Bản án số 600/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 600/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 600/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 600/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu được nhận số tiền bồi thường về đất với bị đơn.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 600/2026/DS-PT Bản án số 600/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 600/2026/DS-PT Bản án số 600/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 600 /2026/DS-PT
Ngày: 17/6/2026
V/v “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Thủy.
Ông Nguyễn Hữu Bằng.
- Thư phiên tòa: Phạm Nguyễn Anh Đài Thư Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Sơn Cươl - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Txét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 572/2026/TLPT-DS ngày 01 tháng 4 năm
2026 về Tranh chấp quyền sở hữu tài sản”. Do bản án dân sự thẩm số
139/2025/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 -
Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 644/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ;
2. Bị đơn: Bà Trần Thị Lý, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Thảo, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Khu vực Qui Thạnh 2, phường Thuận Hưng, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Thị Kim Mãi, sinh năm 1955.
Địa chỉ: 5/4, khóm Hoà Thạnh, phường Mỹ Thạnh, Tp Long Xuyên, tỉnh
An Giang. Nay là số 5/4, khóm Hoà Thạnh, phường Mỹ Thới, tỉnh An Giang.
3.2. Bà Trần Thị Cục, sinh năm 1958.
2
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
3.3. Bà Trần Thị Nhơn, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Thành, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
3.4. Bà Trần Thị Nhung, sinh năm 1959.
Địa chỉ: vực Lân Thạnh 1, phường Tân Lộc, thành phố Cần Thơ.
3.5. Ông Trần Văn Hiếu, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
3.6. Bà Trần Thị Xuân, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Mãi, bà Cục, bà Nhơn, bà Nhung, ông
Hiếu, bà Xuân: Bà Trần Thị Lý, sinh năm 1978.
3.7. Bà Trần Thị Thanh, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
3.8. Bà Trần Thị Huệ, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
3.9. Ông Trần Văn Vốn, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của Thanh, Huệ, ông Vốn: Ông Trần
Văn Lùng, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Vĩnh Qui, xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn trình bày yêu cầu trong đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung
trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày rằng: Hoa vẫn giữ
nguyên ý kiến trình bày tại đơn khởi kiện đã nộp cho Toà án, yêu cầu Toà án buộc
bị đơn trả lại phần đất thuộc thửa s897, 898, tờ bản đồ s04 cho gia đình nguyên
đơn, phần đất do chồng bà là ông Lâm (chết) đứng tên quyền sử dụng. Vào năm
1994 vợ chồng Hoa cố cho ông Khoảnh (cha bà Lý), giá cố 15 chỉ vàng 24k,
loại 9999, nhưng không làm giấy tờ cố gì hết, hai bên chỉ thoả thuận miệng. Nay
phần đất đã được Nhà nước thu hồi bồi thường với số tiền 02 thửa đất nêu trên cụ
thể, thửa số 897, 898. Tổng tiền bồi hoàn theo văn bản số , ngày 05/9/2025 của
Trung tâm Phát triển quỹ đất Cần Thơ xác định thì tổng số tiền bồi thường 02 thửa
đất trên là: 2.491.980.000đ (hai tỷ, bốn trăm chín mươi một triệu, chín trăm tám
mươi ngàn đồng). Trong đó bồi hoàn về đất 2.454.060.000đ, bồi hoàn về lúa
là: 37.920.000đ. Nay nguyên đơn yêu cầu được nhận toàn bộ số tiền bồi hoàn giá
trị đất 02 thửa đất trên với số tiền 2.491.980.000đ, nguyên đơn đồng ý trả lại 15
chỉ vàng 24k, loại 9999 cho bị đơn bà Lý. Đối với tờ giấy “tờ nhượng đức đất
ruộng” ngày 17/4/1993 do phía nguyên đơn cung cấp, nguyên đơn không thừa
3
nhận chữ ký, chữ viết của ông Trần Văn Lâm (chết) Nguyễn Thị Kim Hoa
trong tờ giấy đó, nhưng không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết, vì đó là trách
nhiệm của bị đơn bà Lý.Hơn nữa, “tờ nhượng đức đất ruộng” thông tin thửa đất
không có, diện tích đất không đúng. Người làm chứng ông Liêm khai không đúng
sự thật.
Tại biên bản hoà giải ngày 15/10/2025 phía nguyên đơn thay đổi yêu cầu
khởi kiện: xác định phần đất đã được Nhà nước thu hồi, bồi thường toàn bộ 02
thửa đất 897, 898. Tổng tiền bồi hoàn theo văn bản số , ngày 05/9/2025 của Trung
tâm pháttriển quỹ đất, thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ xác định thì
tổng số tiền bồi thường là: 2.491.980.000đ (hai tỷ, bốn trăm chín mươi một triệu,
chín trăm tám mươi ngàn đồng). Trong đó, bồi hoàn về đất là: 2.454.060.000đ,
bồi hoàn về lúa là: 37.920.000đ. Nguyên đơn yêu cầu được nhận toàn bộ số tiền
bồi hoàn giá trị đất 02 thửa đất 897, 898 là: 2.491.980.000đ, nguyên đơn đồng ý
trả lại số vàng 15 chỉ vàng 24k, loại 9999 cho bị đơn.
- Bị đơn Trần Thị trình bày: Thống nhất giữ nguyên ý kiến trình bày
tại biên bản tự khai ngày 18/2/2025 của Lý đã nộp cho Toà án. Đồng ý xác
định phần đất thuộc thửa số 897, 898, tờ bản đồ số 4, vào ngày 17/4/1993 ông
Lâm Hoa đã chuyển nhượng toàn bộ 02 thửa đất trên cho ông Khoảnh (cha bà Lý
rồi), giá chuyển nhượng 15 chỉ vàng 24k, loại 9999. Ông Khoảng đã tặng cho
toàn bộ phần đất đó cho bà Lý, bà Lý canh tác sử dụng phần đất đó từ năm 1993
đến nay đã trang ủi, phá bỏ bờ đê để canh tác thời gian dài, không ai tranh chấp.
Hiện tại phần đất 02 thửa đất trên được Nhà nước thu hồi bồi thường để làm dự
án Khu công nghiệp - Vĩnh Thạnh, tiền bồi thường 02 thửa đất trên
2.491.980.00(hai tỷ, bốn trăm chín mươi một triệu, chín trăm tám mươi ngàn
đồng). Trong đó bồi hoàn về đất 2.454.060.000đ, bồi hoàn về lúa :
37.920.000đ, theo văn bản số , ngày 05/9/2025 của Trung tâm Phát triển quỹ đất
Cần Thơ, đã xác định. Bà Lý và những người liên quan bên bà Lý thống nhất g
đó. Việc mua bán hai bên có lập “tờ nhượng đức đất ruộng” ngày 17/4/1993, bản
chính đang giữ, đã cung cấp bản gốc cho Toà án, phía những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bên không yêu cầu giám định chữ
ký, chữ viết của Hoa, ông Lâm trong tờ giấy đó. Toà án cứ giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật.
Do bà Lý và đồng thừa kế của bà Lý đã đủ căn cứ để xác lập quyền sử dụng
đất tại thửa số 897, 898, tờ bản đồ số 4, nên số tiền bồi hoàn về đất và cây trồng
trên thửa 897, 898 phía bị đơn đồng thừa kế của bị đơn được nhận là:
2.491.980.00(hai tỷ, bốn trăm chín mươi một triệu, chín trăm tám mươi ngàn
đồng).
4
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mãi, Cục, Nhơn, Nhung, Hiếu,
Xuân thống nhất với trình bày của bị đơn.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Lùng (đại diện bà Thanh,
Huệ, ông Vốn), thống nhất với lời trình bày yêu cầu của Hoa. Nếu phía bị
đơn yêu cầu giám định thì bên nguyên đơn sẽ htrợ cung cấp mẫu chữ so sánh,
việc đó nguyên đơn đã thực hiện rồi (đã nộp cho Toà án mẫu chữ ký so sánh rồi).
Còn việc bị đơn không yêu cầu giám định hay yêu cầu là việc của bị đơn chứ bên
phía nguyên đơn không yêu cầu giám định.
Người làm chứng: ông Trương Thanh Liêm, trình bày tại văn bản trình bày
ý kiến ngày 25/4/2025 như sau:
Ngày 17/4/1993, vchồng ông Trần Văn Lâm sinh năm 1958 và bà Nguyễn
Thị Hoa, sinh năm 1961 có viết giấy tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn
bộ tài sản là đất ruộng, thửa đất toạ lạc tại số 02 ấp Vĩnh Qui, Vĩnh Trinh,
huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ (cũ), nay ấp Vĩnh Qui, Vĩnh Trinh, Tp Cần
Thơ, cho ông Trần Văn Khoảnh chú ruột của ông Lâm, tại thời điểm chuyển
nhượng vợ chồng ông Lâm và Hoa chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nên không nhớ chính xác diện tích thửa đất chỉ ước tính khoảng
6.200m
2
. Giá trị chuyển nhượng 15 chỉ vàng loại vàng 24k. Thời điểm thực
hiện thủ tục chuyển nhượng vợ chồng ông Lâm, Hoa ông Khoảnh đến
Ban nhân dân ấp làm thủ tục xác minh nghĩa vụ thuế và thực hiện thủ tục sang tên
qua bộ. Đồng thời, hai bên cũng lập văn bản viết tay tiêu đề “tờ nhượng đất
ruộng” với các điều khoản rõ ràng, cụ thể như sau:
Điều 1. Vợ chồng chúng tôi nhận vàng từ khi làm tờ nhượng này.
Điều 2. Nếu đất này ai tranh chấp hoặc do vợ chồng tôi, chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chú tôi.
Điều 3. Vợ chồng tôi phải giao tờ chứng khoán ruộng cho chú tôi.
Điều 4. Vợ chồng tôi chịu trách nhiệm trả nợ thuế nợ từ trước tới ngày
lập tờ nhượng.
Sau khi hoàn tất các thủ tục ông Lâm đã đọc toàn bộ văn bản nội dung “tờ
nhượng đất ruộng”, trước schứng kiến của Ban nhân dân ấp. Không ai có ý kiến
phản đối về nội dung hay hình thức của văn bản này sau đó các bên đã ký tên và
ghi rõ họ tên đầy đủ.
Đến ngày 02 tháng 12 năm 1994 vợ chồng ông Lâm Hoa mới được
Ủy ban nhân dân huyện Thốt Nốt (cũ), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
đối với thửa đất đã chuyển nhượng trước đó cho ông Khoảnh. Tuy nhiên, do mối
quan hệ chú cháu trong gia đình, ông Khoảnh không yêu cầu sang tên giấy chứng
5
nhận mà tiếp tục canh tác quản lý và sử dụng thửa đất này cho đến tận ngày hôm
nay.
Nay bằng văn bản này ông xin xác nhận là bà Trần Thị Lý con gái ông Trần
Văn Khoảnh là người đang trực tiếp canh tác sdụng thửa đất nêu trên. Đồng thời
xin quý Toà án xem xét bác bỏ nội dung trong đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị
Kim Hoa cho rằng đất chỉ hình thức “cầm cố đất”. Bởi điều này hoàn toàn
không đúng với sự thật diễn ra.
Ngày 27/10/2025 ông Trương Thanh Liêm có lời khai như sau:
Ông với chỗ Nguyễn Thị Kim Hoa Trần Thị quen biết
ônglàm ruộng ngoài khúc nhà của Hoa bà Lý. Ông trực tiếp khai có
xác nhận trong văn bản trình bày ý kiến ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại Ủy ban
nhân dân xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ. Ông trực tiếp chứng kiến bà Hoa
và ông Lâm ký tên vào văn bản “tờ nhượng đứt đất ruộng”, ngày 17 tháng 4 năm
1993. Ông có chứng kiến trực tiếp việc ông Trần Văn Khoảnh giao vàng cho ông
Lâm và vợ của ông Lâm, nhưng giao số vàng là bao nhiêu thì ông không nhớ do
thời gian đã lâu. Ông Khoảnh giao vàng cho vợ chồng ông m tại nhà của ông
Khoảnh và lập hợp đồng chuyển nhượng tại nhà của ông Khoảnh. Việc ông Lâm
Hoa được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất thời gian nào thì ông
không biết ông chỉ chứng kiến việc mua bán giữa ông Khoảnh và ông Lâm. “Tờ
nhượng đứt đất ruộng” lập ngày 17 tháng 4 năm 1993, là do ông Út Trầu (đã chết)
viết, viết xong đọc lại cho 2 bên mua bán nghe ông là người làm chứng cùng
tên vào biên bản. Việc chuyển nhượng đo đạc thực tế hay không thì ông
không biết, lúc đó ông đi ruộng ngang thì ông Khoảnh ông Lâm kêu ông vào
chứng kiến giùm. Lúc đọc lại tờ nhượng đất ruộng thì có đọc cái diện tích, nhưng
lâu rồi thì ông cũng không nhớ, ông tên vào tờ nhượng đức đất ruộng lập
ngày 17 tháng4 năm 1993 với cách là người làm chứng việc ông Lâm và ông
Khoảnh mua bán đất.
Ông cam đoan lời khai của ông đúng sự thật bất cứ lời khai nào khác
với lời khai của hôm nay thì đều không đúng ông ng lớn tuổi và xin được
vắng mặt tại các nơi các cấp Tòa Án.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025 ông Trần Thanh Liêm tiếp tục có lời khai như
sau: Ông không có họ hàng gì với nguyên đơn và bị đơn ông xác định, ông có ký
tên vào “tờ nhượng đất ruộng” ngày 17 tháng 04 năm 1993 do bị đơn cung
cấp.Ông xác định khi ông tên vào văn bản đó thì ông cũng không chứng
kiến trực tiếp các bên tên vào văn bản đó, ông đi ruộng ngang thì ông Trần Văn
Khoảnh, ông Lâm và bà Hoa cùng kêu ông vào ký tên làm chứng giùm. Khi ông
ký tên làm chứng thì ông cũng không biết 2 bên buôn bán với nhau thửa đất nào,
6
ông cũng không chứng kiến việc đo đạc cả nên cũng không xác định được
phần đất buôn bán. Ông cũng thấy 2 bên đưa vàng cho nhau nhưng cũng không
biết số lượng bao nhiêu. Đối với văn bản trình bày ý kiến ngày 25 tháng 04 năm
2025, thì ông tên vào văn bản đó trước mặt người chứng thực, nhưng ông
không được đọc lại nội dung văn bản đó, nhưng ông có ký tên vào văn bản đó
đúng. Nay ông đã được cán bộ Tòa án đọc lại nội dung thì ông thấy có một số nội
dung không đúng một số sự việc ông không thể nào nhớ được nội dung
như vậy. Ông cam đoan lời khai của ông hôm nay đúng thực tế, các lời khai của
ông khác với lời khai hôm nay đều không đúng. Do tuổi cao, nên yêu cầu được
giải quyết vắng mặt tại các nơi các cấp Toà Án.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân khu vực 4
- Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án thẩm số: 139/2025/DS-ST ngày 07
tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ đã tuyên như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim
Hoa.
Nguyễn Thị Kim Hoa những người đồng hàng thừa kế gồm: Trần
Thị Thanh, bà Trần Thị Huệ, ông Trần Văn Vốn, ông Trần Văn Lùng được quyền
liên hệ Trung tâm phát triển quỹ đất, thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ
để nhận số tiền: 1.963.248.000đ (một tỷ, chín trăm sáu mươi ba triệu, hai trăm
bốn mươi tám ngàn đồng) và tiền lãi phát sinh (nếu có).
Trần Thị những người đồng hàng thừa kế gồm: bà Trần Thị Kim
Mãi, Trần Thị Cục, Trần Thị Nhơn, Trần Thị Nhung, Trần Văn Hiếu, Trần Thị
Xuân, được quyền liên hệ Trung tâm phát triển quỹ đất, thuộc Uban nhân dân
thành phố Cần Thơ để nhận số tiền: 490.812.000đ (bốn trăm chín mươi triệu, tám
trăm mười hai ngàn đồng).
Trần Thị được nhận số tiền: 37.920.000đ (Ba mươi bảy triệu, chín trăm
hai mươi ngàn đồng) và tiền lãi phát sinh (nếu có).
Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ thuộc Uỷ ban nhân dân thành
phố Cần Thơ trách nhiệm chi trả số tiền cho các đương sự theo nội dung bản
án đã tuyên.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoa và những người đồng hàng thừa kế gồm: Bà
Trần Thị Thanh, bà Trần Thị Huệ, ông Trần Văn Vốn, ông Trần Văn Lùng cùng
trách nhiệm trả cho Trần Thị những người đồng hàng thừa kế gồm:
Bà Trần Thị Kim Mãi, Trần Thị Cục, Trần Thị Nhơn, Trần Thị Nhung, Trần Văn
Hiếu, Trần Thị Xuân số vàng là: 15 (mười lăm) chỉ vàng 24k, loại 9999.
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản, biên bản định giá do Toà án
lập ngày 17/4/2025, để xác định phần đất và tài sản được bồi hoàn.
7
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo
của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án thẩm, bị đơn đơn kháng cáo đối với bản án
sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn Hoa yêu cầu giữ nguyên bản án
thẩm.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Lùng yêu cầu giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
đại diện uỷ quyền cho Trần Thị Kim Mãi, Trần Thị Cục, Trần Văn
Hiếu, Trần Thị Nhơn, Trần Thị Nhung, Trần Thị Xuân, thống nhất với lời trình
bày và đề nghị của bị đơn.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã
tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ đến khi
xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng
cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài
liệu do Viện kiểm sát thu thập bổ sung, đủ sở xác định giao dịch giữa ông
Trần Văn Lâm, Nguyễn Thị Kim Hoa với ông Khoảnh giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, không phải quan hệ cầm cố quyền sử dụng bởi lẽ:
nguyên đơn cho rằng đây chỉ là việc “cố đất”, tuy nhiên không cung cấp được bt
kỳ tài liệu, giấy nhận cố, biên nhận giao tiền hay chứng cứ nào chứng minh cho
lời trình bày của mình. Trong khi đó, phía bị đơn xuất trình được “Tờ nhượng đức
đất ruộng” (bút lục 19) bản chính lập ngày 17/4/1993 có chữ ký của ông Lâm và
bà Hoa, thể hiện rõ nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Khoảnh
với giá 15 chỉ vàng 24K. Mặt khác, theo tập quán phổ biến ở địa phương, nếu chỉ
“cđất” thì bên nhận cố chỉ được giao đất để canh tác nhằm trừ lãi, còn giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do bên cố giữ. Tuy nhiên, trong vụ án này, sau
khi được cấp giấy chứng nhận vào năm 1994, ông Lâm đã giao luôn giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Khoảnh quản lý, sử dụng. Việc giao cả giấy
chứng nhận tình tiết đặc biệt quan trọng, thể hiện ý chí chuyển giao quyền sử
dụng đất, phù hợp với bản chất của quan hệ chuyển nhượng chứ không phải quan
hệ cầm cố. Ngoài ra, kết quả xác minh của Viện kiểm sát còn cho thấy Hoa
biết giấy chứng nhận đang do phía bị đơn giữ nhưng vẫn khai báo mất nhằm
8
làm phát sinh giấy chứng nhận mới để thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền
sử dụng đất. Đây là dấu hiệu thể hiện sự thiếu thiện chí và không phù hợp với lời
trình bày cho rằng đất chỉ “cố” chứ chưa chuyển nhượng. n cạnh đó, Hoa
còn trình bày rằng bản thân không biết chữ, không biết ký tên và mọi giấy tờ đều
chỉ lăn tay nhằm phủ nhận chữ ký trong “Tờ nhượng đức đất ruộng”. Tuy nhiên,
tài liệu trong hồ sơ thể hiện tại Biên bản định giá tài sản ngày 17/4/2024, bà Hoa
trực tiếp tên viết họ tên “Nguyễn Thị Kim Hoa”. Do đó, lời khai cho rằng
không biết tên không phù hợp với chứng cứ khách quan, sở xác
định Hoa cố tình che giấu chữ viết chữ của mình nhằm phủ nhận việc
tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1993. Đối với
lời khai của người làm chứng ông Trương Thanh Liêm, đây nguồn chứng cứ
quan trọng, khách quan phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ. Ông Liêm
xác định trực tiếp chứng kiến việc ông Lâm, bà Hoa bán đất cho ông Khoảnh;
chứng kiến ông Út Trầu viết giấy tay chuyển nhượng; chứng kiến các bên ký tên,
giao nhận vàng và giao giấy tờ cho nhau. Lời khai này phù hợp với nội dung “T
nhượng đức đất ruộng” ngày 17/4/1993 phợp với quá trình quản lý, sử dụng
đất thực tế kéo dài liên tục của phía bị đơn. Mặc hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất lập bằng giấy tay chưa tuân thủ đầy đủ quy định về hình thức,
nhưng giao dịch đã được các bên thực hiện trên thực tế từ năm 1993, theo điểm
b3 tiểu mục 2.3 mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Điều 129 Bluật Dân sự năm
2015, trường hợp giao dịch vi phạm về hình thức nhưng các bên đã thực hiện phần
lớn nghĩa vụ thì có căn cứ công nhận hiệu lực của giao dịch. Do đó, yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn vviệc đòi lại đất không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên,
căn cứ Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất tại bút lục số 86 và 87,
thửa đất số 897 diện tích thực tế 5.602,1m², thửa đất s898 diện tích 928m²,
tổng cộng hai thửa 6.530,1m². Trong khi đó, theo “Tờ nhượng đức đất ruộng”
lập ngày 17/4/1993, ông Trần Văn Lâm Nguyễn Thị Kim Hoa chỉ chuyển
nhượng cho ông Khoảnh diện tích 6.200m². Như vậy, phần diện tích vượt ngoài
phạm vi chuyển nhượng còn lại 330,1m² (6.530,1m² 6.200m² = 330,1m). Hiện
nay, toàn bộ hai thửa đất số 897 và 898 đã bị Nhà nước thu hồi để thực hiện khu
công nghiệp và được bồi thường tổng số tiền 2.491.980.000 đồng. Do phần diện
tích 330,1m² chưa thuộc phạm vi chuyển nhượng nên bà Lý có trách nhiệm hoàn
trả cho phía nguyên đơn phần giá trị tương ứng theo tỷ lệ diện tích thực tế được
bồi thường, cụ thể: 2.491.980.000 đồng6.530,1m² x 330,1m² = 125.970.781 đồng.
Do đó, có căn cứ buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 125.970.781 đồng
phù hợp. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng t xử áp dụng Khoản 2
9
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm
số: 06/QĐ-VKS-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 4, thành phố Cần Thơ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân
tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại Tòa phúc thẩm; Căn cứ vào
kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên
và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng cầm
cố quyền sử dụng đất và buộc bị đơn có trách nhiệm trả lại toàn bộ 02 thửa đất số
897, 898. Tuy nhiên, toàn bộ phần đất thửa 897, 898 đã được Nhà nước thu hồi,
thẩm định bồi thường toàn bộ đất và cây trồng trên đất, nên nguyên đơn yêu cầu
được nhận số tiền bồi thường này nhưng phía bị đơn không đồng ý. vậy, cấp
sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản” là p
hợp.
[2] Sau khi xét xử thẩm, phía bị đơn đơn kháng cáo Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ Quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định
nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về nội dung: Ủy ban nhân dân huyện Thốt Nốt (cũ) cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 897 và 898, diện tích 7.458 m² (đo đạc bồi
thường 6.530,1m
2
), loại 2L, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp Vĩnh Qui, xã Vĩnh
Trinh, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ (cũ) nay ấp Vĩnh Qui, Vĩnh Trinh, thành
phố Cần Thơ cho ông Trần Văn Lâm vào ngày 02/12/1994. Hiện tại toàn bộ 02
thửa đất trên đã được áp giá bồi thường tại Công văn số , ngày 05/9/2025 của
Trung tâm phát triển Quỹ đất, thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ xác định
tổng giá trị bồi thường liên quan đến đất và cây trồng trên đất 2.491.980.000đ
(hai tỷ, bốn trăm chín mươi một triệu, chín trăm tám mươi ngàn đồng), trong đó,
tiền bồi hoàn về đất là 2.454.060.000đ, tiền bồi thường về lúa là 37.920.000đ do
trực tiếp canh tác nên được nhận toàn bộ số tiền 37.920.000đ (ba
mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi ngàn đồng). Các đương sự tranh chấp vsố
tiền bồi hoàn về đất 2.454.060.000 đồng. Do nguồn tiền được phát sinh từ phn
đất thuộc thửa số 897, 898, nguyên đơn cho rằng chỉ có cố cho bị đơn, ngược lại,
bị đơn cho rằng vào ngày 17/4/1993, nguyên đơn đã chuyển nhượng cho cha của
bị đơn 02 thửa đất số 897, 898, việc chuyển nhượng hai bên lập “tờ nhượng
đức đất ruộng”. Xét yêu cầu kháng cáo của bđơn cũng như kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Cần Thơ về việc các bên xác lập giao dịch
10
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hay giữa các bên chỉ có xác lập hợp đồng cầm
cố đất, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Thứ nhất: Tại phiên tòa, nguyên đơn Hoa cho rằng đã cầm cố đất cho bị
đơn, đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn và nguyên đơn nhận
số vàng 15 chỉ vàng 24K từ bị đơn. Xét thấy, nguyên đơn xác nhậncho rằng việc
cầm cố chỉ thỏa thuận miệng nên không cung cấp được chứng cứ bằng văn bản để
chứng minh việc cầm cố đất giữa các bên. Tuy nhiên, phía bị đơn xuất trình
chứng cứ là Tờ nhượng đứt đất ruộng ngày 17/4/1993, theo Tờ nhượng đất nàyt
số vàng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng là 15 chỉ vàng 24K, nguyên đơn thừa
nhận có nhận số vàng 15 chỉ vàng 24K từ bị đơn vào năm 1993. Thấy rằng, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn vào 02/12/1994, nhưng lời
trình bày của nguyên đơn bà Hoa về việc đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho bị đơn và nhận vàng cầm cố vào năm 1993 là không có cơ sở.
Thứ hai: Tại Biên bản ghi lời khai của ông Võ Trường Phi vào ngày
14/11/2025 (Bút lục 278), ông Phi trình bày trước đây, ông là công chức Tư pháp
xã Vĩnh Trinh (ông nghhưu vào ngày 30/8/2025) thì ông thấy trên Bảng thông
tin của có dán Thông báo về việc bà Hoa mất Giấy chứng nhn quyền sử dụng
đất thửa đất số 897, 898 nên ông thông báo cho hay. Lý đã mang giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân xã để ngăn chặn bà Hoa làm
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, theo Biên bản xác minh ngày
14/11/2025 của Viện sát nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ, ông Võ Anh Huy, công
chức Văn phòng HĐND và UBND xã (trước đây là công chức địa chính xã) cung
cấp thông tin Hoa đến làm đơn mất giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 897 898. Công chức làm thủ tục chuyển lên huyện
nhưng được Văn phòng đăng đất đai thông báo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất này do bà Lý giữ không có bị mất nên đình lại việc làm giấy đất cho bà Hoa.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, Hoa cho rằng không làm cớ mất Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, từ lời trình bày ca ông Phi và ông Huy
cho thấy, bà Hoa gian dối trong việc khai làm mất giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nhằm làm thủ tục để được cấp lại giấy chứng nhận mới và thực hiện các
thủ tục khác có liên quan đến việc sở hữu hai thửa đất này.
Thứ ba: Trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn cho rằng nguyên
đơn cầm cố đất với giá 15 chỉ vàng 24K. Phía bị đơn cho rằng giá chuyển nhượng
15 chỉ vàng 24K. Ngoài ra, theo lời khai nhận của những người tại địa phương
nơi có đất tranh chấp cụ thể là bà Thúy, bà cho rằng vào năm 1993 bà mua đất tại
địa phương này và biết giá đất chuyển nhượng 2,8 chỉ/ công. Đồng thời, ông
Hiển cũng cho rằng giá đất tại địa phương vào khoảng năm 1993 3 chỉ/công
11
đất. Như vậy, với diện tích đất các bên đang tranh chấp thì tại thời điểm giao dịch
giá chuyển nhượng đất 15 chỉ vàng 24K phù hợp với giá đất chuyển nhượng tại
địa phương. Hội đồng xét xử nhận thấy tuy các bên thống nhất về số vàng đã giao
nhận 15 chỉ vàng 24K nhưng một bên cho rằng là cầm cố đất một bên cho
rằng là chuyển nhượng đất. Trong trường hợp này, nếu giao dịch giữa các bên là
cầm cố đất thì giá trị cầm cố sẽ thấp hơn giá trị chuyển nhượng đất và người cầm
cố chỉ giao đất không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên nhận cầm
cố đất.
Thứ tư: Theo Tờ nhượng đất ruộng ngày 17/4/1993 thì việc chuyển nhượng
đất diễn ra từ năm 1993, phía bị đơn cho rằng sau khi nhận chuyển nhượng đất,
phía bị đơn đã nhổ cọc ranh, san lấp đất ban bờ tôn nền đất để canh tác. Tuy
nhiên, nguyên đơn bà Hoa không thừa nhận việc chuyển nhượng, đồng thời không
thừa nhận chữ ký của Hoa, ông Lâm (chồng bà Hoa), trong tờ văn bản đó, cả
hai bên không ai yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký của bà Hoa, ông Lâm trong
văn bản đó. Xét thấy, nguyên đơn cũng thừa nhận từ năm 1993 đến khi nhà nước
quyết định thu hồi đất, gia đình vẫn người sử dụng đất đang tranh
chấp. Tuy nguyên đơn không thừa nhận việc chuyển nhượng, nhưng những
người làm chứng ông Trần Thanh Liêm xác định ông Liêm tên vào “tờ
nhượng đức đất ruộng” ngày 17/4/1993, cấp thẩm cho rằng lời khai của ông
Liêm còn nhiều bất nhất không đủ tin, nhưng từ những lời khai do cấp thẩm
thực hiện lấy lời khai của ông Liêm vào các ngày 27/10/2025 30/10/2025 cụ
thể lời khai vào ngày 30/10/2025 ông Liêm đã trình bày “ông đi ruộng ngang
thì ông Trần Văn Khoảnh, ông Lâm Hoa cùng kêu ông vào tên làm
chứng”. Như vậy, ông Liêm đã xác định tờ chuyển nhượng ông vào do
nguyên đơn bđơn kêu ông vào chứng kiến. Ngoài ra, liền kề với phần đất đang
tranh chấp là đất của ông Nguyễn Văn Út và ông Trần Phước Hiển. Theo lời khai
của của ông Nguyễn Văn Út ông Trần Phước Hiển thì cách đây hơn 20 năm,
ông Út ông Hiển đi thăm ruộng thấy ông Khoảnh cha của bà đang nhổ
trụ đá, ban bvà lấp ao phần đất của ông Lâm nên các ông hỏi do tại sao
ông Khoảnh lại nhổ hết trụ đá. Ông Khoảnh trả lời là ông Khoảnh đã mua hết đất
này của ông Lâm. Theo ông Hiển và ông Út thì từ đó đến nay thì chthấy gia đình
ông Khoảnh sử dụng. Mặt khác, vào năm 2013 sau khi nhận nhượng đất thì gia
đình bị đơn đã cho Trần Thanh Thúy thuê đất này, Thúy người thuê đất
của bà Lý từ năm 2013 cho đến khi quy hoạch của nhà nước vào năm 2023.
thuê tổng cộng 13 công đất trong đó có đất đang tranh chấp. Đất 13 công này đã
được bbằng phẳng. Khi thuê thì không thấy ai đến ngăn cản đã sdụng
đất thuê cho đến khi có quy hoạch là năm 2023.
12
[4] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định giữa nguyên đơn và gia
đình bị đơn có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phía nguyên đơn đã nhận
xong số vàng chuyển nhượng là 15 chỉ vàng 24k, đã giao Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho bị đơn và giao đất cho bđơn canh tác từ 1993 cho đến khi Nhà
nước Quyết định thu hồi đất nên Hội đồng xét xử công nhận việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của các bên theo điểm b3 tiểu mục 2.3 mục II Nghị
quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao và Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Tại Công văn số , ngày 05/9/2025 của Trung tâm phát triển Quỹ đất,
thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ xác định tổng giá trị bồi thường liên
quan đến đất và cây trồng trên đất là 2.491.980.000đ (hai tỷ, bốn trăm chín mươi
một triệu, chín trăm tám mươi ngàn đồng), trong đó, tiền bồi hoàn v đất
2.454.060.000đ, tiền bồi thường về lúa 37.920.000đ do bà Lý trực tiếp canh tác
nên được nhận toàn bộ số tiền 37.920.000đ (ba mươi bảy triệu, chín trăm
hai mươi ngàn đồng). Các đương sự tranh chấp về stiền bồi hoàn về đất
2.454.060.000 đồng. Căn cứ theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa
đất (bút lục số 86) thì thửa đất s897 diện tích 5.602,1m²; Phiếu xác nhận
kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất (bút lục số 87) thì thửa đất số 898 có diện tích
928m², tổng diện tích của 02 thửa đất 6.530,1m². Do đó, phần đất ông
Lâm, Hoa chưa chuyển nhượng cho ông Khoảnh là: 6.530,1m² 6.200m² =
330,1m². Đối với phần đất 330,1m² này, đồng ý giao cho nguyên
đơnđược nhận số tiền 125.970.781đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu chín trăm
bảy mươi ngàn bảy trăm tám mươi mốt đồng) là phù hợp nên ghi nhận.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên bị đơn không
phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, phía nguyên đơn người cao tuổi nên
được miễn án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 được miễn nộp tiền án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
* Tuyên xử: Chấp nhận kháng nghị số 06/QĐ-VKS-DS ngày 20-11-2025
của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ
13
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Lý.
1. Sửa bản án dân sự thẩm số 139/2025/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ cụ thể như sau:
Trần Thị những người đồng hàng thừa kế gồm: bà Trần Thị Kim
Mãi, Trần Thị Cục, Trần Thị Nhơn, Trần Thị Nhung, Trần Văn Hiếu, Trần Thị
Xuân được quyền liên hệ Trung tâm phát triển quỹ đất, thuộc Uỷ ban nhân dân
thành phố Cần Thơ để nhận số tiền: 2.366.009.219 đồng (Hai tỷ ba trăm sáu mươi
sáu triệu không trăm lchín ngàn hai trăm mười chín đồng) tiền lãi phát sinh
(nếu có).
Nguyễn Thị Kim Hoa những người đồng hàng thừa kế gồm: Trần
Thị Thanh, bà Trần Thị Huệ, ông Trần Văn Vốn, ông Trần Văn Lùng được quyền
liên hệ Trung tâm phát triển quỹ đất, thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ
để nhận số tiền: 125.970.781đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu chín trăm bảy
mươi ngàn bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ thuộc Uỷ ban nhân dân thành
phố Cần Thơ trách nhiệm chi trả số tiền cho các đương sự theo nội dung bản
án đã tuyên.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho nguyên đơn.
3. Án pdân sự phúc thẩm: Bị đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã
nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009500 ngày
12/11/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 4 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 4 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Tuyết Mai
14
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 600/2026/DS-PT Bản án số 600/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 600/2026/DS-PT Bản án số 600/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất