Bản án số 703/2026/DS-PT ngày 03/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 703/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 703/2026/DS-PT ngày 03/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 703/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 703/2026/DS-PT TRẦN HỒNG S-TRỊNH Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 703/2026/DS-PT Bản án số 703/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 703/2026/DS-PT Bản án số 703/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 703/2026/DS-PT
Ngày: 03-7-2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng và tặng cho
quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất
và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Ông Võ Bảo Anh
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Trương
Minh Diền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 262/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 02 năm
2026 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng và tặng cho quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 401/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Trần Hồng S, sinh năm: 1981 (có mặt)
2. Thị Sơn T, sinh năm: 1980. Cùng địa chỉ: số D, ấp S (nay ấp S), L,
thành phố Cần Thơ (có mặt)
2
- Bị đơn: Trịnh Q; Sinh năm: 1980. Địa chỉ: số C, ấp S, xã L, thành phố
Cần Thơ (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Trịnh Thị M, sinh năm: 1968. Địa chỉ: số B, ấp P (nay ấp P), L,
thành phố Cần Thơ (có mặt).
2. Trịnh Thị S1; Sinh năm: 1967. Địa chỉ: số B, ấp P (nay ấp P), L, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thái T1, Dương Thị Y, ông
Minh L, Trần Như T2. Cùng địa chỉ: Số B, đường sD, khu dân H, khu
V, phường A, thành phố Cần Thơ. (ông T1 có mặt, còn lại vắng)
3. Huỳnh K, sinh năm: 1964. Địa chỉ: số B, ấp P (nay ấp P), L,
thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
4. Trịnh T3, sinh năm: 1964. Địa chỉ: số D, ấp H, L, thành phố Cần Thơ (có
mặt).
5. Ông Trịnh U; Sinh năm: 1999. Địa chỉ: số D, ấp H, L, thành phố
Cần Thơ (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp cho ông Trịnh U: Ông Trịnh T3, sinh năm:
1964. Địa chỉ: số D, ấp H, xã L, thành phố Cần Thơ. Văn bản ủy quyền ngày
20/12/2024 (có mặt).
- Người kháng cáo:
1. Ông Trần Hồng S, bà Lê Thị Sơn T là nguyên đơn
2. Trịnh Thị S1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông S, T trình bày nội dung yêu cầu khởi kiện như
sau: Vào tháng 02/2020 vợ chồng ông, nhận chuyển nhượng của Trịnh
Thị M phần đất có diện tích 9.089m
2
, thuộc thửa đất số 357, tờ bản đồ số 01, tọa
lạc ấp S, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (cũ). Phần đất này ông, đã được Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh S (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s
CU031214, cấp ngày 06/3/2020, đất diện tích 9.089,0m
2
, thuộc thửa đất số
357 tại địa chỉ trên. Sau khi nhận chuyển nhượng nhận đất thì ông, chuẩn
bị cải tạo ao nuôi tôm thì ông Trịnh Q em trai của Trịnh Thị M ra ngăn
cản, ông Q cho rằng, khi ông, nhận chuyển nhượng đất của M thì trong
đó có 01 phần đất của ông Q có diện tích 750m
2
. Ông Q dựng hàng rào tre
chiếm lại phần đất nêu trên. Nay ông, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
Trịnh Q phải trả lại cho ông, bà phần đất có diện tích là theo thực tế đo đạc.
3
* Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T, ông S, bị đơn ông Q có ý
kiến phản tố như sau: Ông S T nhận chuyển nhượng đất của Trịnh
Thị M giáp với thửa đất ông đã nhận chuyển nhượng của ông Trịnh Uyên .
Trong quá trình ông S, bà T làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
được cấp giấy thì đã làm cấp giấy trùm lên phần diện tích 750m
2
, thuộc thửa đất
số số 470, tờ bản đồ số 05, diện tích 23.009m
2
, tọa lạc tại ấp S, L, huyện
T, tỉnh Sóc Trăng (cũ) mà ông đã nhận chuyển nhượng lại của ông U. Ông S,
T làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phía ông Q cũng
không tên giáp ranh, nhưng không biết làm cách nào ông S, T đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Còn phần đất thuộc thửa đất số 470 (139), tờ bản đồ s05 (01), diện
tích 23.009m
2
nguồn gốc của cha mẹ ông ông Trịnh Xái D Quách
Thị L1 tặng cho Trịnh Thị S1. Thửa đất này S1 đã nhượng quyền thừa kế
lại cho ông Trịnh U vào năm 2015. Giữa S1 ông U lập hợp đồng
nhượng quyền “Tờ nhường quyền thừa kế” ngày 05/9/2015. Đến ngày
13/7/2019 thì ông U chuyển nhượng lại phần đất trên cho ông, khi chuyển
nhượng tm giấy chuyển nhượng (giấy tay). Hiện nay, phần đất này vẫn
do S1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển
nhượng đất thì ông canh tác đất từ đó cho đến nay và không có bất kỳ tranh chấp
nào với ai. Nay ông yêu cầu:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/7/2019
giữa ông Trịnh U với ông đối với thửa đất số 470, tờ bản đồ số 05, diện tích
23.009m
2
.
- Hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 031214 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông S và T ngày 06/3/2020 đối với
phần đất diện tích 750m
2
(nằm
trong tổng diện tích 9.089m
2
), thuộc 01 phần
thửa đất số 357, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Nhưng tại phiên tòa thẩm người đại diện hợp pháp cho ông Trịnh Quang X
rút toàn bộ yêu cầu phản tố.
* Những người quyền lợi, nghĩa vliên quan lần lượt ý kiến và yêu
cầu như sau:
- Trịnh Thị S1 trình bày và yêu cầu: ông Huỳnh K vợ chồng,
nhưng cá nhân bà có quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 470, tờ bản đồ số 05,
diện tích 23.009m
2
, loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc ấp S, xã L, huyện T, tỉnh
Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân huyện L (nay huyện T), tỉnh Sóc Trăng (cũ)
cấp cho hộ Trịnh Thị S1 ngày 28/10/2003. Nguồn gốc đất là do cha mẹ bà là ông
Trịnh Xái D (mất năm 2014) và bà Quách Thị L1 (mất năm 2022) tặng cho riêng
trong thời kỳ hôn nhân, ktừ khi được cha mẹ tặng cho đất thì người
quản canh tác đất, không tranh chấp với ai. Tuy nhiên, sau khi được
4
tặng cho đất canh tác một thời gian thì bà thấy cha mẹ còn khó khăn về kinh tế,
nên đã hợp đồng cho cha mẹ em trai ông Trịnh Quang M1 lại đcanh
tác, nuôi tôm, hợp đồng bằng lời nói, không lập thành văn bản. Sau đó, cha
mẹ nhu cầu vay vốn Ngân hàng để mở rộng sản xuất nuôi tôm, nên đã
dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thế chấp hợp đồng vay
vốn Ngân hàng dùm cho ông D L1. Hiện nay, cha mẹ đã qua đời, việc
trả nợ Ngân hàng cũng đã hoàn tất, nhưng ông Trịnh Q đã giữ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của không trả lại cho bà cũng không trả đất lại cho
canh tác, mặc dù bà đã nhiều lần yêu cầu ông Q trả. Nay bà yêu cầu:
1. Buộc ông Trịnh Q phải trả lại cho thửa đất số 470, tờ bản đồ số 05,
diện tích 23.009m
2
, loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc ấp S, xã L, huyện T, tỉnh
Sóc Trăng (cũ) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 344503 do Ủy ban
nhân dân huyện L (Nay huyện T), tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp cho hộ Trịnh Thị
S1 ngày 28/10/2003.
2. Buộc ông Trịnh Q phải trả lại cho bà bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số Y 344503 do y ban nhân dân huyện L (nay huyện T), tỉnh
Sóc Trăng cấp cho hộ Trịnh Thị S1 ngày 28/10/2003 (thửa đất số 470, tờ bản đồ
số 05, diện tích 23.009m
2
, loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc ấp S, xã L, huyện
T, tỉnh Sóc Trăng).
3. Đề nghị Tòa án hủy bỏ toàn bộ “Tờ nhường quyền thừa kế" thửa đất số
470, tbản đồ số 05, diện tích 23.009m², đất tại ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng lập ngày 05/9/2015.
4. Đ nghị Tòa án tuyên bố hiệu toàn bộ giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng thửa đất số 470, tờ bản đồ s05 (nay thửa đất số 139, tờ bản
đồ số 5), diện tích 23.009m², đất tại ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng giữa
Trịnh Q Trịnh Uyên . giữa Trịnh Thị S1 Trịnh U không mua bán,
tặng cho, nhường quyền thừa kế đối thửa đất 470 cũng không nhận bất cứ
khoản tiền nào của Trịnh Uyên .
- Ông Huỳnh K ý kiến: đnghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của
Trịnh Thị S1.
- Ông Trịnh U trình bày và yêu cầu: Nguồn gốc phần đất hiện nay đang
tranh chấp giữa Trịnh Thị S1 ông Trịnh Q do cha mẹ S1 tặng cho
S1S1 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa đất số
470, tờ bản đồ số 05, diện tích 23.009m
2
. Khi ông Trịnh Xái D (cha S1) còn
sống mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Trịnh Thị S1 đi thế
chấp cho Ngân hàng N2 Chi nhánh huyện L để vay tiền. Thời gian đầu S1
canh tác đất, đến ngày 05/9/2015 S1 bỏ đi Thành phố Hồ Chí Minh làm
thuê, nhưng do không tiền đi, nên nói với cha ông ông Trịnh T3 cho
thêm số tiền 50.000.000 đồng, trước đó ông T3 cũng cho bà S1 một số
5
tiền, tổng cộng ông Trịnh T3 đã cho S1 số tiền 115.000.000 đồng. Sau đó,
S1 đã nhượng quyền thừa kế lại (tặng cho) ông phần đất nêu trên và ông phải
chịu trách nhiệm trả tiền cho Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 470. Việc nhượng quyền phần đất trên làm giấy
nhượng quyền ngày 05/9/2015 (giấy tay), anh em trong gia đình làm chứng
gồm Trịnh Thị M, ông Trịnh N, ông Trịnh Q, ông Trịnh Xa T3 và chính
quyền địa phương chứng kiến là ông Dư Văn L2 - trưởng ban nhân dân ấp. Thời
gian đầu cha ông ông Trịnh T3 người trực tiếp canh tác phần đất trên. Sau
đó, đến năm 2019 thì do ông đi học đại học Cần Thơ không có điều kiện canh
tác, nên cha của ông là ông Trịnh T3 kêu ông Q chuyển nhượng lại phần đất trên
cho ông Trịnh Q với giá 200.000.000 đồng, khi chuyển nhượng thì làm giấy
chuyển nhượng (giấy tay). Nay Trịnh Thị S1 cho rằng phần đất trên là của bà
S1 yêu cầu ông Trịnh Q phải trả lại phần đất trên là vô lý, vì phần đất này
S1 đã nhượng quyền (tặng cho) lại ông ông cũng đã hợp đồng chuyển
nhượng lại cho ông Trịnh Q, hiện nay ông Trịnh Q cũng đang canh tác. Tuy tựa
đề ghi “Tờ nhường quyền thừa kế", nhưng bản chất hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất, do không hiểu biết pháp luật, nên các bên ghi “Tờ nhường
quyền thừa kế". Nay ông yêu cầu Tòa án công nhận “Tờ nhường quyền thừa kế"
được lập ngày 05/9/2015 giữa ông với bà Trịnh Thị S1 đối với thửa đất số 470,
tờ bản đồ số 05 (Nay thửa đất số 139, tờ bản đồ số 01), diện tích 23.009m²
(theo đo đạc thực tế là 21.745m
2
), đất tại ấp S, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng lập
ngày 05/9/2015 (Nay là ấp S, xã L, thành phố Cần Thơ).
- Ông Trịnh T3 có ý kiến: đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc
lập của ông Trịnh Uyên .
- Trịnh Thị M trình bày: Vào tháng 02/2020 vợ chồng ông S T
nhận chuyển nhượng của 01 phần đất diện tích 9.089,0m
2
, thuộc thửa
đất số 357, tờ bản đsố 01, tọa lạc ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Phần
đất này ông S T đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh S (cũ) cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 031214, cấp ngày 06/3/2020, đất
diện tích 9.089,0m
2
, thuộc thửa đất số 357, tờ bản đồ s01, tọa lạc ấp S, L,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Bà thống nhất theo yêu cầu của ông S bà T, đề nghị
Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S và bà T.
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xthẩm công khai. Tại
bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Hồng S
Thị Sơn T về việc yêu cầu buộc bị đơn phải hoàn trả lại phần đất đã lấn
chiếm có diện tích là 257,2m
2
01 phần thuộc thửa đất số 357, tờ bản đồ số 01,
tọa lạc ấp S, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Nay là ấp S, xã L, thành phố C).
6
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Trịnh Quang .1
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trịnh U: Công nhận Tờ nhường quyền thừa kế (Hợp đồng tặng cho) được lập
ngày 05/9/2015 giữa ông Trịnh U với bà Trịnh Thị S1 đối với thửa đất số 470, tờ
bản đồ số 05 (nay thửa đất số 139, tờ bản đồ số 01), diện tích 23.009m² (theo
đo đạc thực tế là 21.745m
2
), đất tại ấp S, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng lập ngày
05/9/2015 (Nay là ấp S, xã L, thành phố Cần Thơ).
4. Chấp nhận 01 phần yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Trịnh Thị S1: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 13/7/2019 giữa ông Trịnh U với ông Trịnh Q đối với thửa đất số 470, tờ
bản đồ số 05, diện tích 23.009m
2
, tọa lạc tại ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng (Nay là ấp S, xã L, thành phố Cần Thơ) là vô hiệu.
5. Không nhận 01 phần yêu cầu độc lập yêu cầu độc lập của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị S1 về việc yêu cầu:
- Buộc ông Trịnh Q phải trả lại cho S1 thửa đất số 470, tờ bản đồ số
05, diện tích 23.009m
2
, loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc ấp S, L, huyện T,
tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y344503 do y ban
nhân dân huyện L cũ cấp cho hộ Trịnh Thị S1 ngày 28/10/2003.
- Buộc ông Trịnh Q phải trả lại cho bà Trịnh Thị S1 bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số Y344503 do Ủy ban nhân dân huyện L cũ cấp cho hộ
Trịnh Thị S1 ngày 28/10/2003 (thửa đất s 470, tờ bản đồ số 05, diện tích
23.009m
2
, loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng).
- Đề nghị Tòa án hủy bỏ toàn bộ “Tờ nhường quyền thừa kế" thửa đất số
470, tbản đồ số 05, diện tích 23.009m², đất tại ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng lập ngày 05/9/2015.
- Đề nghị bà S1 thực hiện việc trưng cầu giám định chữ viết và chữ ký lại.
6. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định
quyền kháng cáo của các đương sự.
*Ngày 22/9/2025 Trịnh Thị S1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà.
*Ngày 23/9/2026, ông S và bà T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, bà.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện kháng cáo. Thống
nhất phần tranh chấp theo cấp phúc thẩm đo đạc.
7
- Bị đơn ông Q không đồng ý với các kháng cáo của nguyên đơn ông S,
T Trịnh Thị S1. Thống nhất số liệu đo đạc phần tranh chấp của cấp
phúc thẩm thực hiện.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan S1 vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, thấy rằng, cấp thẩm xét xử chưa đúng quy định nên
đề nghị sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà S1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Việc vắng mặt một số người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, thấy rằng, những người này đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng
vẫn vắng mặt không vì trở ngại khách quan, người đại diện nên tiến hành xét
xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông S, bà T:
[2.1] Qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa hôm nay xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, sở xác định: nguồn gốc đất của nguyên đơn ông
S, T nhận chuyển nhượng từ Trịnh Thị M, thửa 61, cấp ngày
28/10/2003 diện tích 9.089m
2
. Năm 2020 cấp cho nguyên đơn vẫn diện tích
9.089,0m
2
, thuộc thửa đất số 357. Tuy nhiên, theo đo đạc thực tế tại cấp phúc
thẩm (theo sự chỉ ranh của ông Q) 8.221,0m
2
(tại vị trí A theo đồ đo đạc
hiện trạng ngày 04/6/2026) chênh lệch thiếu 868m
2
, nếu tính đất qua đo đạc thực
tế theo chỉ ranh của ông S, bà T, S1 (gồm vị trí A, B) thì phần tranh chấp
được xác định diện tích 9.108,8m
2
thì thừa 19,8m
2
. Thửa 357 của nguyên
đơn ông S, bà T giáp thửa 470 là của bà Trịnh Thị S1 đứng tên, hiện ông S, bà T
cho rằng ông Trịnh Quang ngăn C rào chiếm (vì ông Q cho rằng đã nhận chuyển
nhượng từ Trịnh U và đang quản lý, sử dụng). Giấy đất thửa 470 bà S1 được cấp
23.009m
2
nhưng qua đo đạc thực tế diện tích (theo chỉ ranh ông Q) chỉ
20.678,3m
2
. Nếu như theo sự chỉ ranh bà S1 thì thửa 470 gồm vị trí C, D có diện
tích 27.652,9m
2
. Như vậy, so với phần diện tích đất thửa 470 của S1 được
cấp giấy thì diện tích thực tế sử dụng còn thiếu 2.330,7m
2
nếu theo chỉ ranh ông
Q, nhưng lại thừa theo chỉ ranh của S1 4.643,9m
2
, nhưng để xác định giữa
các bên lấn chiếm đất hay không, không phải chỉ căn cứ vào việc xem xét
diện tích được cấp giấy so với diện tích sử dụng thực tế, còn căn cứ vào quá
8
trình sử dụng đất thực tế giữa hai bên đặc biệt phần đất tranh chấp ai đang sử
dụng, việc sử dụng của một bên thì bên giáp ranh có phản đối hay không.
[2.2] Theo như hồ cấp giấy ban đầu cho M thửa 61 thì hướng
Bắc giáp kênh thuỷ lợi số đo 115m, hướng đông giáp thửa 52 (nay là thửa
114, 115) 87m, hướng tây giáp kênh thuỷ lợi 75,6m, hướng nam giáp thửa
470 (của bà S1) 113m.
[2.3] Theo như hồ cấp giấy cho nguyên đơn ông S, bà T năm 2020 khi
nhận chuyển nhượng từ M thì các số đo hiện trạng như sau: hướng bắc giáp
kênh thuỷ lợi số đo 117,5m, hướng đông giáp thửa 52 (nay thửa 114,
115) là 87,65m, có đoạn 0,5m, hướng tây giáp kênh thuỷ lợi 69,61m, hướng nam
giáp thửa 470 (của bà S1) 114,72m. Qua các số đo khi cấp giấy cho bà M và cho
nguyên đơn khi làm giấy thì cho thấy số đo các cạnh có sự thay đổi.
[2.4] đo theo hiện trạng thì thửa đất của nguyên đơn (tính theo chỉ
ranh của ông Q, không tính phần tranh chấp) lại số đo như sau: hướng bắc
giáp kênh thuỷ lợi có số đo 118,16m, hướng đông giáp thửa 114, 115 là 79,95m,
hướng tây giáp kênh thuỷ lợi 61,32m, hướng nam giáp thửa 470 (của S1)
116,02m. Qua kết quả các lần đo khi cấp giấy đo hiện trạng cho thấy số đo
các cạnh đều sự thay đổi. Đặc biệt, tại số đo hướng đông giáp thửa 114, 115
theo hiện trạng thì 79,95m nhưng theo như hồ sơ cấp giấy cho nguyên đơn thì
87,65m là chênh lệch thiếu 7,7m. Còn cạnh hướng bắc giáp kênh thuỷ lợi tương
đối chênh lệch tăng 0,66m. Số đo hướng tây chênh lệch thiếu 69,61m –
61,32m = 8,29m, nếu tính đoạn tranh chấp 5,18m thì vẫn thiếu 3,11m, hướng
nam giáp thửa 470 cũng không chênh lệch nhiều chỉ 0,23m. Điều này cho thấy,
qua quá trình sử dụng sự thay đổi về tổng diện tích cũng như về số đo các
cạnh nên việc nguyên đơn thiếu đất hay thừa do diễn biến quá trình sử
dụng đất và việc đo đạc không được chính xác.
[2.5] Nguyên đơn cho rằng ông Q dựng hàng rào tre lấn chiếm, nhưng
ông Q không thừa nhận, Tòa án cấp thẩm phúc thẩm xem xét, thẩm
định tại chỗ thì trên phần đất tranh chấp cũng không hàng rào theo trình bày
của nguyên đơn. Các đương sự sử dụng đất liền kề với nhau nhưng lại không
ranh cụ thể xác định giữa hai phần đất nên nếu như tính phần tranh chấp thuộc
thửa 357 của nguyên đơn căn cứ bởi lẽ tương đương diện tích đất
nguyên đơn được cấp giấy khi nhận chuyển nhượng chỉ chênh lệch tăng 19,8m
2
là do các cạnh hướng bắc giáp kênh thuỷ lợi và hướng nam giáp thửa 470 có dài
hơn so với thời điểm cấp giấy, nhưng phần tranh chấp chủ yếu được xác định tại
cạnh hướng tây giáp kênh thuỷ lợi hướng đông giáp thửa 114, 115 nên tính
đoạn tranh chấp vào thửa thửa 357 đảm bảo các số đo khi cấp giấy cho
nguyên đơn, mặt khác, phía bà S1 là chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử
9
dụng đất xác định phần tranh chấp vị trí B của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu
khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của bà S1:
[3.1] Xét nguồn gốc đất của bà S1 có được là do thừa kế từ cha ruột là ông
Trịnh Xái D, ngày 28/10/2003 S1 được cấp giấy qua thủ tục thừa kế. Phía
ông Trịnh U cho rằng năm 2015 bà S1 đi S nên đã nhượng lại quyền hưởng thừa
kế (tặng cho) cho ông U, có làm giấy ba ông là ông Trịnh T3 đưa tiền cho
S1 tổng cộng 115.000.000đ để giao toàn bộ phần đất cho ông U. Xét đơn
nhường quyền, thấy rằng, bà S1 đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất
năm 2003, năm 2015 làm tờ nhường quyền thừa kế cho Trịnh U, nay
không đồng ý quyền quyết định của bà, quyền thay đổi ý chí của mình.
Còn nếu như xác định tờ nhường quyền thừa kế xem như việc chuyển nhượng
hoặc tặng cho thì các bên chưa tuân thủ đúng quy định, hiện phần đất vẫn chưa
làm thủ tục sang tên cho ông U, ông U cũng không yêu cầu S1 làm thủ tục
sang tên cho mình, nên giả sử việc tặng cho hay chuyển nhượng thì cũng
không hiệu lực theo các quy định pháp luật đất đai, không hợp đồng cũng
như không đăng tại quan thẩm quyền nên không thể công nhận hợp
đồng này.
[3.2] Phía ông Trịnh U sau khi được nhượng quyền từ S1 thì đã
chuyển nhượng cho ông Trịnh Quang N1 ông Q canh tác đã tranh chấp ranh
với nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm ông Q yêu cầu
công nhận phần đất này, nhưng đã rút yêu cầu. Hiện phần đất này bà S1 đang
đứng tên, như trên nhận định, việc nhượng quyền từ S1 cho ông Trịnh U
không được công nhận. Cấp sơ thẩm tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng
giữa ông U ông Q căn cứ. Do đó, kháng cáo của S1 đòi lại phần đất
này từ ông Q, đòi lại bản chính giấy chứng nhận ông Q đang giữ, hủy bỏ tờ
nhường quyền thừa kế là có căn cứ chấp nhận.
[4] Đối với số tiền phía ông U cho rằng ba ông là Trịnh T3 đã giao cho bà
S1, cũng như tiền chuyển nhượng giữa ông U và ông Q được giải quyết trong vụ
án khác nếu đương sự có yêu cầu.
[5] Đối với phần đất thửa 470 của S1 thì theo như đồ hiện trạng thể
hiện tại vị trí C 20.678,3m
2
theo xác định ranh của ông Q, còn theo xác
định ranh của S1 thì thêm vị trí D diện tích 6.974,6m
2
, nhưng ông Q
không thống nhất ông Q cho rằng vị trí D thuộc thửa 139 của ông chứ không
thuộc thửa 470 của S1, đây tranh chấp mới phát sinh giữa hai thửa liền k
470 139 nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác. Do đó, khi thực hiện việc
giao trả đất thì buộc ông Q trả thửa đất 470 cho bà S1 tại vị trí C theo sơ đồ hin
trạng.
10
[6] Với những nhận định trên n đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định pháp luật.
[7] Về chi phí tố tụng:
[7.1] Chi phí giám định: 3.040.000đ, S1 phải chịu. Ông U đã tạm ứng
nên bà S1 trả lại cho ông U số tiền này.
[7.2] Chi phí thẩm định, định giá:
- Đối với việc thẩm định đất theo yêu cầu nguyên đơn ông S, T tại cấp
thẩm được chấp nhận nên ông Q phải chịu chi phí 7.186.258đ, ông Q trả cho
ông S, bà T số tiền này.
- Đối với phần đất thửa 470 tại cấp thẩm: chi phí hai lần: 8.223.510đ
(bà S1 nộp) và 8.265.509đ (ông U nộp). Yêu cầu bà S1 được chấp nhận nên ông
U ông Q cùng phải chịu. Phần ông U đã thực hiện xong. Ông Q có nghĩa vụ
trả lại cho bà S1 số tiền 8.223.510đ.
-Tại cấp phúc thẩm: 13.756.360đ, nguyên đơn ông S, T S1 đều
có yêu cầu nên cùng phải chịu. Đã thực hiện xong.
[8] Về phần án phí:
[8.1] thẩm: Ông Trịnh U, ông Q mỗi người phải chịu 300.000đ do yêu
cầu nguyên đơn và bà S1 được chấp nhận.
[8.2] Phúc thẩm: Nguyên đơn ông S, T S1 không phải chịu do
kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hồng S, bà Lê Thị Sơn T.
- Chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị S1.
- Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 09 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hồng S và
Lê Thị Sơn T.
1.1. Công nhận phần đất tranh chấp diện tích 887,8m
2
tại vị tB
(theo đồ đo đạc hiện trạng số 323/VPĐK.DV ngày 04/6/2026 của Văn phòng
11
đăng đất đai thành phố C) thuộc thửa 357 theo giấy chứng nhận đất số CU
031214, số vào sổ cấp GCN CS01336 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh S
(cũ) cấp ngày 06/3/2020 cho ông S, bà T.
1.2. Buộc bị đơn ông Trịnh Q phải trả lại phần đất có diện tích là 887,8m
2
tại vị trí B (theo đồ đo đạc hiện trạng số 323/VPĐK.DV ngày 04/6/2026) cho
ông S, bà T.
1.3. Ông Trần Hồng S và bà Thị Sơn T được quyền liên hệ cơ quan
thẩm quyền đăng ký chỉnh lý biến động diện tích đất theo kết quả bản án.
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Trịnh Q về việc:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/7/2019
giữa ông Trịnh U với ông Trịnh Q đối với thửa đất số 470, tờ bản đồ số 05,
diện tích 23.009m
2
, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 031214 do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh S cấp cho ông Trần Hồng S và Thị Sơn T
ngày 06/3/2020 đối với phần đất diện tích 750m
2
(nằm
trong tổng diện tích
9.089m
2
), thuộc 01 phần thửa đất số 357, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp S, L,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng (cũ).
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Trịnh U về: Công nhận Tờ nhường quyền thừa kế được lập ngày 05/9/2015
giữa ông Trịnh U với Trịnh Thị S1 đối với thửa đất số 470, tờ bản đồ số 05,
diện tích 23.009m², đất tại ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (cũ) lập ngày
05/9/2015.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trịnh Thị S1:
4.1. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
13/7/2019 giữa ông Trịnh U với ông Trịnh Q đối với thửa đất số 470, tờ bản đồ
số 05, có diện tích 23.009m
2
, đất tọa lạc ấp S, xã L, thành phố Cần Thơ.
4.2. Buộc ông Trịnh Q phải trả lại cho S1 diện tích đất 20.678,3m
2
tại
vị trí C (theo sơ đồ đo đạc hiện trạng số 323/VPĐK.DV ngày 04/6/2026 của Văn
phòng đăng đất đai thành phố C) thửa đất số 470, tờ bản đồ số 79, loại đất
NTS, đất tọa lạc ấp S, L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (cũ) theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số Y 344503 ngày 28/10/2003 do Ủy ban nhân dân huyện L
(cũ) cấp cho hộ Trịnh Thị S1.
4.3. Buộc ông Trịnh Q phải trả lại cho Trịnh Thị S1 bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 344503 ngày 28/10/2003 do Ủy ban nhân
dân huyện L (cũ) cấp cho hộ Trịnh Thị S1. Trường hợp ông Q không trả, đề
nghị cơ quan thẩm quyền thu hồi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho hộ bà Trịnh Thị S1 theo kết quả của Bản án.
12
4.4. Hủy bỏ “Tờ nhường quyền thừa kế" thửa đất số 470, tờ bản đồ số 05,
diện tích 23.009m², đất tại ấp S, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng lập ngày
05/9/2015 giữa bà Trịnh Thị S1 và ông Trịnh Uyên .
5. Về chi phí tố tụng:
5.1. Bà S1 trả lại cho ông U số tiền 3.040.000đồng,
5.2. Ông Q có nghĩa vụ trả lại cho bà S1 số tiền 8.223.510đồng.
6. Về án phí:
6.1. Sơ thẩm:
-Nguyên đơn ông S, T được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0002185 ngày 24 tháng 6
năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (nay
là Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Cần Thơ).
-Ông Trịnh Q phải nộp 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007142
ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh
Sóc Trăng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Cần Thơ).
-Ông Trịnh U phải nộp 300.000đ, nhưng được trừ o số tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án ps0011435 ngày 09 tháng 11 năm
2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (nay
Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Cần Thơ).
-Bà S1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 900.000 đồng theo biên
lai thu tạm ứng án phí số 0006806 ngày 22 tháng 5 năm 2023 theo biên lai
thu tạm ứng án phí số 0000006 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (Nay Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 9 – Cần Thơ).
6.2. Phúc thẩm:
- Ông S, T được nhận lại 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 0003462 ngày 23/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần
Thơ.
- S1 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai thu số 0003461 ngày 23/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tnguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
13
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 9 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 9 Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 703/2026/DS-PT Bản án số 703/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 703/2026/DS-PT Bản án số 703/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất