó Không chấp nhận khiếu nại của ông
Nguyễn Duy L1 vviệc cho rằng bản án sơ thẩm giải quyết vụ án khi chưa đưa ông
Nguyễn Duy L1 tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Do đó, ông Nguyễn Duy L1 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bắt buộc phải tham gia tố tụng trong vụ án này. Việc Tòa án cấp thẩm không
đưa ông L1 tham gia tố tụng không phải vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng,
không thuộc trường hợp phải hủy bản án thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Tuy nhiên, để đảm bảo công tác thi hành án được chặt chẽ, trong trường hợp
các đối tượng vẫn thông qua anh T để cư trú tại căn nhà trên, gây khó khăn cho
quá trình thi hành án, lời tuyên của phần quyết định nên được điều chỉnh cho p
hợp.
[4].. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5]. Về án phí: ông Nguyễn Duy T phải chịu án phí phúc thẩm 300.000đ,
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 ; Điều 309 của Bộ luật tố tụng Dân sự :
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Duy T. Giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DSST ngày 08/9/2025 TAND khu vực 1- Thanh Hóa
như sau:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 273 và Điều 147 Bộ
luật tố tụng dân sự. Điều 166, Điều 223 Bộ luật dân sự. Khoản 3 Điều 24, khoản 1
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H về yêu cầu
anh Nguyễn Duy T bồi thường khoản tiền thiệt hại về cho thuê tài sản.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng H về việc đòi lại
tài sản.
Xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ
bản đồ số 67, địa chỉ Lô 06 MBQH 90/UB-CN, phường Đ (nay là phường H), tỉnh
Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT650131 đã được đăng
biến động ngày 27/02/2024 thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của ông
Nguyễn Trọng H Nguyễn Thị H1. Buộc ông Nguyễn Duy T, Phạm Thị
Q, anh Nguyễn Duy D cùng những người đang trú, quản lý, sử dụng tài sản thông
qua ông Nguyễn Duy T phải di dời người và tài sản, giao trả nhà ở, quyền sử dụng
đất và các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 67, địa chỉ Lô 06
MBQH 90/UB-CN, phường Đ (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa cho ông Nguyễn
Trọng H và bà Nguyễn Thị H1.
Buộc ông Nguyễn Trọng H Nguyễn Thị H1 thanh toán cho ông Nguyễn
Duy T số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Duy T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; được
đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0000804 ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân stỉnh Thanh
Hoá
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
- TAND, VKSND khu vực 1- Thanh Hoá;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 50/2026/DS-PT Bản án số 50/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2026/DS-PT Bản án số 50/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất