Bản án số 223/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 223/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 223/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 223/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 223/2026/DS-PT Bản án số 223/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 223/2026/DS-PT Bản án số 223/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 223/2026/DS-PT
Ngày 17-08-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng đất vô hiệu
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Hạnh
Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu
Bà Bùi Thị Thúy
- Thư phiên tòa: Bà Phạm Thuỷ Anh - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 96/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 6
năm 2026 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng đất hiệu; do Bản án n sự thẩm số
09/2026/DS-ST ngày 08 tháng 04 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 13 - Hải
Phòng bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
219/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa phúc
thẩm số 312/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng L, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn T, H,
thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu H, địa chỉ:
Thôn Đ, H, thành phố Hải Phòng đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền
10/8/2026); có mặt;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Trọng QLuật sư Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
2
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 Nguyễn Thị N, sinh năm
1979; cùng địa chỉ: thôn T, H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt đơn đề
nghị xét xử vắng mặt;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn K,
địa chỉ: số B, ngõ C, đường H, phường N, thành phố Hà Nội; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Thị G, sinh m 1971; địa chỉ: số D N, khóm G, phường B,
tỉnh Cà Mau; vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp của bà G: Nguyễn Thị Thu H, địa chỉ: Thôn Đ,
H, thành phố Hải Phòng đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền 10/8/2026);
có mặt.
3.2. Ngân hàng TMCP C3 (V); địa chỉ: A T, phường C, thành phố Nội;
vắng mặt;
3.3. Ủy ban nhân dân H, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: H, thành phố
Hải Phòng; vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông
Nguyễn Trọng L người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị G là bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Vợ chồng ông sinh sống tại tỉnh Mau quan hệ họ hàng với vợ
chồng ông C, N người cùng quê tại thôn T, Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương
(nay H, TP Hải Phòng). Tháng 3/2019, ông về quê biết việc ông C muốn
bán đất tại thôn T, xã Đ, diện tích khoảng 800 m
2
với giá 370 triệu đồng. Do nguồn
gốc đất của bố ông chia cho anh trai ông ông Nguyễn Văn L1, sau đó ông L1
bán cho vợ chồng ông C, bà N năm 1998 nên ông đồng ý mua lại.
Ngày 12/11/2019, tại nhà ông ở thôn T ông, vợ chồng ông C, bà N, người
chứng kiến bố vợ ông C ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) ông Duy N1 (là
người cùng thôn). Hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất có
ghi tứ cận, tổng diện tích khoảng 800 m
2
, giao trước số tiền 270.000.000 đồng,
còn lại hai bên thống nhất khi nào sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông
xong thì ông sẽ thanh toán nốt. Thời điểm đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ông C, N nói đang thế chấp ngân hàng để vay tiền, nên hẹn 01 năm sau sẽ làm
thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông. Sau khi những người mặt
vào hợp đồng mỗi bên giữ 01 bản, ông yêu cầu ra UBND công chứng tuy
3
nhiên ông C bảo không cần. Do quan hệ họ hàng gần, ông C1 (bố N) ông
là con chú con bác, có sự tin tưởng nhau nên ông không có ý kiến gì nữa.
Ngay sau khi hợp đồng xong vợ chồng ông C đã giao toàn quyền quản
sử dụng thửa đất trên cho ông. Ông đã mua cát của anh Phạm Văn T (ở cùng thôn),
số lượng hết 550 m
3
, tổng số tiền thời điểm cuối năm 2019, đầu năm 2020
100.000đ/m
3
, tổng số tiền 55 triệu đồng để bơm san lấp thửa đất, do phía trước
thửa đất bị trũng, đằng sau thửa đất ao (bơm cát vào tháng 12 năm 2019, ông
không nhớ ngày). Sau đó ông trồng một số cây nhãn, cây bưởi, cây mít; cây sưa và
chuối đồng thời ông thuê ông C2, ông T1, ông N2 (người cùng thôn) xây tường
bao quanh thửa đất, tổng công thợ khoảng 05 triệu đồng, nguyên vật liệu ông mua
của ông Đinh Văn T2 (người cùng thôn) 2000 gạch babanh, cát, xi măng tổng số
tiền khoảng 12 triệu đồng, thời điểm xây là đầu năm 2020.
Sau đó, ông nhiều lần đến gia đình ông C để trao đổi việc làm thủ tục sang
tên quyền sử dụng đất thì vchồng ông C xin khất do chưa lấy được giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ra để làm thủ tục được. Đến năm 2024, vợ chồng ông C,
N thay đổi nói không bán đất cho ông nữa trả lại ông số tiền 270 triệu
đồng số tiền bồi thường việc không thực hiện hợp đồng 540 triệu đồng (hai
lần số tiền ông đã trả). Ông làm đơn đề nghị UBND hòa giải thì mới biết cả 02
giấy chứng nhận đối với diện tích đất trên (thửa số 269, 269a, tờ bản đồ số 01, tổng
diện tích 510 m2 thửa số 240a, tờ bản đồ số 01, diện tích 174 m
2
) đã được vợ
chồng ông C thế chấp tại Ngân hàng TMCP C3 - Chi nhánh H1.
Nay ông đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất nói trên
buộc vợ chồng ông C, N phải làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho ông,
ông sẽ thanh toán trả nốt số tiền 100.000.000 đồng theo Hợp đồng; tuyên hiệu
Hợp đồng thế chấp 03 thửa đất trên giữa vợ chồng ông C với V-Chi nhánh H1
(nhưng sau đó rút yêu cầu này).
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Nguyễn Văn C,
Nguyễn Thị N xác nhận thỏa thuận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất với giá 370 triệu đồng như nguyên đơn trình bày đã nhận đặt cọc 270 triệu
đồng, đồng thời trình bày thêm:
Khi hợp đồng chuyển nhượng vợ chồng ông đã nói với ông L giấy
chứng nhận thửa đất đang thế chấp tại Ngân hàng N3- Chi nhánh T4 (P) để vay
vốn làm ăn. Ngày 12/11/2019, ông L đã đặt cọc 270.000.000 thống nhất sau 01
năm nếu vợ chồng ông không bán đất nữa thì sẽ trả lại 270 triệu đồng bồi
thường thêm 540 triệu đồng. Do không giấy chứng nhận để đối chiếu số lô, số
thửa, diện tích đất nên hai bên để trống phần diện tích đất không ghi trong hợp
đồng. Gần đến thời hạn 01 năm, vợ chồng ông liên hệ với ông L đang trong
4
miền nam về việc không bán đất trả lại ông L 270 triệu đồng + 540 triệu đồng
tiền bồi thường nhưng ông L không đồng ý.
Ông C, N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L; đề nghị Tòa án
tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 12/11/2019
chấp nhận trả lại ông L 270 triệu đồng đặt cọc + 540 triệu đồng tiền bồi thường
hợp đồng, tiền cây trồng và 60 triệu đồng tiền ông L mua cát san lấp thửa đất.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V - Chi
nhánh H1 trình bày:
Ngày 27/7/2021, V vợ chồng ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị N đã
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
01/2021/HĐBĐ/NHCT34036/CHINHNHAC, tài sản thế chấp gồm QSD thửa đất
số 240a, tờ bản đồ số 01, diện tích 174 m
2
, đất nông thôn, giấy chứng nhận QSD
đất số AM644718, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất Số 331/CN-2008 do
UBND huyện T cấp ngày 02/6/2008; QSD thửa đất số 269+269a, tờ bản đồ số 01,
diện tích 510 m
2
, đất nông thôn: 300 m
2
; đất trồng CHN 120 m
2
, đất NTT sản 90
m
2
, giấy chứng nhận QSD đất số AM 644861, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD
đất Số 330/CN-2008 do UBND huyện T cấp ngày 02/6/2008; đều địa chỉ: Đ,
huyện T, tỉnh Hải Dương đứng tên chủ sử dụng ông Nguyễn Văn C,
Nguyễn Thị N.
Việc ký kết được thực hiện đúng quy định của pháp luật dân sự và đất đai; V
không đồng ý với yêu cầu của ông Nguyễn Trọng L về việc tuyên bố Hợp đồng thế
chấp nếu trên hiệu. Ngày 3/4/2026, ông C, N đã hoàn thành nghĩa vụ trả
nợ được trả lại tài sản thế chấp, nên V quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã H trình bày:
Phần phía bắc thửa 240a giáp đường xóm, phần diện tích 47,7 m
2
, phần
diện tích 14,6 m
2
giáp cạnh phía đông thửa đất phần diện tích 9,8m
2
giáp cạnh
phía tây thửa đất đất hành lang giao thông do UBND quản lý. Cạnh phía nam
thửa 269a phần diện tích 29m
2
đất rãnh thoát ớc do UBND quản (có
đđo vẽ kèm theo BL 171). Hộ gia đình sử dụng đất đã được cấp giấy chứng
nhận QSD đất hợp pháp trả lại diện tích đất giao thông, đất thủy lợi đã lấn chiếm
cho UBND xã quản lý.
Theo tài liệu do Văn phòng đăng đất đai thành phố H - Chi nhánh T4
cung cấp thể hiện: Ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị N được UBND huyện T,
tỉnh Hải ơng cấp GCNQSD đất số AM644861 ngày 02/6/2008, số vào sổ Số
330/CN-2008 đối với thửa đất 269+269a, tờ bản đồ số 01, diện tích 510 m
2
(nguồn
gốc thửa đất nhận chuyển nhượng của anh Nguyễn Văn L1); GCNQSD đất số
AM644718 ngày 02/6/2008, số vào sổ Số 331/CN-2008 đối với thửa đất 240a, tờ
5
bản đồ số 01, diện tích 174 m
2
; ng địa chỉ: Thôn T, H, thành phố Hải Phòng
(trước là xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương), nguồn gốc thửa đất nhận chuyển nhượng
của anh Nguyễn Văn T3.
Người làm chứng ông Phạm Văn T: Xác định ông L nhờ ông bơm 500 m
3
cát san lấp hết 50 triệu đồng và đã thanh toán trả đủ.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản: Diện tích đất theo
hiện trạng sử dụng của thửa 269+269a 240a, tờ bản đồ số 01 802,3m
2
, giá
đất: 6.000.000đ/m
2
đất ở, 450.000 đồng/m
2
đất trồng cây hàng năm đất ao. Các
tài sản trên đất gồm 11 y bưởi, đường kính gốc 0,1m, tán 02m trị giá 1.782.000
đồng; 06 cây mít, đường kính gốc 0,2m, tán 03m trị giá 18.666.000 đồng; 07 cây
nhãn, đường kính gốc 0,25m, tán 05m trị giá 6.531.000 đồng; 05 cây sưa, đường
kính gốc 0,15m, tán 03m trị giá 1.900.000 đồng; 01 đoạn tường bao xây gạch
babanh giáp hộ gia đình ông  chiều dài 16,67 m, cao 1,3m trị giá 4.104.392
đồng; 01 đoạn tường bao xây gạch babanh giáp đường xóm chiều dài 14,17m,
cao 1,6m trị giá 4.293.977 đồng.
- Với nội dung trên, tại Bản án dân sự thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 08
tháng 04 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng đã tuyên xử:
+Đình chỉ yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng số
01/2021/HĐBĐ/NHCT34036/CHINHNHAC ngày 27/7/2021 giữa ông Nguyễn Văn
C, bà Nguyễn Thị N Ngân hàng V chi nhánh H1.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng L. Công nhận hiệu
lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 12/11/2019 giữa ông
Nguyễn Trọng L ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị N đối với thửa đất số
269+269a diện tích 510 m
2
; thửa số 240a diện tích 174 m
2
; tổng diện tích
684 m
2
(thực tế 701,5 m
2
), đều thuộc tờ bản đồ số 01; địa chỉ các thửa đất tại
thôn T, H, thành phố Hải Phòng đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hợp pháp cho ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị N được giới hạn bởi
các điểm B1, B10, B9, A3, A4, A5, A6, B7, A7, B5, B4, B8, B3, A12, B2 đến B1 (có
đđo vẽ kèm theo). Ông Nguyễn Trọng L Nguyễn Thị G được quyền sử
dụng ba thửa đất nêu trên tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn
Trọng L có nghĩa vụ thanh toán trả cho ông C, bà N số tiền 100.000.000 đồng...”
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo
và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử thẩm, ngày 09 tháng 04 năm 2026, bị đơn ông Nguyễn
Văn C Nguyễn Thị N kháng cáo; đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự
thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu
vực 13 - Hải Phòng theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Trọng L về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
6
ngày 12/11/2019.
- Tại phiên tòa phúc thẩm,
+ Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trình bày: Đề nghị Tòa án
hòa giải, nguyên đơn chấp nhận trả lại bị đơn đất tương ứng với số tiền 100 triệu
chưa thanh toán khoảng 190 m
2
, đồng thời xem xét lại đơn giá cát san lấp
100.000 đồng/m
3
không phù hợp, giá thị trường hiện nay là 450.000 đồng/m
3
.
+ Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo, đồng ý bồi thường theo đơn giá cát san lấp mà nguyên đơn đưa ra.
+ Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Về tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của
pháp luật từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm nghị án; các đương sự về
bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự; kháng cáo của bị đơn đảm bảo đúng thời hạn theo quy
định của pháp luật. Về nội dung: Nhận định quyết định của Tòa án cấp thẩm
về nội dung tranh chấp trong vụ án không đúng pháp luật; bản chất hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/11/2019 hợp đồng đặt cọc; đề nghị
Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm theo hướng buộc bị đơn trả lại tiền cọc, chịu
phạt cọc theo thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho phía nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Đây vụ án liên quan đến việc tranh chấp giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng đất; vụ án có bị đơn cư trú và bất động sản tranh chấp tại thôn T, xã
H, thành phố Hải Phòng. Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng thụ lý xét xử
thẩm vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Ngày 08/4/2026, Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng xét xử
thẩm; ngày 09/4/2026, ông Nguyễn Văn C Nguyễn Thị N kháng cáo trong
thời hạn luật định. Nội dung, hình thức đơn kháng cáo phù hợp quy định của pháp
luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Bị đơn kháng cáo vắng mặt, nhưng đã đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị G vắng mặt nhưng ủy
quyền cho người đại diện tham gia tố tụng; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
UBND xã H Ngân hàng TMCP C3 - Chi nhánh H1 vắng mặt tại phiên tòa lần
thứ 2 không do. Xét việc vắng mặt của các đương sự trên không ảnh ởng
đến việc giải quyết vụ án; căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.
- Về nội dung kháng cáo
7
[4] Các đương sự đều xác nhận do có quan hệ họ hàng nên khi biết ông C, bà
N muốn bán đất, ông L đã hỏi mua, quá trình đàm phán 2 bên đã thống nhất được
giá chuyển nhượng đã “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày
12/11/2019 tại nhà ông L. Hợp đồng do ông L soạn, có chữ ký ông L (bên B) và vợ
chồng ông C, bà N (bên A) cùng những người chứng kiến. Trong hợp đồng có thỏa
thuận gchuyển nhượng 370.000.000 đồng; thanh toán tiền làm theo các đợt:
Đợt 1 bên mua đặt cọc 270.000.000 đồng, đợt 2 bên mua thanh toán nốt
100.000.000 đồng khi bên bán làm xong thủ tục sang tên đổi sổ cho bên mua (hạn
chót 1 năm kể từ ngày kết hợp đồng đặt cọc phải sang tên đổi sổ); ngay sau
khi nhận đủ tiền cọc bên A phải bàn giao đất cho bên B…bên B được quyền sử
dụng thay đổi hiện trạng. Ngoài ra, còn thỏa thuận… sau khi hết thời hạn 1
năm, nếu bên A không bán thì phải trả lại tiền cọc cho bên mua phải bồi
thường gấp đôi tiền cọc 540.000.000 đồng cho bên B bên B không mua thì
mất cọc đền hợp đồng 270.000.000 đồng cho bên A…Hợp đồng đặt cọc gồm 4
trang được chia làm 02 bản giá trị pháp như nhau, mỗi bên giữ 01 bản. Các
bên đều xác nhận chỉ một văn bản thỏa thuận duy nhất về việc chuyển nhượng
tại thời điểm lập văn bản, c bên biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đang được ông C, N thế chấp tại ngân hàng, nên không thể đối chiếu để ghi
nhận cụ thể các thông tin số thửa, diện tích và tứ cận trong hợp đồng.
[5] Theo quy định của Bộ luật Dân sự, khi xác định bản chất của giao dịch
dân sự phải căn cứ vào nội dung thỏa thuận, mục đích giao dịch, quyền và nghĩa vụ
các bên, thực tế xác lập, thực hiện giao dịch. Trong văn bản ngày 12/11/2019
ghi rõ khoản tiền 270.000.000 đồng là tiền “đặt cọc”; số tiền 100.000.000 đồng còn
lại chỉ thanh toán khi bên bán hoàn thành thủ tục sang tên, đổi giấy chứng nhận;
đồng thời các bên dành thời hạn 01 năm để thực hiện việc sang tên quy định cụ
thể hậu quả khi một bên từ chối tiếp tục giao dịch. Như vậy, ý chí của các bên
không phải là xác lập và hoàn thành ngay một giao dịch chuyển quyền sử dụng đất,
giao tiền trước để bảo đảm việc tiếp tục giao kết, thực hiện giao dịch đó
trong thời hạn đã thỏa thuận.
[6] Theo quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự; đặt cọc
việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc i sản giá trị trong một
thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng; khi bên nhận đặt cọc từ
chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải chịu hậu quả pháp lý; các bên
quyền thỏa thuận khác về hậu quả của việc đặt cọc. Xét khoản tiền 270.000.000
đồng có đầy đủ đặc điểm của tài sản đặt cọc là được giao tại thời điểm lập văn bản,
nhằm bảo đảm cho việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trong thời hạn nhất định; số tiền 100.000.000 đồng còn lại chđược thanh toán khi
hoàn thành thủ tục sang tên. Mặt khác, nếu ngày 12/11/2019 các bên đã thực sự
xác lập một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn chỉnh thì không
8
do hợp để tiếp tục thỏa thuận “sau 01 năm” mới sang n và nếu sau thời hạn
đó bên bán “không bán” thì phải trả tiền cọc chịu khoản tiền 540.000.000 đồng
(phạt cọc). Các điều khoản này chỉ ý nghĩa khi quyền sử dụng đất chưa được
chuyển nhượng dứt điểm mà các bên mới xác lập một quan hệ bảo đảm cho việc
giao kết, thực hiện giao dịch chuyển nhượng trong tương lai. Đặc biệt, cuối văn
bản, các bên tiếp tục ghi nhận “Hợp đồng đặt cọc gồm 04 trang”; thể hiện bản
chất pháp lý của giao dịch là đặt cọc.
[7] Xét tại thời điểm ngày 12/11/2019, hai bên đều biết giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đang được ông C, N thế chấp tại ngân hàng, nên không thể
đối chiếu để ghi cụ thể số thửa, diện tích, tứ cận của đất chỉ xác định diện tích
khoảng 800m
2
. Sau này, xác định được tài sản tranh chấp gồm thửa 269+269a, tờ
bản đồ số 01, diện tích 510m
2
thửa 240a, tờ bản đồ số 01, diện tích 174m
2
, tổng
684m
2
; trong khi diện tích hiện trạng đo đạc 802,3m
2
(sau khi trừ phần đất
giao thông, thủy lợi còn lại 701,5m
2
). Sự khác biệt về số thửa, diện tích hiện
trạng sử dụng nêu trên cho thấy tại thời điểm lập văn bản, các bên chưa xác định
đầy đủ, chính xác đối tượng của giao dịch, phù hợp với lời khai của các bên. Theo
Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, việc thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử
dụng đất phải giấy CNQSD đất đất đó không tranh chấp (chưa được thế
chấp), đồng thời phải tuân thủ quy định về công chứng, chứng thực theo khoản 3
Điều 167 Luật Đất đai năm 2013. Các tình tiết này không phải căn cứ duy nhất
để xác định giao dịch đặt cọc, nhưng những tình tiết quan trọng củng cố kết
luận rằng tại thời điểm ngày 12/11/2019 các bên chưa hoàn tất một hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực.
[8] Xét diễn biến thực tế sau khi giao kết văn bản ngày 12/11/2019 càng thể
hiện bản chất đặt cọc của giao dịch: Tại Biên bản hòa giải do Ủy ban nhân dân
lập ngày 19/6/2025, ông L trình bày khoảng tháng 02/2020 ông C gọi điện
nhắn ông L về hoàn thành thủ tục mua bán đã rút sổ khỏi ngân hàng. Sau đó tôi
về thì anh C thay đổi ý định không làm thủ tục sang nhượng mảnh đất cho i mà
tiếp tục thế chấp miếng đất tại Ngân hàng khác….Nếu xác định ngày 12/11/2019
các bên đã hoàn tất hợp đồng chuyển nhượng thì sau khi giấy chứng nhận được rút
khỏi ngân hàng vào tháng 01/2020, các bên sẽ thực hiện thủ tục công chứng, chứng
thực đăng ký sang tên theo thỏa thuận. Tuy nhiên, thực tế ông C, N không
thực hiện việc sang tên thay đổi ý định không làm thủ tục sang nhượng cho
thấy tại thời điểm đó, các bên vẫn nhận thức ứng xử theo hướng giao dịch
chuyển nhượng chưa được hoàn tất; khoản tiền 270.000.000 đồng vẫn gắn với việc
thực hiện giao dịch trong tương lai.
[9] Đối với việc sau khi nhận 270.000.000 đồng, ông C, bà N đã giao đất cho
ông L quản lý, sử dụng bơm cát san lấp, trồng cây xây dựng tường bao. Việc
giao đất cho bên đặt cọc quản lý, sử dụng hoặc cho phép bên đặt cọc thay đổi hiện
9
trạng thể cách thức các bên thực hiện thỏa thuận trong thời gian chờ hoàn tất
thủ tục chuyển nhượng, nhưng không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất đã
được chuyển giao về mặt pháp lý. Chính văn bản ngày 12/11/2019 xác định việc
thanh toán 100.000.000 đồng còn lại gắn với thời điểm bên bán hoàn thành thủ tục
sang tên, đổi giấy chứng nhận. vậy, việc giao đất trên thực tế chỉ một hành vi
thực hiện thỏa thuận giữa các bên, không đủ căn cđể xác định ông L đã trở thành
người sử dụng đất hợp pháp. Tòa án cấp thẩm công nhận hiệu lực hợp đồng
ngày 12/11/2019 giao quyền sử dụng đất cho ông L, Nguyễn Thị G chưa
phù hợp với bản chất giao dịch và các quy định pháp luật có liên quan.
[10] Do thỏa thuận đặt cọc ngày 12/11/2019 giao dịch độc lập hiệu
lực, việc ông C, bà N (bên nhận cọc) xác định không bán đất cho ông L hành vi
từ chối thực hiện giao dịch mà việc đặt cọc nhằm bảo đảm. Theo khoản 2 Điều 328
Bộ luật Dân sự năm 2015, bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng
thì phải trả lại 270.000.000 đồng tiền đặt cọc 540.000.000 đồng tiền phạt cọc,
tổng cộng 810.000.000 đồng.
[11] Đối với việc ông L đã đầu trồng cây xây dựng tường bao, đổ cát
san lấp. Mặc a án cấp thẩm chưa định giá khối lượng cát san lấp, nhưng
tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn chấp nhận thanh toán cho ông L giá trị cây
cối, tài sản trên đất theo kết quđịnh giá 37.277.369 đồng tiền cát san lấp
theo yêu cầu của ông L 500 × 450.000 đồng/m³ = 225.000.000 đồng. Do đó,
cần buộc ông C, N phải thanh toán cho ông L khoản tiền 225.000.000 đồng +
37.277.369 đồng = 262.277.369 đồng phù hợp với quy định của pháp luật, bảo
đảm quyền lợi của phía nguyên đơn.
[12] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy căn cứ chấp nhận
kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị N về việc không công nhận
“Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 12/11/2019; xác định thỏa
thuận đặt cọc ngày 12/11/2019 có hiệu lực và buộc ông C, N thanh toán cho ông
L tổng số tiền 1.072.277.369 đồng như trên.
[13] Về án phí: Ông L người cao tuổi đơn xin miễn án phí nên được
miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Văn C
Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự thẩm giá ngạch đối với số tiền phải
thanh toán trả cho ông L. Kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn kháng cáo không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[14] c quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
10
Căn cứ các Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 328, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C Nguyễn Thị
N; sửa Bản án dân sự thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng L về việc
công nhận hiệu lực “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 12 tháng
11 năm 2019 giữa ông Nguyễn Trọng L với ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N.
2. Xác định văn bản thỏa thuận ngày 12 tháng 11 năm 2019 giữa ông
Nguyễn Trọng L với ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị N thỏa thuận đặt cọc
để bảo đảm việc giao kết, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3. Buộc ông Nguyễn Văn C Nguyễn Thị N phải trả cho ông Nguyễn
Trọng L số tiền đặt cọc 270.000.000 đồng; số tiền phạt cọc 540.000.000
đồng; bồi thường thiệt hại giá trị cát san lấp là 225.000.000 đồng và giá trị cây cối,
tài sản trên đất 37.277.369 đồng. Tổng cộng 1.072.277.369 đồng. Kể từ ngày
người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án
chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối
với số tiền chậm thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Trọng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
thẩm, nhưng do ông L người cao tuổi đơn xin miễn án phí nên được miễn
toàn bộ án phí. Ông Nguyễn Văn C Nguyễn Thị N phải chịu 44.168.321
đồng án phí dân sự thẩm. Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn C Nguyễn
Thị N được chấp nhận nên ông C N không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm và được hoàn trả 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004285 ngày 14 tháng 4 năm 2026
của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Các quyết định khác của Bản án dân sự thẩm số 09/2026/DS-ST ngày
08 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng không
kháng cáo, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
11
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi
hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
4, 6 7 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Phòng THADS KV 13 Hải Phòng;
- TAND khu vực 13 Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Minh Hạnh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
Đoàn Thị Hương Nhu Bùi Thị Thúy Hà
Đặng Minh Hạnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 223/2026/DS-PT Bản án số 223/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 223/2026/DS-PT Bản án số 223/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất