Bản án số 48/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 48/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 48/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 48/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 48/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 48/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Y W Byă và bà H L Niê phải trả cho bà Võ Thị B số tiền gốc còn nợ là 528.000.000 đồng và 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 558.000.000 đồng. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4-ĐẮK LẮK
Bản án số: 48/2025/DS-ST.
Ngày 29/9/2025.
(V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản và tranh chấp
hợp đồng mua bán tài sản).
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do -Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- ĐẮK LẮK
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà H’Năm Bkrông.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Oanh.
Ông Ngô Văn Tuyển.
-Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lường – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 -
Đắk Lắk.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Trần Duy Quyền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm
2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”,
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm
2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-DS ngày 12/9/2025 giữa các
đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Võ Thị B, sinh năm 1965 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 2, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Lê K,
sinh năm 1982.
Địa chỉ: 89 P, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2.Bị đơn: Ông Y W Byă, sinh năm 1954 và bà H’ L Niê, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Buôn Yĕ, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người
đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Lê K trình bày:

2
Trên cơ sở có mối quan hệ mua, bán nên bà Võ Thị B có cho ông Y W Byă và
bà H L Niê nợ số tiền mua phân bón vào ngày 15/01/2022 là 528.000.000 đồng (năm
trăm hai mươi tám triệu đồng) tại Giấy cam kết trả nợ được ông Y W Byă và bà H
Lũm Niê là người trực tiếp ký và hẹn ngày 15/07/2022 trả cho bà Võ Thị B và tiền
mượn ngày 04/08/2019 là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) tại Giấy mượn tiền
được ông Y W Byă và bà H Lǔm Niê là người trực tiếp ký và hẹn đến cuối năm 2019
trả cho bà B. Khi viết Giấy cam kết trả nợ hai bên có thỏa thuận với nhau về số tiền lãi
suất là: 1,6%/tháng. Ông Y W Byă và bà H L Niê có đưa bà Võ Thị B giữ tài sản là
Quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay trên là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số: K 543460. Hiện tại số tiền nợ trên ông Y W Byă và bà H L Niê chưa trả cho bà
Võ Thị B đúng như đã thỏa thuận trên, nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Mặc dù bà Võ Thị B đã nhiều lần gọi điện thoại và trực tiếp đến nhà ông Y W
Byă và bà H L Niê để yêu cầu trả số tiền trên, nhưng ông Y W Byă và bà H L Niê cố
tình không chịu trả số tiền còn nợ. Điều này đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bà Võ Thị B. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Võ Thị B.
Vì vậy bà Võ Thị B khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Y W Byă và bà H Lũm Niê
phải có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị B tổng số nợ gốc là 558.000.000 đồng (năm
trăm năm mươi tám triệu đồng). Lãi suất: 1,6%/tháng đối với khoản tiền 558.000.000
đồng kể từ ngày 15/07/2022 cho đến nay.
Đối với việc ông Y W Byă và bà H L Niê cho rằng thực tế ông bà chỉ nợ bà Võ
Thị B số tiền 210.000.000 đồng, đối với khoản nợ ghi trong giấy cam kết trả nợ là
558.000.000 đồng là do bà B ép vợ chồng ông bà ký vào năm 2022 thì hoàn toàn
không có căn cứ, đề nghị ông bà cung cấp chứng cứ về việc bị ép nhận nợ để chứng
minh cho lời khai của mình, bà B hoàn toàn phản bác lời khai trên.
Tại phiên tòa hôm nay người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của
nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi đối với số nợ
30.000.000 đồng.
Thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với việc tính lãi suất của khoản nợ 528.000.000
đồng là 1,6%/tháng, yêu cầu ông Y W Byă và bà H L Niê chịu lãi suất trong hạn và lãi
suất quá hạn do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền đối với số tiền 528.000.000 đồng tính
từ ngày 15/01/2022 với mức lãi suất là 10%/năm.
2. Trong bản tự khai bị đơn ông Y W Byă và bà H L Niê trình bày:
Năm 2017 vợ chồng tôi nợ bà Võ Thị B trú tại thôn 2, xã E, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk số tiền 100.000.000 đồng. Sau đó vợ chồng tôi có ứng tiền mua phân bón của bà B
là 50.000.000 đồng. Đến năm 2019 chúng tôi mượn tiếp 60.000.000 đồng.

3
Đến năm 2022 bà B bắt vợ chồng tôi phải ký vào giấy xác nhận nợ với số tiền
558.000.000 đồng. Vợ chồng chúng tôi chỉ nợ bà B số tiền 210.000.000 đồng.
Tháng 7 năm 2019 thì thửa đất số 237, tờ bản đồ 05, diện tích 18.000m
2
xảy ra
tranh chấp, bị người khác chặt hết cao su, thửa 203, tờ bản đồ 05, diện tích 21.728m
2
cũng xảy ra tranh chấp bị người ta chiếm giữ, cắt hết cây cà phê. Tôi đã làm đơn tố cáo
đến cơ quan chức năng giải quyết nên hoàn toàn không có căn cứ để nói tôi nợ phân
bón. Lý do tôi ký vào giấy nhận nợ là do tôi bị ép và lúc đó tôi không tỉnh táo. Do đó
vợ chồng tôi chỉ đồng ý trả cho bà B số nợ là 210.000.000 đồng.
Tại phần tranh luận, người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên
đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Y W Byă và bà H L Niê phải trả
số nợ gốc là 558.000.000 đồng.
Thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với việc tính lãi suất của khoản nợ 528.000.000
đồng là 1,6%/tháng, yêu cầu ông Y W Byă và bà H L Niê chịu lãi suất trong hạn và lãi
suất quá hạn do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền đối với số tiền 528.000.000 đồng tính
từ ngày 15/01/2022 với mức lãi suất là 10%/năm.
Người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Y W bà H L trả tiền lãi đối với số
tiền nợ 30.000.000 đồng.
Bị đơn ông Y W Byă và bà H L Niê vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
-Về tố tụng: Quá trình thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có quyết
định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân
sự, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Bị đơn được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, đã
vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, 357, 430, 440, Điều 466,
Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Buộc ông Y W Byă và bà H L Niê trả số tiền gốc còn nợ là 528.000.000 đồng
và 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 558.000.000 đồng.
+Về tiền lãi: Buộc ông Y W Byă và bà H L Niê phải trả số tiền lãi trong hạn và
số tiền lãi quá hạn do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền 10%/năm của số tiền nợ

4
528.000.000 đồng từ ngày 15/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
+ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về viêc buộc ông Y W bà H L trả
tiền lãi đối với số tiền nợ 30.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
1.1.Quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ
theo Giấy mượn tiền và Giấy cam kết trả nợ tiền mua bán phân bón giữa bà Võ Thị B
với ông Y W Byă và bà H L Niê, do vậy xác định đây là tranh chấp dân sự, về quan hệ
tranh chấp là “Tranh chấp kiện đòi tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
1.2.Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Y W Byă và bà H L Niê
có nơi cư trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk). Vì vậy, căn
cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39
của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân khu vực 4- Đắk Lắk.
1.3. Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử thấy Tòa án đã thực hiện
việc cấp tống đạt các văn bản theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho các bị
đơn nhưng các bị đơn vẫn vắng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng
mặt các bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
2.1.Về thời gian vay tiền và số tiền vay:
-Đối với khoản nợ 30.000.000 đồng: Theo Giấy mượn tiền ngày 04/8/2019, ông
Y W Byă và bà H L Niê có vay của bà Võ Thị B số tiền 30.000.000 đồng, cam kết sẽ
trả trong năm 2019, khi vay hai bên không thỏa thuận mức lãi suất. Tuy nhiên đến hết
năm 2019 ông Y W Byă và bà H L Niê đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
-Đối với khoản nợ 528.000.000 đồng: Theo Giấy cam kết trả nợ ngày
15/01/2022 ông Y W Byă và bà H L Niê xác định có nợ tiền làm nhà và đầu tư phân
bón của Đại lý Ngọc Bích do bà Võ Thị B làm chủ, tổng cộng là 528.000.000 đồng,
hẹn trả số nợ gốc và lãi vào ngày 15/7/2022. Khoản nợ này ông Y W Byă và bà H L
Niê vẫn chưa thanh toán cho bà Võ Thị B.
Quá trình giải quyết vụ án do ông Y W Byă và bà H L Niê có trình bày trong
bản tự khai và xác định chỉ nợ của bà B tổng số tiền là 210.000.000 đồng. Ông Y W
Byă và bà H L Niê cho rằng lý do ký vào giấy nhận nợ số tiền 528.000.000 đồng là do
bị ép và lúc đó ông, bà không tỉnh táo.

5
Xét thấy:
Đối với khoản nợ 30.000.000 đồng: Ngày 04/8/2019, ông Y W Byă và bà H L
Niê có ký vay của bà Võ Thị B số tiền 30.000.000 đồng, cam kết trả nợ trong năm
2019, mặc dù đã quá hạn nhưng không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại
các Điều 280, 466 Bộ luật dân sự nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn,
cần buộc bị đơn ông Y W Byă và bà H L Niê có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị B số tiền
30.000.000 đồng nợ gốc theo quy định của pháp luật.
Đối với khoản nợ 528.000.000 đồng: Theo Giấy cam kết trả nợ ngày 15/01/2022
ông Y W Byă và bà H L Niê xác định có nợ tiền làm nhà và đầu tư phân bón của Đại
lý Ngọc Bích do bà Võ Thị B làm chủ, tổng cộng là 528.000.000 đồng, hẹn trả số nợ
gốc và lãi vào ngày 15/7/2022. Trong bản tự khai ông Y W Byă và bà H L Niê khai nại
rằng, ông bà chỉ nợ bà B số tiền 210.000.000 đồng, lý do ký vào giấy nhận nợ số tiền
528.000.000 đồng là do bị ép và lúc đó tôi không tỉnh táo. Qúa trình giải quyết vụ án,
Tòa án đã triệu tập ông bà đến tham gia đối chất để làm rõ nhưng ông bà không có
mặt, trong bản tự khai ông Y W cũng xác định Giấy cam kết trả nợ là do ông viết tuy
nhiên ông bà không cung cấp được chứng cứ, tài liệu gì chứng minh rằng việc viết
giấy cam kết như trên la do bị ép buộc. Đến ngày cam kết trả nợ nhưng ông bà không
thực hiện là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại các Điều 280, 466 Bộ luật dân
sự nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc ông Y W Byă và bà H L
Niê phải trả cho bà Võ Thị B số tiền nợ gốc là 528.000.000 đồng.
2.2.Về lãi suất:
Về yêu cầu tính lãi đối với khoản nợ 30.000.000 đồng: Trong giấy mượn tiền
hai bên không thỏa thuận về lãi suất. Căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự, yêu cầu tính lãi
suất 1,6%/năm của nguyên đơn đối với tiền nợ là 30.000.000 đồng là không có căn cứ
chấp nhận. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu
trả lãi đối với số tiền này. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, không trái quy
định của pháp luật, căn cứ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ phần đối
với yêu cầu thanh toán lãi đối với số tiền 30.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất
trong quá trình thi hành án.
Về yêu cầu tính lãi đối với khoản nợ 528.000.000 đồng: Căn cứ vào “Giấy cam
kết trả nợ” lập ngày 15/01/2022, giữa bà B và ông Y W Byă và bà H L Niê có thỏa
thuận lãi suất nhưng không thể hiện cụ thể là bao nhiêu. Đến ngày 15/7/2022, Y W
Byă và bà H L Niê không trả nợ theo thỏa thuận nên xác định lãi suất trong hạn và lãi
suất quá hạn do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 10%/năm. Căn cứ Điều 357, khoản
1, khoản 2 Điều 468, yêu cầu tính lãi suất theo quy định của nguyên đơn là có căn cứ

6
cần chấp nhận, buộc ông Y W Byă và bà H L Niê phải trả tiền lãi trong hạn và số tiền
lãi quá hạn do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền 10%/năm của số tiền nợ 528.000.000
từ ngày 15/01/2022 đến ngày xét xử 29/9/2025 là 1349 ngày, cụ thể (528.000.000
đồng x 1349 ngày) x 10%/365 ngày = 195.143.014 đồng.
Ông Y W Byă và bà H L Niê tiếp tục chịu lãi suất đối với số tiền 528.000.000
đồng kể từ ngày 30/9/2025 theo mức lãi suất 10%/năm cho đến khi thanh toán hết nợ
gốc.
[3].Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án ông Y
W Byă và bà H Lǔm Niê bà Võ Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[4]. Xét thấy ý kiến, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 227, 228, khoản 1 Điều 217, Điều 266, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng
Dân sự;
Căn cứ Điều 280, 357, 430, 440, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị B.
+ Về nợ gốc: Buộc ông Y W Byă và bà H L Niê phải trả cho bà Võ Thị B số
tiền gốc còn nợ là 528.000.000 đồng và 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 558.000.000
đồng.
+Về nợ lãi: Buộc ông Y W Byă và bà H L Niê phải trả số tiền lãi trong hạn và
số tiền lãi quá hạn do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền 10%/năm của số tiền nợ
528.000.000 đồng từ ngày 15/01/2022 đến ngày 29/9/2025 là 195.143.014 đồng.
Ông Y W Byă và bà H L Niê tiếp tục chịu lãi suất đối với số tiền 528.000.000
đồng kể từ ngày 30/9/2025 theo mức lãi suất 10%/năm cho đến khi thanh toán hết nợ
gốc.
Áp dụng khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất đối
với số tiền 30.000.000 đồng trong quá trình thi hành án.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Y W bà H L
trả tiền lãi đối với số tiền nợ 30.000.000 đồng.

7
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Y W Byă và bà H L Niê bà Võ Thị B được
miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 326/2016/UBTVQH14 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
4. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn
15 ngày kể từ kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND khu vực 4-Đắk Lắk;
-Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; (Đã ký)
-Các đương sự;
-Lưu hồ sơ, TA.
H’ Năm Bkrông

8
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nguyễn Thị Lan Lý Viết Chấn
THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
H’Năm Bkrông

9

10

11
12
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm