Bản án số 558/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 558/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 558/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 558/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Đ khởi kiện yêu cầu bà M, anh N và chị L1 trả phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 693,8m2 và tháo dở, di dời căn nhà để trả lại hiện trạng phần đất cho bà Đ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 558/2026/DS-PT Bản án số 558/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 558/2026/DS-PT Bản án số 558/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 558/2026/DS-PT
Ngày 19-8-2026
V/v tranh chấp đòi lại tài sản là
quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư phiên tòa: Nguyễn Ngọc Chọn là Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà: Ông
Trương Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự thụ số: 311/2026/TLPT-DS ngày 18 tháng 6
năm 2026 về việc tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sthẩm số: 182/2026/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 473/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955. Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ,
tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 14/8/2025.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đông D, sinh
năm 1978. Địa chỉ: Số B, đường T, khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
1. Nguyễn Thị M, sinh năm 1950. Địa chỉ trú: Ấp N, xã Đ, tỉnh Mau
(có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị M: Bà Ngô Kim
P Trợ giúp viên pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp nhà ớc tỉnh C (có mặt).
2. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981 (có mặt)
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày 28/6/2021.
2
3. Chị Trần Mỹ L, sinh năm 1983 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày 14/8/2021.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, tỉnh Cà Mau
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 (có mặt)
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày 13/8/2021.
2. Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1976 (vắng mặt)
3. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1985 (vắng mặt)
4. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
5. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1980 (vắng mặt)
6. Anh Nguyễn Minh P1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
7. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt)
8. Chị Trần Thị M1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
9. Cháu Nguyễn Thị N1, sinh năm 2006 (vắng mặt)
10. Cháu Nguyễn Trà M2, sinh năm 2008 (vắng mặt)
11. Chị Nguyễn Tuyết M3, sinh năm 1979 (vắng mặt)
12. Chị Nguyễn Thoại K, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
13. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1978. Địa chỉ trú: Ấp T, T, tỉnh
Mau (vắng mặt).
14. Chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1970. Địa chỉ cư trú: Ấp Đồng Tâm A, xã
Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
15. Chị Nguyễn Tuyết H1, sinh năm 1972. Địa chcư trú: Ấp H, xã T, tỉnh
Mau (vắng mặt).
16. Chị Nguyễn Mỹ L1, sinh năm 1983. Địa chỉ cư trú: Đường L, phường L,
tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
17. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1976. Địa chỉ trú: Ấp H, T, tỉnh
Mau (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyễn Thị Đ là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, chị Nguyễn Thị H là người đại
diện của bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
3
Trước đây, cha chị ông Nguyễn Văn Ú (đã chết) mẹ chị Nguyễn
Thị Đ được chính quyền cấp phần đất diện tích 25.155m
2
tại ấp N, T, huyện Đ,
tỉnh Mau (nay là ấp N, xã Đ, tỉnh Cà Mau). Cha mẹ chị canh tác đến năm 1990
thì ông Nguyễn Văn C2 bà Nguyễn Thị M đến thương lượng hoán đổi phần
đất 05 công tầm lớn (K - B). Do ông C2 anh ruột của cha chị, nên cha mẹ chị
đồng ý cắt đổi phần đất với ông C2, M với diện tích 05 công tầm lớn nằm phía
sau hậu phần đất cha mẹ chị đang canh tác. Ông C2, M canh tác phần đất đến
năm 1994; khi Nhà nước chuyển đổi cấu từ trồng lúa sang nuôi tôm, vợ chồng
ông C2 tiếp tục xin cha mẹ chị đổi phần đất phía sau hậu ra sông Đ, giáp với phần
đất lập vườn của cha mẹ chị và mượn đường nước xổ, được cha mẹ chị đồng ý. Sau
đó một thời gian, cha mẹ chị có chuyển nhượng thêm cho vợ chồng ông C2 phần đất
1,5 công tầm lớn nối liền với phần đất vợ chồng ông C2 quản ra sau hậu. Đến năm
2021 cha chị chết, mẹ chị vẫn duy trì việc thỏa thuận cho vợ chồng ông C2 mượn
đường nước xổ vuông qua phần đất của cha mẹ chị. Năm 2025, M tự ý xây dựng
nhà tiền chế ngang 05m, dài 15m cặp theo đường nước xổ mà cha mẹ chị cho mượn.
Mẹ chị cùng anh, chị, em trong gia đình có ngăn cản và nhờ chính quyền giải quyết,
nhưng M cho rằng phần đất tranh chấp đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Do đó, bà Đ khởi kiện yêu cầu M, anh N và chị L1 trả phần
đất diện tích theo đo đạc thực tế 693,8m
2
và tháo dở, di dời căn nhà để trả lại
hiện trạng phần đất cho bà Đ.
- Theo bà Nguyễn Thị M trình bày:
Phần đất của vợ chồng bà quản sử dụng là do trước đây chồng đi công
tác nên được chính quyền cấp phần đất khoảng 22 công. Sau đó, giữa ông C2 với
ông Ú thỏa thuận hoán đổi đất để thuận tiện cho việc canh tác; ông Ú giao cho vợ
chồng ½ phần đất tương đương 05 công đất tầm lớn, vợ chồng giao cho ông
Ú 8,5 công tầm lớn. Phần đất đường kênh xổ nước vợ chồng bà không có mượn của
vợ chồng ông Ú, phần diện tích đất này nằm trong diện tích đất đã hoán đổi
khi giao đất thì chính ông Ú người đo đạc đất giao cho vợ chồng bà. Do đó,
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
- Theo anh Nguyễn Văn N trình bày:
Anh N thống nhất với lời trình bày của M. Hiện anh có xây dựng căn nhà
tiền chế ngang 5,4m, dài 20m trên phần đất tranh chấp. Anh N không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện ca bà Đ.
- Theo chị Trần Mỹ L trình bày:
Chị L thống nhất với lời trình bày của M anh N. Chị L không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
- Theo chị Nguyễn Tuyết H1 trình bày:
Chị H1 thống nhất với lời trình bày của anh N. Chị H1 không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện ca bà Đ.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 182/2026/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau quyết định:
4
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu bà
Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn N chị Trần Mỹ L trả phần đất mượn diện tích
693,8m
2
tại ấp N, Đ, tỉnh Mau di dời căn nhà, 01 cống xổ vuông của anh
Nguyễn Văn N, chị Trần Mỹ L để trả lại hiện trạng phần đất. Phần đất có vị trí:
Hướng Đông giáp phần bà Nguyễn Thị M điểm M2M3, dài 17,69m;
Hướng Tây giáp lộ tông 03 điểm M4M5, dài 2,08m; điểm M5M6, dài
6,12m; điểm M7M1, dài 5,67m;
Hướng Nam giáp phần đất bà Nguyễn Thị H điểm M3M4, dài 43,38m;
Hướng Bắc giáp phần đất Lê Thu L2 điểm M1M2, dài 41,89m;
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 19/5/2026, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ đơn kháng cáo, yêu cầu
sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ: Buộc bà Nguyễn Thị M,
anh Nguyễn Văn N chị Trần Mỹ L trả phần đất mượn có diện tích 693,8m
2
tại ấp
N, Đ, tỉnh Mau và di dời căn nhà, 01 cống xổ vuông của anh N, chị L để trả
lại hiện trạng phần đất cho bà Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ
giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông D1 phát biểu: Phần đất trước đây các bên hoán đổi diện tích chỉ 05 công,
toà án cấp thẩm không đo đạc phần đất hoán đổi chỉ đo đạc phần đất tranh
chấp nên chưa thể so sánh diện tích đất hoán đổi của các bên. Phần đất tranh chấp
được cấp quyền sử dụng đất cho ông Ú còn bà M chưa được cấp quyền sử dụng đất.
Khi anh N cất nhà trên phần đất thì Đ ngăn cản trình báo chính quyền địa
phương. Phía bà M cho rằng cất nhà ở trên đất từ năm 1994 là không có căn cứ. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Đ, sửa bản án thẩm,
chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca bà Đ.
Trợ giúp viên pháp bảo vệ cho M phát biểu: Đ cho rằng phần đất
tranh chấp do phía Đ cho M mượn nhưng không tài liệu chứng cứ chứng
minh; phần đất tranh chấp nằm trong diện tích đất phía bà Đ hoán đổi với M; phía
M đã quản sử dụng phần đất trên 30 năm; những người sinh sống tại địa phương
đều biết việc hoán đổi đất. Do đó, kiến nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của bà Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Anh N, chị H không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình
giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
5
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Đ, ginguyên Bản án dân sự thẩm số 182/2026/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm
2026.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Đ, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy:
[1.1] Phần đất tranh chấp bà Đ yêu cầu bà M, anh N chị L trả có diện tích
theo đo đạc thực tế là 693,8m
2
, đất toạ lạc tại ấp N, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
Đ cho rằng, năm 1994 khi Nhà nước chuyển đổi cấu từ trồng lúa sang
nuôi trồng thuỷ sản, do phần đất của ông C2 và bà M nằm ở phía sau hậu không có
đường nước nên thoả thuận hoán đổi với phần đất mặt tiền của ông Ú Đ để
thuận tiện cho việc canh tác; đồng thời ông Ú và Đ có cho ông C2bà M mượn
phần đất để làm đường xnước (tức là phần đất hiện nay tranh chấp). Phía M xác
định không có mượn phần đất của ông Ú Đ đlàm đường nước như Đ trình
bày, mà phần đất tranh chấp nêu trên nằm trong phần đất đã hoán đổi với ông Ú
Đ.
Xét thấy, việc hoán đổi đất giữa ông Ú Đ với ông C2 M khi chuyển
đổi cơ cấu sang nuôi trồng thuỷ sản vào năm 1994 để thuận tiện cho việc canh tác
có thực tế xảy ra. Tuy việc hoán đổi không được lập thành văn bản nhưng được các
bên đương sự thừa nhận. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định
tại điểm khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với phần đất tranh chấp Đ cho rằng cho M ông C2 mượn
để làm đường nước xổ vuông khi chuyển đổi cơ cấu từ trồng lúa sang nuôi tôm; phía
M không thừa nhận việc mượn đất để làm đường nước như phía Đ trình
bày, mà xác định phần đất tranh chấp nằm trong phần đất đã hoán đổi. Tại biên bản
phiên toà sơ thẩm, bà H cũng xác định không có chứng cứ chứng minh việc cho
M mượn phần đất làm đường xổ nước cũng không ai biết hoặc chứng kiến việc
cho mượn đất, cũng không chứng cứ chứng minh khi bà M xây cất nhà trên đất
vào năm 2025 Đ ngăn cản. Tuy nhiên, H thừa nhận M đã quản s
dụng phần đất tranh chấp từ khi chuyển đổi cấu sang nuôi trồng thuỷ sản năm
1994 đến nay trên 30 năm.
[1.3] Mặt khác, theo các tài liệu thu thập có trong hồ sơ như xác nhận của bà
Trịnh Mỹ H2, ông Nguyễn Văn T2, ông Nguyễn Hữu G, ông Đỗ Hoàng N2, ông
Nguyễn Thanh H3 là những người lớn tuổi sinh sống tại địa phương thể hiện “Ông
C2, bà M có trao đổi đất với ông Ú, bà Đ. Còn có việc ông Ú, bà Đ cho ông C2,
bà M mượn phần đất làm đường kênh xổ vuông hay không thì không biết”.
Như vậy, ngoài lời trình bày của phía Đ cho rằng phần đất tranh chấp
cho phía M mượn để làm đường xổ nước, thì phía Đ cũng không tài liệu
chứng cứ đchứng minh. Do đó, Toà án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bà Đ là có căn cứ.
6
[2] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 182/2026/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực
4 - Cà Mau là phù hợp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Đ người cao tuổi nên được min chu án
phí (đã được min d np).
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2026/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu
Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn N và chị Trần Mỹ L trả phần đất mượn có diện
tích 693,8m
2
tại ấp N, xã Đ, tỉnh Mau di dời căn nhà, 01 cống xổ vuông của
anh Nguyễn Văn N, chị Trần Mỹ L để trả lại hiện trạng phần đất cho bà Đ. Phần đất
có vị trí:
- Hướng Đông giáp phần đất bà Nguyễn Thị M điểm M2M3, dài 17,69m;
- Hướng Tây giáp lộ tông 04 điểm M4M5, dài 2,08m; điểm M5M6, dài
6,12m; điểm M6M7 dài 5,67m; điểm M7M1 dài 0,96m.
- Hướng Nam giáp phần đất bà Nguyễn Thị H điểm M3M4, dài 43,38m;
- Hướng Bắc giáp phần đất Lê Thu L3 điểm M1M2, dài 41,89m;
(Kèm theo Trích đo hiện trạng ngày 31/12/2025 của Công ty TNHH T3).
2. Về chi phí tố tụng: Nguyễn Thị Đ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ và định giá tài sản là 15.172.000 đồng (đã nộp xong).
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ được miễn chịu án phí. Bà Đ đã
dự nộp 300.000 đồng (do bà Nguyễn Thị H nộp thay) theo biên lai số 0002668 ngày
12/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được nhận lại.
7
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ được miễn chịu án phí.
Các quyết định khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 4 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Ninh Quang Thế
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 558/2026/DS-PT Bản án số 558/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 558/2026/DS-PT Bản án số 558/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất