Bản án số 1051/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1051/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1051/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1051/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc T - Trần Văn B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1051/2026/DS-PT Bản án số 1051/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1051/2026/DS-PT Bản án số 1051/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1051/2026/DS-PT
Ngày: 18-8-2026
V/v tranh chấp giao dịch dân sự, hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Huỳnh Thị Hồng Vân
ông Trần Trọng Nhân
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai ván thụ số 331/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 5 năm 2026
về “Tranh chấp giao dịch dân sự, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp
đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số 25/2026/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 447/2026/-PT ngày 03 tháng 6 năm
2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1974; địa chỉ: Số I đường V,
ấp C, V, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: Số I đường V, khu phố C, thị trấn V, huyện
V, tỉnh Long An;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị Ngọc T: ông Bùi
Lưu L, Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số F, ấp B,
Khu phố D, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: ông Trần Văn B, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp T, T, tỉnh Đồng Tháp;
địa chỉ cũ: xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập: Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Á2 (A); địa chỉ: Số D đường N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh;
địa chỉ cũ: Số D đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Từ Tiến P (Tổng Giám đốc).
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Đỗ Q; địa chỉ: Số A đường N, phường M, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ cũ:
Số A đường N, Phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang;
2. Ông Đào Hoàng N, sinh năm 1992; địa chỉ liên lạc: Số D đường C, phường
N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đồng Thị Á, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ
cũ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
2. Ông Trần Văn T1; địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.
3. Ủy ban nhân dân huyện V (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Tây Ninh); địa chỉ trụ sở: đường C ấp M, xã V, tỉnh
Tây Ninh.
4. Thi hành án dân sự tỉnh Đ; địa chỉ trụ sở: khu phố C, xã C, tỉnh Đồng Tháp
Người đại diện theo pháp luật: ông Quang H (Trưởng Thi hành án dân sự
tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo y quyền (theo văn bản ủy quyền số 671/GUQ-THADS
ngày 06/3/2026)
4.1. Ông Đoàn Văn P1 (Trưởng phòng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-
Đồng Tháp);
4.2. Trương Thị Kim Q1 (Phó Trưởng phòng Phòng Thi hành án dân skhu
vực 3-Đồng Tháp).
5. Văn phòng C1; địa chỉ: ấp M, V, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: khu phố M,
thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An.
6. Ngân hàng TMCP X; địa chỉ trụ sở: Tầng H, Văn phòng số L+16 Tòa n
V, số G L, phường S, Tp ..
Người đại diện theo pháp luật: Phạm Thị Huyền T2 (Chủ tịch Hội đồng
quản trị).
Người đại diện theo ủy quyền của T2 (theo văn bản ủy quyền số
18/2025/EIB/UQ-EIB ngày 04/12/2025): ông Trịnh Thanh S (Giám đốc Ngân hàng
TMCP X, Chi nhánh T5);
Người đại diện theo ủy quyền của ông S (theo văn bản ủy quyền 16/6/2026):
ông Lâm Tấn N1 (Trưởng phòng Phòng khách hàng cá nhân, chi nhánh E). Địa chỉ:
3
số A H, phường M, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ cũ: Số G L, Phường A, thành phố M,
tỉnh Tiền Giang.
7. Công ty TNHH N2; địa chỉ: Số D B, đường B, phường B, Thành phố
Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ: Số D Cư Xá B, đường B, Phường E, Quận H, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: nguyên đơn, Nguyễn Thị Ngọc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 28/3/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/3/2025
trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc
T trình bày:
Ngày 04 tháng 02 năm 2013, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
(quyền sử dụng đất sau đây được viết tắt QSDĐ) của ông Nguyễn Văn C, diện
tích đất 298m
2
, tại thửa 226, loại đất đô thị diện tích đất 661m
2
tại thửa đất số
1058, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại khu phố C, thị
trấn V, huyện V, tỉnh Long An. Ngày 09/02/2015, bà được Ủy ban nhân dân huyện
V, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất sau đây được viết tắt là GCNQSDĐ) số BX 751518 và số BX 751519.
Trên thửa 226, đã xin phép xây dựng nhà ở, kết cấu xây dựng tường gạch, máy
tole, nền lát gạch có diện tích 298m
2
.
Đến ngày 10/02/2015, lập Văn bản thỏa thuận về việc đứng tên hộ (giùm)
đối với QSDĐ tài sản gắn liền với đất cho ông Trần Văn B để tránh thực hiện
nghĩa vụ với bên thứ ba.
Ngày 22/6/2015, lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (không có tài sản gắn
liền với đất) cho ông B, được Văn phòng C1 chứng thực số công chứng 2552, quyển
sổ 03/2015-TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngày 08/8/2016, ông B được Ủy ban nhân dân huyện V (cũ) cấp GCNQSDĐ
số 569709 thửa 226 (có hợp nhất diện tích 250m
2
thuộc 01 phần thửa 1058) diện
tích 548m
2
điều chỉnh trang 4 đối với GCNQSDĐ, nên thửa 1058 diện tích còn
lại là 411m
2
.
Mặc ông B đã được cấp GCNQSDĐ, nhưng T vẫn trực tiếp quản
sử dụng đất. Sau đó, bà T phát hiện ông B đã thế chấp GCNQSDĐ cho Ngân hàng
A để vay tiền, nên bà khởi kiện yêu cầu:
- Hủy Văn bản thỏa thuận việc đứng tên hộ đối với QSDĐ, tài sản gắn liền với
đất giữa bà với ông Trần Văn B lập ngày 10/02/2015;
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ theo văn bản công chứng số 2552,
quyền số 03/2015-TP/CC-SCC/HDGD, ngày 22/6/2015;
4
- Hủy Hợp đồng thế chấp QSDĐ giữa ông B, bà Á với Ngân hàng A để bà T
được QSDĐ thửa 226 và thửa 1085 tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại khu phố C, thị trấn V,
huyện V, tỉnh Long An (nay là xã V, tỉnh Tây Ninh) và tài sản trên đất.
Bị đơn ông Trần Văn B trình bày:
Ông thừa nhận có đứng tên hộ T QSthửa 226 thửa 1085, giai đoạn
này cha ruột T đang nợ nhiều người nên sợ liên quan. Sau đó, ông đã thế chấp
QSDĐ cho Ngân hàng A để đảm bảo cho hợp đồng vay từ năm 2016 cho đến nay
với số tiền gốc còn nợ 3.200.000.000 đồng và nợ tiền lãi, mở thẻ tín dụng hạn mức
số tiền là 50.0000.000 đồng. Ban đầu ông vay 1.300.000.000 đồng, khi bà T biết sự
việc thì ông giao hàng hóa cho T với số tiền khoảng 1.000.000.000 đồng, số
tiền vay còn lại ông kinh doanh bất động sản và thua lỗ hết. Ông có hứa sang tên trả
QSDĐ cho bà T nhưng chưa có tiền trả ngân hàng nên chưa thực hiện được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Theo đơn yêu cầu độc lập ghi ngày 24/5/2023 và trong quá trình giải quyết vụ
án tại cấp sơ thẩm, A do ông Đào Hoàng N đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 17/11/2016, A cho vợ chồng ông Trần Văn B Đồng Thị Á vay
số tiền 1.300.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số CLA.CN. 328.141116. Ông
B, bà Á có thế chấp thửa đất 226 và tài sản gắn liền với đất. Sau đó, ông B, bà Á đã
tất toán khoản vay này.
Đến ngày 23/3/2023, ông B, bà Á tiếp tục vay số tiền 3.200.000.000 đồng, theo
Hợp đồng tín dụng số CLA.CN.2867.220323, Khế ước nhận nợ ngày 28/3/2023,
thời hạn vay 06 tháng từ ngày 29/3/2023 đến ngày 29/9/2023, lãi suất trong hạn
11%/năm, cố định 03 tháng đầu, sau đó điều chỉnh theo công thức lãi suất cho vay
(%/năm) = LSCS + 3,00%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi
suất chậm trả lãi 10%/năm, trả lãi vào ngày 18 hàng tháng. Ông B, Á đã thanh
toán được 02 lần, mỗi lần khoảng 20.000.000 đồng nên nợ lại gốc 3.199.999.988
đồng, nợ lãi trong hạn 13.501.370 đồng, nợ lãi quá hạn là: 1.485.632.875 đồng,
lãi chậm trả lãi: 139.107.969 đồng (10%/năm).
Ngoài ra, ông B còn vay thẻ tín dụng ngày 28/02/2022 số tiền 50.000.000
đồng, đến nay còn nợ gốc 42.095.953 đồng, nợ lãi tính từ ngày 10/11/2023 đến
24/3/2026 là 27.379.491 đồng.
Để đảm bảo các khoản vay, ông B, bà Á ký 02 hợp đồng thế chấp QSDĐ và
tài sản gắn liền với đất, cụ thể: Hợp đồng số CLA.BĐCN.166.141116 ngày
15/11/2016 thế chấp thửa đất số 226 và tài sản gắn liền với đất theo GCNQSDĐ đã
cấp cho ông B; Hợp đồng số CLA.BĐCN.149.150920 ngày 15/9/2020 thế chấp bổ
sung thửa đất 1058 cam kết thế chấp tài sản ngày 17/02/2022; các hợp đồng thế
chấp đều được công chứng và đăng ký tài sản thế chấp theo quy định.
Ngân hàng A không đồng ý toàn bộ khởi kiện của T và yêu cầu ông Trần
Văn B Đồng Thị Á liên đới trả cho A số nợ gốc và lãi còn thiếu tạm tính đến
ngày 24/3/2026 là 4.907.717.646 đồng tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng
5
cho đến khi thanh toán hết nợ; yêu cầu tiếp tục thực hiện các hợp đồng thế chấp tài
sản là toàn bộ QSDĐ, tài sản gắn liền với đất của bên thế chấp đối với các thửa đất
số 226 và 1058 để đảm bảo thi hành án cho khoản vay nêu trên.
Chủ tịch UBND V trình bày: ông Trần Văn B bà Nguyễn Thị Ngọc T
thực hiện chuyển QSDĐ diện tích 298m
2
tại thửa 226 (đất đô thị) diện tích
661m
2
thửa số 1058 (đất trồng lúa nước). Hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng
C1 chứng nhận số 2552 quyển số 03/2015-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/6/2015.
Ông B được cấp GCNQSDĐ theo trình tự thủ tục quy định và đã thực hiện các thủ
tục tách thửa, hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng đối với diện tích 250m
2
thuộc một
phần thửa 1058, lập thủ tục cấp giấy phép xây dựng và được cấp GCNQSDĐ quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (có tài sản gắn liền với đất) số phát hành
569709 ngày 08/8/2016. Ông Trần Văn B là người thực hiện tất cả các thủ tục hành
chính liên quan từ khi nhận chuyển nhượng đất của T. Đề nghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Văn phòng C1 Văn bản số 99/CV-VPCC ngày 23/10/2023 trình bày: ngày
22/6/2015, Văn phòng C1 (nay Văn phòng C1) có nhận được yêu cầu công chứng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Ngọc T ông Trần
Văn B. Công chứng viên Lê Thị Thu T3 đã nhận, kiểm tra và chứng nhận hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ đúng quy định Luật Công chứng và các Luật khác. Văn
phòng C1 không đồng ý đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa
bà T với ông B.
Đồng Thị Á trình bày: bà Á thống nhất trình bày của ông B về hợp đồng tín
dụng và thế chấp.
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp trình bày: ông B và bà Á có nghĩa vụ phải
thi hành án gồm: thi hành cho Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh T5 442.354.890
đồng, lãi phát sinh và án phí 10.847.097 đồng; cho T 8.470.000.000 đồng án
phí 58.235.000 đồng. Á ông T1 liên đới thi hành cho Công ty TNHH N2 số
tiền 181.066.159 đồng án phí 4.526.653 đồng. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật để không ảnh hưởng đến quyền lợi của những người
được thi hành án.
Công ty TNHH N2, Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh T5 và ông Trần Văn T1:
không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án.
Quá trình giải quyết vụ án
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An đã xử (tóm tắt):
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với ông
Trần Văn B về việc “hủy văn bản thỏa thuận về việc đứng tên hộ quyền sử dụng đất
lập ngày 10/02/2015” “hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
22/6/2015 được công chứng, số công chứng 2552, quyển số 03/2015-TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 22/6/2015.
6
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng, hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đấtgiữa Ngân hàng TMCP Á2 đối với ông Trần Văn
B, bà Đồng Thị Ánh .
Ông Trần Văn B, Đồng Thị Á phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Á2
thông qua Phòng G - Chi nhánh T5 tổng số tiền tính đến ngày 05/01/2024
3.589.783.757đồng (trong đó: Nợ tiền vay tín dụng 3.200.000.000đồng + nợ lãi
trong hạn là 13.501.370đồng + nợ lãi quá hạn 315.353.425đồng + lãi chậm trả
6.318.958đồng nợ vay thẻ tín dụng 41.645.655 đồng + tiền lãi
12.964.349đồng = 3.589.783.757đồng).
Lãi suất được tính tiếp tục kể từ ngày 06/01/2024 trên số nợ gốc theo mức
lãi suất do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số CLA.CN.2867.220323, ngày
23/3/2023 giấy kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng hạn mức thẻ tín dụng ngày
28/2/2022 cho đến khi ông B, bà Á thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông B, Á không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng tín dụng
nói trên, thì tài sản thế chấp quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số
CLA.BĐCN.116.141116 ngày 15/11/2016; hợp đồng thế chấp số
CLA.BĐCN.149.150920 ngày 15/9/2020 theo cam kết thế chấp tài sản ngày
17/02/2022 được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.”
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 269/2024/DS-PT ngày 12 tháng 6 năm 2024
của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xử (tóm tắt): hủy Bản án dân sthẩm số
02/2024/DS-ST giao hồ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh
Long An xét xử sơ thẩm lại.
Tại Bản án dân sự thẩm số 25/2026/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh đã xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều: 147, 157,
158, 165, 166, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi bsung
theo Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội); các điều: 122, 127, 689
của Bộ luật dân sự năm 2005; các điều: 288, 298, 317, 319, 323, 324, 463 466,
468, 500, 501, 502, 503, 688 của ;Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình; các
điều: 166,167, 168, 179, 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 236 của Luật Đất đai
năm 2024; các điều: 40, 42, 44, 54 Luật Công chứng năm 2014; Điều 91, Điều 95
Luật Các tchức tín dụng năm 2010; Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm
2024;Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Tuyên bố văn bản thỏa thuận về việc đứng tên hộ QSD đất lập ngày
10/02/2015 giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T với ông Trần Văn B là giao dịch dân sự vô
hiệu.
7
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Ngọc T về việc: Hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22/6/2015 được công chứng,
số công chứng 2552, quyển sổ 03/2015-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/6/2015; Hủy
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số
CLA.BĐCN.116.141116 ngày 15/11/2016; Hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất số CLA.BĐCN.149.150920 ngày 15/9/2020 cam
kết thế chấp tài sản ngày 17/02/2022 được kết giữa ông Trần Văn B, bà Đồng Thị
Á với Ngân hàng TMCP Á2 để bà tiếp tục quản lý sử dụng căn nhà, kho trên đất.
3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á2: Buộc ông
Trần Văn B, Đồng Thị Á phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần
Á2 số tiền vay gốc và lãi đến ngày xét xử (ngày 24/3/2026) là 4.907.717.646đ (Bốn
tỷ, chín trăm lẻ bảy triệu, bảy trăm mười bảy nghìn, sáu trăm bốn mươi sáu đồng),
trong đó:
- Theo hợp đồng tín dụng số CLA.CN.2867.220323 ngày 23/3/2023 và khế ước
nhận nợ số 392757639 ngày 28/3/2023 số tiền ngốc 3.199.999.988đ (ba tỷ một
trăm chín mươi chín triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm tám mươi tám
đồng), nợ lãi trong hạn 13.501.370đ (Mười ba triệu, năm trăm lẻ một nghìn, ba
trăm bảy mươi đồng), nợ lãi quá hạn là: 1.485.632.875đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi
lăm triệu, sáu trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi lăm đồng), lãi chậm trả
lãi: 139.107.969đ (Một trăm ba mươi chín triệu, một trăm lẻ bảy nghìn, chín trăm
sáu mươi chín đồng). Tổng cộng: 4.838.242.202đ (Bốn tỷ, tám trăm ba mươi tám
triệu, hai trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm lẻ hai đồng).
Kể từ ngày 25/3/2026 trở đi, ông Trần Văn B, bà Đồng Thị Á còn phải tiếp tục
chịu lãi đối với snợ chưa thi hành xong, mức lãi suất phát sinh được xác định theo
hợp đồng tín dụng số CLA.CN.2867.220323 ngày 23/3/2023 và khế ước nhận nợ s
392757639 ngày 28/3/2023.
- Theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tín dụng dành cho
khách hàng nhân ngày 28/02/2022 số tiền nợ gốc 42.095.953đ, nợ lãi nợ phí
27.379.491đ (hai mươi bảy triệu, ba trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm chín
mươi mốt đồng), tổng cộng 69.475.444đ (Sáu mươi chín triệu, bốn trăm bảy mươi
lăm nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng).
Kể từ ngày 25/3/2026 trở đi, ông Trần Văn B, bà Đồng Thị Á còn phải tiếp tục
chịu lãi các chi phí liên quan đối với số nợ chưa thi hành xong, mức lãi suất phát
sinh được xác định theo theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ
tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 28/02/2022.
Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất số CLA.BĐCN.116.141116 ngày 15/11/2016; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất số CLA.BĐCN.149.150920 ngày 15/9/2020 theo
cam kết thế chấp tài sản ngày 17/02/2022 được kết giữa ông Trần Văn B, Đồng
Thị Á với Ngân hàng TMCP Á2 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho hợp đồng
tín dụng số CLA.CN.2867.220323 ngày 23/3/2023 và khế ước nhận nợ số 392757639
8
ngày 28/3/2023, giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tín dụng dành
cho khách hàng cá nhân ngày 28/02/2022 (Tài sản thế chấp là QSD đất tại thửa số
226 thửa số 1085 tờ bản đố số 02 cùng toàn btài sản gắn liền với đất, tọa lạc
tại khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An - nay là xã V, tỉnh Tây Ninh).
(Về tứ cận giáp ranh và diện tích cụ thể được thể hiện trong mảnh trích đo địa
chính số 03-2025 ngày 14/8/2025 của Chi nhánh Văn phòng C1).
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá:
- Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu số tiền 5.593.000đ (Năm triệu, năm trăm
chín mươi ba nghìn đồng), đã nộp xong.
- Ông Trần Văn B, ĐồngThị Á1 phải liên đới chịu 800.000đ (Tám trăm nghìn
đồng) để trả cho Ngân hàng TMCP Á2.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên nghĩa vụ chậm thi hành án sẽ phải
chịu thêm khoản tiền lãi tính trên stiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản
2 Điều 468 Bộ luật dân stương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp
các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí:
Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) tiền án phí
dân sự thẩm. Chuyển 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai số 0003924 ngày 31/3/2023 số 0002252 ngày 28/3/2025 của
Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng (nay Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh) sang tiền án phí.
Ông Trần Văn B, ĐồngThị Á1 phải liên đới chịu 112.908.000đ (Một trăm
mười hai triệu, chín trăm lẻ tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách
Nhà nước.
H1 lại cho Ngân hàng TMCP Á2 48.998.000đ (Bốn mươi tám triệu, chín trăm
chín mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004088
ngày 06/6/2023 của Chi cục thi hành án dân shuyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An (nay
là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền thời hạn kháng cáo, việc thi
hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 4 năm 2026, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T kháng cáo yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện ca bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Luật Bùi Lưu L trình bày: T chỉ kháng cáo yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ
giữa T và ông B; hiệu các hợp đồng thế chấp, thỏa thuận thế chấp QSDĐ và
9
tài sản gắn liền với đất giữa A ông B, Á1 để T được quyền sở hữu quyền
sử dụng nhà, đất. Các phần khác của bản án sơ thẩm bà T không kháng cáo.
Trước đây, giữa T ông B mối quan hệ làm ăn buôn bán vật nông
nghiệp với nhau, bản thân T không mắc nợ, nhưng sngười nđang nghĩa
vụ trả nợ liên lụy, nên bà T mới không nhờ người thân trong gia đình mà nhờ ông B
đứng tên dùm trên GCNQSDĐ, văn bản thỏa thuận do ông B tên, trên sở
đó, T mới HĐCNQSDĐ cho ông B, chứ thực chất không việc chuyển
nhượng, giá ghi trên hợp đồng rất thấp so với giá thị trường, không sự giao
nhận tiền giữa ông B T. Từ trước đến nay, T không nơi nào khác
ông B chưa từng quản lý, sử dụng nhà, đất.
HĐCNQSDĐ ngày 22/6/2015 giả cách, ông B chỉ đứng tên thay bà T trên
GCNQSDĐ lại đem thế chấp cho A để vay số tiền 1,3 tỷ đồng trong khi bà T không
biết không nhận tiền vay. Hợp đồng thế chấp giữa ông B, Á1 A đã xâm
phạm quyền lợi ích hợp pháp của T. Cán bộ tín dụng của A không giải thích
cho T về việc ông B, Á1 thế chấp tài sản để vay vốn nên A cũng có lỗi. Mặc
HĐCNQSDĐ ngày 22/6/2015 đúng trình tự, thủ tục, nhưng bản chất giả cách,
nên hợp đồng thế chấp cũng hiệu do nhầm lẫn, lừa dối. Ngoài ra, các biên bản
thẩm định tài sản mà A cung cấp không có bản chính và bị sửa năm. Do đó, đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà T.
Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: trước khi ký HĐCNQSDĐ cho ông B, thì bà
đang làm thủ tục tách thửa, chuyển mc đích sử dụng đất. Do đó, sau khi bà ký nhờ
ông B đứng tên dùm vẫn để cho ông B giữ GCNQSDĐ, là để tiếp tục thực hiện các
thủ tục nhập thửa, tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất, c đó ông B đang
đứng tên giấy tờ, còn toàn bộ chi phí do bà bỏ ra.
Ông Đào Hoàng N trình bày:
Hợp đồng tín dụng giữa A và ông B, Á1 không bị kháng cáo, kháng nghị thì
đã có hiệu lực.
Đối với hợp đồng thế chấp: đã được công chứng, đăng giao dịch bảo đảm
đúng quy định của B luật Dân sự, Luật Đất đai và Nghị định của Chính phủ hướng
dẫn về giao dịch bảo đảm. A đi thẩm định tài sản, chụp ảnh, bà T có ký và không
phản đối Biên bản thẩm định hiện trạng tài sản ngày 02/11/2016, còn ông B người
Biên bản thẩm định hiện trạng tài sản ngày 07/9/2020. Trong hồ sơ thay đổi đăng
ký kinh doanh, người góp vốn là ông B để ông B chứng minh tài chính khi vay vốn
ngân hàng. Tại phiên tòa thẩm lần 1, phúc thẩm lần 1 và sơ thẩm lần 2, ông B xác
định giao cho T số vật nông nghiệp trị giá 1 tỷ đồng để trừ nợ vay, chứng
tỏ bà T biết việc ông B vay vốn của ngân hàng. Ông B, bà T chỉ có mối quan hlàm
ăn, nên việc bà T nhờ người lạ đứng tên dùm và giao GCNQSDĐ cho ông B giữ là
không phù hợp thực tế. T đã biết ông B vay số tiền 1,3 tỷ đồng từ lâu, nhưng vì
sao sau này mới khởi kiện. Căn cứ Công văn số 64 của Tòa án nhân dân tối cao và
Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015, A người thứ ba ngay tình thì phải được
10
bảo vệ; nếu sự việc đứng tên dùm thì T cũng lỗi chỉ được quyền yêu cầu
ông B, bà Á1 bồi thường.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T đủ
điu kiện để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: giữa ông B Á1 không có mối quan hệ họ hàng,
chỉ quan hệ làm ăn kinh tế thậm chí còn phát sinh công nợ. do T nêu
nhờ ông B đứng tên dùm để tránh nghĩa vụ với người thứ ba, trong khi T không
nghĩa vụ thi hành án dân sự. Pháp luật không quy định việc đứng tên dùm
GCNQSDĐ, nên thỏa thuận giữa T ông B đã vô hiệu ngay từ khi giao kết.
HĐCNQSDĐ giữa bà T và ông B có nội dung, hình thức phù hợp quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2005 và Luật Đất đai năm 2013, được công chứng nên hợp đồng
hợp pháp. Ông B đã thực hiện các thủ tục hành chính như tách, nhập, chuyển mục
đích sử dụng đất. Giấy đăng kinh doanh ngày 08/9/2015, thay đổi ngày
05/10/2015 đông B vay vốn số tiền 1,3 tỷ đồng. Ông B đã giao vật nông nghiệp
cho bà T trị giá 1 tỷ đồng, chứng tỏ bà T biết việc ông B vay tiền ngân hàng. Ngày
15/9/2020, ông B nâng vốn vay, bà T và ông B hướng dẫn thủ tục thẩm định, không
tranh chấp nên phải có nghĩa vụ trả nợ. Các hợp đồng thế chấp, cam kết thế chấp tài
sản đúng quy định, đã đăng ký thế chấp. Biên bản thẩm định hiện trạng tài sản năm
2016 do T ký; Biên bản thẩm định hiện trạng tài sản năm 2020 ông B chủ sử
dụng hợp pháp của nhà, đất ký. Căn cứ Điều 298, Điều 317, Điều 324 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, tài sản gắn liền với đất là tài sản thế chấp.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T thực hiện đúng theo
quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyễn Thị Ngọc T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo. Ngân
hàng A giữ nguyên yêu cầu độc lập. Các đương sự không tthỏa thuận được về việc
giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: bà Nguyễn Thị Ngọc T, Luật sư Bùi Lưu L,
ông Trần Văn B, ông Đào Hoàng N mặt. Chủ tịch Ủy ban nhân dân V, Thi
hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, Văn phòng C1 vắng mặt, văn bản yêu cầu xét xử
vắng mặt. Các đương sự còn lại đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xphúc
thẩm vụ án.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: căn cứ yêu cầu
khởi kiện yêu cầu độc lập của đương sự, Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ
11
pháp luật tranh chấp “Tranh chấp giao dịch dân sự, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
thụ giải quyết, đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: tại phiên tòa phúc thẩm, T xác định chỉ
kháng cáo yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ giữa bà và ông B; vô hiệu hợp đồng thế chấp
giữa ông B, bà Á1 A; các phần còn lại của bản án sơ thẩm T xác định không
kháng cáo. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm
xem xét lại phần nội dung của bản án sơ thẩm có kháng cáo.
[5] Các đương sự thống nhất hiện trạng các tài sản trên đất được ghi trong
Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 17/4/2025 (bút lục 756) hiện trạng đất đến nay
không thay đổi, nên thống nhất giá trị tài sản T đưa ra ngày 25/12/2025; Mảnh
trích đo địa chính số 03-2025 ngày 14/8/2025 của Chi nhánh Văn phòng C1. Tòa án
cấp sơ thẩm sử dụng các tài liệu này làm chứng cứ giải quyết vụ án đúng quy định
tại Điều 92, Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét kháng cáo của T yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ giữa T ông B, được
công chứng số 2552, quyển số 03/2015-TP/CC-SCC/HDGD ngày 22/6/2015:
[6] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng, đối với trường hợp yêu cầu hủy
hợp đồng, nghĩa là qtrình thực hiện hợp đồng phát sinh một trong các căn cứ chấm
dứt hợp đồng, theo quy định tại Điều 425 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 423,
Điều 424, Điều 425 Điều 426 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên một hoặc các
bên trong giao dịch yêu cầu hủy bỏ. Trong vụ án này, bà T có Luật sư tham gia bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm cần yêu cầuT xác định
chính xác yêu cầu khởi kiện, từ đó mới giải quyết đúng đầy đủ yêu cầu của đương
sự, bởi lẽ, quyền khởi kiện, căn cứ pháp lý và giải quyết hậu quả của giao dịch dân
sự vô hiệu hoàn toàn khác với giao dịch dân sự bị hủy bỏ. Hồ sơ vụ án thể hiện,
T khởi kiện kháng cáo cho rằng văn bản thỏa thuận đứng tên hộ quyền sử dụng
đất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa T với ông B đối với thửa
đất 1058 và 226 là giả tạo, đT trốn tránh nghĩa vụ đối với người khác. Như vậy,
yêu cầu khởi kiện củaT, về bản chất là yêu cầu vô hiệu văn bản thỏa thuận đứng
tên hộ quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T
với ông B theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 124 của
Bộ luật Dân sự năm 2015, nghĩa là các giao dịch này đã không phát sinh hiệu lực kể
từ thời điểm xác lập giao dịch và một hoặc các bên trong giao dịch, hoặc bất kỳ chủ
thể khác không trực tiếp tham gia kết giao dịch nhưng cho rằng mình quyền
lợi ích hợp pháp liên quan đến giao dịch, thì quyền khởi kiện yêu cầu
hiệu.
[7] Hồ sơ vụ án thể hiện, bà T không cung cấp được chứng cứ chứng minh
nghĩa vụ phải thi hành theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
[8] Tại Công văn số 2389/UBND-PKT ngày 25/11/2025, UBND V xác định,
ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị Ngọc T thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng
12
đất thửa 226 1058 đúng trình tự, thủ tục quy định, ông B người đã thực hiện
thủ tục tách thửa, hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng qua đất ở đô thị tại một phần
thửa 1058, lập thủ tục cấp phép xây dựng, các thủ tục hành chính sau khi ông B
chuyển nhượng từ bà T liên quan đến GCNQSDĐ thực hiện cho chủ sử dụng đất là
ông B (bút lục 737). Tại Công văn số 1520/CV-TCS6 ngày 08/10/2025, Thuế cơ sở
6 tỉnh Tây Ninh cung cấp các thông báo nộp thuế, phí chuyển mục đích sử dụng,…
mang tên ông Trần Văn B (bút lục 627). Tại đoạn [4.2] phần nhận định của Bản án
dân sự thẩm số 25/2026/DS-ST, Tòa án cấp thẩm đã nhận định rằng Hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất được Văn phòng C1 (nay Văn phòng C1) đảm bảo
theo quy định tại các điều 40, 42, 44, 54 Luật Công chứng năm 2014, nội dung, hình
thức hợp đồng phù hợp với quy định tại các điều 689, 697, 698 của Bộ luật Dân sự
năm 2005, Điều 166, 167, 168, 188 của Luật Đất đai năm 2013 nên hợp đồng chuyn
nhượng QSD đất giữa T và ông B hợp pháp, việc chuyển nhượng đã được kê
khai, đăng đã được quan Nhà nước thẩm quyền công nhận bằng việc
cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông B ngày 23/6/2015. Sau khi được cấp giấy
chứng nhận QSD đất ông B là người giữ giấy chứng nhận QSD đất, thực hiện tất cả
các thủ tục hành chính có liên quan như: tách thửa, hợp thửa, chuyển mục đích sử
dụng đối với diện tích 250m
2
thuộc một phần thửa 1058, lập thủ tục cấp giấy phép
xây dựng và được cấp giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất (có tài sản gắn liền với đất) số phát hành 569709 ngày 08/8/2016…”,
từ đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T về việc hủy HĐCNQSDĐ giữa
ông B, căn cứ, phù hợp với diễn biến khách quan của quá trình xác lập
và thực hiện giao dịch giữa 2 đương sự.
Xét kháng cáo của T yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp QSDĐ giữa ông B, bà
Á1 với Ngân hàng A để bà T được QSDĐ thửa 226 và thửa 1085 tờ bản đồ số 2, tọa
lạc tại khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An (nay là xã V, tỉnh Tây Ninh) và
tài sản trên đất
[9] Bà T không phải là một bên trong hợp đồng thế chấp, nên không có quyền
yêu cầu hủy hợp đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 425 của Bộ luật Dân sự năm
2005; khoản 1 Điều 423 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ T khởi kiện
kháng cáo, cho rằng ông B chỉ đứng tên hthay T trên GCNQSDĐ, tài sản gắn
liền với đất do bỏ chi phí xây dựng, tạo lập. Như vậy, bản chất yêu cầu khởi
kiện của T, hiệu hợp đồng thế chấp cho rằng ông B không quyền,
không phải là chủ sử dụng và chủ sở hữu thực sự của tài sản thế chấp, vi phạm điều
kiện hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự
năm 2005; khoản 1 Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm,
bà T cũng xác định bà yêu cầu vô hiệu các giao dịch thế chấp giữa ông B, bà Á1
A liên quan đến nhà đất đang tranh chấp.
[10] Hồ sơ vụ án thể hiện, để đảm bảo cho khoản vay 1.300.000.000 đồng theo
Hợp đồng tín dụng số CLA.CN. 328.141116 ngày 17/11/2016, ông Trần Văn B
Đồng Thị Á có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
số CLA.BĐCN.166.141116 ngày 15/11/2016, để thế chấp cho A tài sản là quyền sử
13
dụng thửa đất số 226 căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, theo GCNQSDĐ số
569709 do UBND huyện V, tỉnh Long An cấp ngày 08/8/2016 cho ông B.
[11] Đối với tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, ông B T đều thừa
nhận, nhà đất từ trước tới nay do bà T trực tiếp quản lý sử dụng. Người đại diện của
A cũng thừa nhận rằng, thời điểm năm 2016 khi A thực hiện việc thẩm định tài sản
thế chấp thì bà T đang là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà, đất. A cho rằng bà T
biết việc thế chấp nhà, đất, A xem xét thực tế tài sản thế chấp, được thể hiện
theo 02 Biên bản thẩm định tài sản thế chấp, gồm: Biên bản thẩm định hiện trạng
bất động sản ngày 02/11/2016 chký của bà T (bút lục số 540) và Biên bản thẩm
định hiện trạng bất động sản ngày 07/9/2020 có chữ ký của ông Trần Văn B (bút lục
số 537), nhưng bà T xác định hoàn toàn không việc cán bộ A thẩm định tài sản
năm 2020. Trong khi đó, Biên bản thẩm định hiện trạng bất động sản ngày 07/9/2020
sự tẩy xóa về mặt thời gian (năm thẩm định) A thừa nhận không cung cấp được
bản chính của cả 02 Biên bản thẩm định tài sản thế chấp nêu trên. Ông B xác định
từ trước tới nay ông không biết A thẩm định tài sản thế chấp trên thực tế hay
không, ông chỉ tên vào hồ do cán bộ tín dụng của A đưa (bút lục số 537).
Ngoài Biên bản thẩm định hiện trạng bất động sản ngày 07/9/2020, người đại diện
của A không cung cấp được chứng cứ chứng minh T, ông B biết việc A đã
thực hiện thẩm định bổ sung đối với tài sản thế chấp vào năm 2020. Trong suốt quá
trình giải quyết vụ án, ông B đều xác định ông chỉ đứng tên trên giấy tờ, còn nhà và
tài sản trên đất do bà T bỏ chi phí xây dựng, thủ tục xin giấy phép xây dựng là do
con của T thực hiện (bút lục số 403). Tại cấp phúc thẩm, T cung cấp một số
chứng từ mua vật xây dựng vào năm 2015, 2016 xác nhận của T4 ấp Chiến
Thắng về việc T chỉ duy nhất nhà tại số I đường V, ấp C, V, tỉnh Tây
Ninh (vị trí nhà, đất đang tranh chấp). Từ quá trình tạo lập, quản , sử dụng tài sản,
đủ căn cứ xác định tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sử dụng của ông B và
Á. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện A xác định khoản vay 1,3 tỷ đồng đã được
ông B, bà Á tất toán xong, nhưng A chưa xóa thế chấp, vì cho rằng, theo thỏa thuận
tại Điều 3 của Hợp đồng thế chấp thì nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản thế chấp
bao gồm toàn bộ các khoản nợ kể cả phát sinh sau thời điểm ký hợp đồng thế chấp.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, A không chứng minh được thẩm định thực
tế tài sản thế chấp năm 2020; A cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh
bà T biết và tiếp tục đồng ý việc thế chấp nhà, nhà kho và các cây trồng gắn liền với
quyền sử dụng đất để đảm bảo cho các khoản vay của ông B phát sinh sau khi khoản
vay 1,3 tỷ đồng đã được tất toán. Như vậy, tài sản gắn liền với QSDĐ không đương
nhiên được xem là tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay 3,2 tỷ đồng phát sinh
vào năm 2023 và đang có tranh chấp.
[12] Tuy nhiên, việc tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp không
thuộc quyền sở hữu của chủ sử dụng đất (ông Trần Văn B) thì không là căn cứ làm
cho hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đương nhiên bị vô hiệu, bởi lẽ, tại khoản
2 Điều 325 của Bộ luật Dân sự có quy định:
14
“Điều 325. Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với
đất
1. ….
2. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng
thời chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử quyền sử dụng đất, chủ sở
hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa
vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu
tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho ngưi nhận chuyển quyền sử dụng
đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
[13] Ngoài ra, tại đoạn [4] phần nhận định của Án lsố 11/2017/AL về công
nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên đất tài sản không thuộc sở
hữu của bên thế chấp, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua
ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày
28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, có nêu: “Trường hợp
trên đất nhiều tài sản gắn liền với đất tài sản thuộc sở hữu của người sử
dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế
chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế
chấp có hiệu lực pháp luật”.
[14] Đối với quyền sử dụng đất thửa 226 1058, tại thời điểm xác lập giao
dịch thế chấp, ông B đã được cấp GCNQSDĐ, nên đầy đủ các quyền của người
sử dụng đất hợp pháp. Hợp đồng thế chấp được các bên giao kết tự nguyện, được
công chứng đúng trình tự, thủ tục (các bút lục số 156-164) việc thế chấp quyền
sử dụng đất đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V
(bút lục số 155). Do đó, hợp đồng thế chấp QSDĐ thửa 226 và 1058 giữa ông B, bà
Á và A có hiệu lực. Trường hợp ông B và bà Á không trả được nợ mà A phải xử lý
tài sản thế chấp là QSDĐ để thu hồi nợ, thì bà T được ưu tiên thanh toán giá trị tài
sản trên đất phải được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất) nếu bà T có nhu cầu mua.
[15] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận 1 phần
yêu cầu kháng cáo của bà T, không chấp nhận 1 phần yêu cầu độc lập của A về xác
định tài sản thế chấp là căn nhà và công trình, vật kiến trúc, cây trồng có trên đất.
[16] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá, đo đạc: các đương s
không kháng cáo phần này của bản án sơ thẩm.
[17] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bà T về hợp đồng thế
chấp được chấp nhận một phần, nên sửa phần án phí liên quan, cụ thể: T không
phải chịu án phí đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất được chấp nhận một phần; A và ông Trần Văn B, bà Đồng Thị
Á mỗi bên phải chịu ½ án phí không giá ngạch đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng
thế chấp phần tài sản gắn liền với đất; các phần án phí sơ thẩm khác giữ nguyên.
15
[18] Về án phí dân sự phúc thẩm: T không phải chịu án phí do kháng cáo
được chấp nhận một phần.
[19] Một phần đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật
và nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[20] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 282, khoản 1, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309,
Điều 147, Điều 148, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 122, 127, 689
của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 288, 298, 317, 319, 323, 324, 325, 463
466, 468, 500, 501, 502, 503, 688 của ; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình;
các Điều 166, 167, 168, 179, 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 236 của Luật
Đất đai năm 2024; các Điều 40, 42, 44, 54 của Luật Công chứng năm 2014; Điều
91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 210 của Luật Các tổ chức
tín dụng năm 2024; Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận mt phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T.
3. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 25/2026/DS-ST ngày 24 tháng 3
năm 2026 của a án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh về giải quyết hợp đồng thế chấp
tài sản:
3.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc
hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa Nguyễn Thị
Ngọc T ông Trần Văn B, được công chứng số 2552, quyển sổ 03/2015-TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 22/6/2015.
3.2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Ngọc T tranh
chấp hợp đồng thế chấp:
hiệu một phần Hợp đồng thế chấp quyền sdụng đất và tài sản gắn liền với
đất số CLA.BĐCN.116.141116 ngày 15/11/2016, một phần Hợp đồng thế chp
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số CLA.BĐCN.149.150920 ngày
15/9/2020 và Cam kết thế chấp tài sản ngày 17/02/2022 được ký kết giữa ông Trần
Văn B, Đồng Thị Á với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á2 đối với phần tài sn
(nhà ở, nhà kho, công trình vật kiến trúc khác và cây trồng được thể hiện theo Biên
bản thẩm định tại chỗ ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh)
trên thửa số 226 và thửa số 1085 tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố C, thị trấn V,
huyện V, tỉnh Long An - nay là xã V, tỉnh Tây Ninh.
16
3.3. Công nhận các tài sản (nhà ở, nhà kho, công trình vật kiến trúc khác và cây
trồng được thể hiện theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 9-Tây Ninh) trên thửa số 226 thửa số 1085 tờ bản đồ số 02 tọa
lạc tại khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An - nay là xã V, tỉnh Tây Ninh
thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Ngọc T. Các tài sản này đang do bà Nguyễn
Thị Ngọc T trực tiếp quản lý.
3.4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Á2 về hợp đồng thế chấp:
- Tiếp tục thực hiện một phần Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất số CLA.BĐCN.116.141116 ngày 15/11/2016; một phần Hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số CLA.BĐCN.149.150920
ngày 15/9/2020 và theo Cam kết thế chấp tài sản ngày 17/02/2022 được ký kết giữa
ông Trần Văn B, Đồng Thị Á với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á2 để đảm
bảo thực hiện nghĩa vtrả nợ cho hợp đồng tín dụng số CLA.CN.2867.220323 ngày
23/3/2023 khế ước nhận nợ số 392757639 ngày 28/3/2023, giấy đề nghị kiêm
hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng nhân ngày
28/02/2022.
- Tài sản thế chấp quyền sử dụng đất (không bao gồm tài sản gắn liền với
đất) tại thửa số 226 thửa số 1085 tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố C, thị trấn V,
huyện V, tỉnh Long An - nay là xã V, tỉnh Tây Ninh.
Tứ cận và diện tích đất được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 03-2025
ngày 14/8/2025 của Chi nhánh Văn phòng C1.
- Trường hợp ông Trần Văn B Đồng Thị Á không thanh toán được n
cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á2, tNgân hàng Thương mại Cổ phần Á2
quyền yêu cầu xử tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và xử lý kèm theo tài
sản gắn liền với quyền sử dụng đất để thu hồi nợ, nhưng bà Nguyễn Thị Ngọc T
được ưu tiên thanh toán giá trị tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp
được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
4. Các phần sau đây của Bản án dân sthẩm số 25/2026/DS-ST ngày 24
tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị:
4.1. hiệu “Văn bản thỏa thuận về việc đứng tên hộ quyền sử dụng đất lập
ngày 10/02/2015” giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T với ông Trần Văn B.
4.2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần
Á2 về tranh chấp hợp đồng tín dụng: buộc ông Trần Văn B Đồng Thị Á phải
liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á2 số tiền vay gốc và lãi đến ngày
xét xthẩm (ngày 24/3/2026) 4.907.717.646đ (bốn tỷ chín trăm lẻ bảy triệu
bảy trăm mười bảy ngàn sáu trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó:
17
- Theo Hợp đồng tín dụng số CLA.CN.2867.220323 ngày 23/3/2023 Khế
ước nhận nợ số 392757639 ngày 28/3/2023, số tiền nợ gốc 3.199.999.988đ (ba tỷ
một trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm tám mươi
tám đồng), nợ lãi trong hạn là 13.501.370đ (mười ba triệu năm trăm lẻ một ngàn ba
trăm bảy mươi đồng), nợ lãi quá hạn là: 1.485.632.875đ (một tỷ bốn trăm tám mươi
lăm triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi lăm đồng), lãi chậm trả lãi:
139.107.969đ (một trăm ba mươi chín triệu một trăm lbảy ngàn chín trăm sáu mươi
chín đồng). Tổng cộng: 4.838.242.202đ (bốn tỷ tám trăm ba mươi tám triệu hai trăm
bốn mươi hai ngàn hai trăm lẻ hai đồng).
Kể từ ngày 25/3/2026 trở đi, ông Trần Văn B, Đồng Thị Á còn phải tiếp tục
chịu lãi đối với số nợ chưa thi hành xong, mức lãi suất phát sinh được xác định theo
hợp đồng tín dụng số CLA.CN.2867.220323 ngày 23/3/2023 khế ước nhận nợ số
392757639 ngày 28/3/2023.
- Theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sdụng thẻ tín dụng dành cho
khách hàng nhân ngày 28/02/2022 số tiền nợ gốc 42.095.953đ (bốn mươi hai triệu
không trăm chín mươi lăm ngàn chín trăm năm mươi ba đồng), nợ lãi nợ phí
27.379.491đ (hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi chín ngàn bốn trăm chín mươi
mốt đồng), tổng cộng 69.475.444đ (sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn
bốn trăm bốn mươi bốn đồng).
Kể từ ngày 25/3/2026 trở đi, ông Trần Văn B, Đồng Thị Á còn phải tiếp tục
chịu lãi và các chi phí liên quan đối với số nợ chưa thi hành xong, mức lãi suất phát
sinh được xác định theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tín
dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 28/02/2022.
4.3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá:
- Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu số tiền 5.593.000đ (năm triệu năm trăm chín
mươi ba ngàn đồng), đã nộp xong.
- Ông Trần Văn B, bà Đồng Thị Á phải liên đới chịu 800.000đ (tám trăm ngàn
đồng) để trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á2.
5. Về nghĩa vụ nếu chậm thi hành án: kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
6.1. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) án
phí, được khấu trừ vào số tiền 900.000đ (chín trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà T
đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003924 ngày 31/3/2023 số
0002252 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-Tây Ninh) sang thi hành án phí. Hoàn trả cho
Nguyễn Thị Ngọc T 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí còn thừa.
18
6.2. Buộc ông Trần Văn B, Đồng Thị Á phải liên đới chịu 150.000đ (một
trăm năm mươi ngàn đồng) án phí không giá ngạch 112.908.000đ (một trăm
mười hai triệu chín trăm lẻ tám ngàn đồng) án phí có giá ngạch nộp ngân sách Nhà
nước.
6.3. Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á2 phải chịu 150.000đ (một trăm
năm mươi ngàn đồng) án phí không giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền
48.998.000đ (bốn mươi tám triệu chín trăm chín mươi tám ngàn đồng) tạm ứng án
phí Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á2 đã nộp theo biên lai thu số 0004088 ngày
06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-Tây Ninh). Hoàn trả cho Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Á2 số tiền 48.848.000đ (bốn mươi tám triệu tám trăm bốn mươi tám
ngàn đồng) tạm ứng án phí còn thừa.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị Ngọc T không phải chịu và được
hoàn trả stiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí T đã nộp theo Biên
lai thu số 0007087 ngày 07/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
8. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
9. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải
thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 36
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
34 Luật Thi hành án dân sự./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Huỳnh Thị Hồng Vân - Trần Trọng
Nhân
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
19
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 9-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 9 - Tây Ninh
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1051/2026/DS-PT Bản án số 1051/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1051/2026/DS-PT Bản án số 1051/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất