Bản án số 465/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 465/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 465/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 465/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Quách Trấn Ánh N-
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 465/2026/DS-PT Bản án số 465/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 465/2026/DS-PT Bản án số 465/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 465/2026/DS-PT
Ngày 29-6-2026
V/v “Tranh chấp quyền s dụng đất,
Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất hiệu,
Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và Yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đinh Thị Kiều Lương
Các Thẩm phán: Bùi Lan Hương
Hồng Hạnh
- Thư phiên tòa: Ngô Kỳ Anh Thư Tòa án nhân dân Thành phố
Đồng Nai.
- Đại diện Viện sát nhân dân Thành phố Đ tham gia phiên toà:
Nguyễn Ngọc L - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng
Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 273/2026/TLPT-DS ngày
06 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, Yêu cầu tuyên bố
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu, Yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án
dân sự thẩm số 33/2026/DSST ngày 06/02/2026 Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Đồng Nai bị kháng cáo; kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
380/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số
503/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Quách Trần Ánh N, sinh năm 1991;
Địa chỉ: 8, phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường
H, Thành phố Đ).
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1975;
Địa chỉ: I, H, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T,
Thành phố Đ); (theo Văn bản ủy quyền ngày 24/6/2020).
- Bị đơn: ông Văn N1, sinh năm 1934;
Địa chỉ: 1, khu phố N, phường H, thành phố B tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
Người đại diện theo ủy quyền: ông Khánh H, sinh năm 1974;
Địa chỉ: 5 (số B), phố B, phường T, thành phố B (nay là phường T),
Thành phố Đ (theo Văn bản ủy quyền 06/2/2015).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Đ (kế thừa quyền nghĩa vụ tố
tụng của Ủy ban nhân dân phường H, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai)
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Đ (kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của y ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Tuấn A - Phó Trưởng phòng
tế, tầng thị phường T, Thành phố Đ (theo bản ủy quyền số 3581/UBND-VP
ngày 15/12/2025).
3. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1918 bà Nguyễn Thị N3, sinh năm
1923 (ông N2 N3 đều đã chết);
Địa chỉ: 4, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, thành phố Đ).
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N2 và
Nguyễn Thị N3:
3.1. Ông Nguyễn Văn H1, không năm sinh;
Địa chỉ: 4, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
3.2. Nguyễn Thị D, không năm sinh;
3.3. Ông Nguyễn Văn T, không năm sinh;
Cùng địa chỉ: 1, 18, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(nay phường T, Thành phố Đ).
(Ông Khánh H mặt, ông Nguyễn Quốc K và các đương sự còn lại
đều vắng mặt tại phiên tòa).
3
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện bản tự khai nguyên đơn Quách Trần Ánh N
trình bày:
Về nguồn gốc đất quá trình s dụng: vào năm 2009, nhận chuyển
nhượng 02 thửa đất nông nghiệp số 37 41, tờ bản đồ số 17, H, thành phố B,
tỉnh Đồng Nai (nay phường T, Thành phố Đ) từ ông Nguyễn Văn N2 với tổng
diện tích 2.190,5 m². Việc chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên hoàn toàn tự
nguyện, hợp pháp đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AQ 045508 số AQ 045506 cùng ngày 29/9/2009.
Về sự việc tranh chấp: tháng 3/2014, để thuận tiện trong việc quản sử
dụng đất, đã hợp đồng với Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất tỉnh
Đồng Nai - Chi nhánh B tiến hành đo vẽ, cắm mốc một số thửa đất, trong đó
thửa 37 41. Tuy nhiên, khi cán bộ Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất
xuống thực hiện đo vẽ, cắm mốc thì phát hiện thửa 37, 41 đang bị ông Văn
N1 lấn chiếm, sử dụng hành vi ngăn cản.
không thể tiến hành công tác đo vẽ, cắm mốc như đã thỏa thuận nên đại
diện Văn phòng ĐKQSD đất đã tiến hành lập Biên bản ghi nhận lại sự việc để
hướng xử về sau (Biên bản làm việc đ ngày 12/03/2014).
Sau sự việc nói trên, đã nhiều lần gặp trực tiếp ông Văn N1 để tìm
hiểu do yêu cầu ông chấm dứt hành vi lấn chiếm, sử dụng trái phép đó,
đồng thời yêu cầu không được cản trở công tác đo vẽ cắm mốc nhưng ông N1
vẫn không đồng ý. Ngày 16/5/2014 đã làm đơn gửi Ủy ban nhân dân H, đ
nghị hòa giải giải quyết sự việc. Ngày 18/6/2014 Ủy ban nhân dân H đã
tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Về yêu cầu khởi kiện: Việc cản trở công tác tiến hành đo đạc, cắm mốc
cũng như lấn chiếm sử dụng trái phép diện tích đất nói trên đã gây ra nhiều k
khăn thiệt hại cho bà. Hơn nữa, do không thể tiếp tục thương lượng, giải
quyết ổn thỏa với ông Văn N1 về vấn đề trên để bảo vệ quyền, lợi ích
chính đáng của bà.
Căn cứ vào c Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 045508, AQ
045506 của các thửa 37, 41, tờ bản đồ số 17, H, thành phố B các quy định
pháp luật hiện hành liên quan. chính thức làm đơn khởi kiện ông Văn
N1, yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn, buộc ông
4
Văn N1 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho diện tích đất 2.190,5 thuộc các
thửa 37 41, tờ bản đồ số 17, H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
Đối với yêu cầu phản tố của Bị đơn thì không đồng ý.
Đối với kết quả đo vẽ, thẩm định giá tài sản thì đồng ý không yêu
cầu khác.
Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của thì không
yêu cầu giải quyết hậu quả của việc hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trong vụ án này.
Đối với các chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp
luật.
Tại phiên tòa, phía nguyên đơn tự nguyện đ nghị hỗ trợ cho phía bị đơn số
tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) khi di dời hoàn trả 02 thửa đất
nêu trên lại cho nguyên đơn.
- Tại bản tự khai - Bị đơn ông Văn N1 trình bày:
1. Nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất thửa 37 41 của ông:
Gia đình ông hội viên Hội dân H; năm 1978 tham gia vào Tập đoàn S
H; năm 1983 Tập đoàn chuyển sang hình Hợp tác nông nghiệp năm
1986 với chủ trương, chính sách về đất đai của Nhà nước thì gia đình ông được
Hợp tác nông nghiệp giao 37 sào ruộng (3.700m
2
đất lúa nước) để sản xuất,
canh tác, nay thuộc thửa đất s 37 41, tờ bản đồ số 17 tại H, thành phố B,
Đồng Nai (nay phường T, Thành phố Đ). H ông đã sử dụng diện tích đất này
để canh tác từ năm 1986 đến năm 1992 t được Ủy ban nhân dân H cấp Sổ
khai diện tích thu nộp thuế nông nghiệp số 133/TNN ngày 22/9/1992. Hộ
ông đã nộp thuế đến hết 2002, sang 2003 được Nhà nước miễn thuế nông nghiệp.
Đến năm 2000 theo chủ trương của Nhà nước cho khai, đăng quyền
sử dụng đất, ông đến Ủy ban nhân dân H để làm thủ tục nhưng cán bộ địa
chính không cho nói rằng ông Nguyễn Văn N2 đã đăng khai rồi. Bức
xúc với cách làm việc của cán bộ nên năm 2003, ông làm đơn khiếu nại trực
tiếp đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân H được Ủy ban nhân dân trả lời bằng
văn bản số: 59/CV.UBX ngày 30/09/2003 do ông Trần Tuấn K1 ký. do
Ủy ban nhân dân H từ chối không cho gia đình ông đăng ký: “diện tích đất
trên do tập đoàn giao cho gia đình ông Văn N1 canh tác không phải giao đứt,
cho hoặc cấp hẳn cho gia đình ông toàn quyền sử dụng nên không được đăng
5
ký” thừa nhận “Năm 2000 - Đội đăng không giải quyết cho ông đất
nguồn gốc của ông Nguyễn Văn N2 để cho ông Nguyễn Văn N2 đăng
hợp lý”. Đồng thời ông K1 đã nói rằng đất của ông đang sử dụng thì cứ sử dụng
khi nào nước thu hồi thì được bồi thường nên cứ an tâm sản xuất, cải thiện
đời sống gia đình.
Do không hiểu pháp luật nên hộ ông vẫn tiếp tục sử dụng diện tích đất này
để canh tác đến ngày 22/11/2007 thì ông nhận được giấy mời của Ủy ban nhân
dân H để giải quyết tranh chấp đất với ông Nguyễn Văn N2. Nhận thấy cách
giải quyết của Ủy ban nhân dân H không thỏa đáng nên ngày 28/11/2007 ông
gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân H, Ủy ban nhân dân thành phố B,
Phòng Tài nguyên Môi trường Hội Nông dân thành phố B nhưng không
được các quan trên giải quyết.
Năm 2008 ông Nguyễn Văn N2 khởi kiện ông ra Tòa án nhân dân thành
phố Biên Hòa đòi lại đất. Ngày 20/08/2008, Tòa án nhân dân thành phố Biên
Hòa xét xử ra Bản án số 280/2008/DS-ST với nhận định “Diện tích đất tranh
chấp không thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn N2 gia đình ông
Nguyễn Văn N2 không canh tác trên diện tích đất này Di chúc của
Nguyễn Thị T1 ông Nguyễn Văn C cho Nguyễn Văn N2 diện tích đất trên
không sở. Nên Tòa án tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn
N2, đồng thời công nhận ông Văn N1 đủ điều kiện đ được công nhận quyền
sử dụng đất đối với các thửa đất 28, 34, 35 ông Văn N1 trách nhiệm
liên hệ quan nước thẩm quyền để tiến hành làm thủ tục công nhận quyền
sử dụng đất”. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, hộ ông không để ý số
thửa đất tranh chấp n sau khi Bản án 280/2008/DS-ST hiệu lực, gia đình
ông tiến hành làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngày
24/12/2008 Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất đến đo đạc thì mới phát hiện
Bản án 280/2008/DS-ST đã công nhận nhầm thửa đất số 28, 34, 35 cho gia đình
ông; thực tế thửa đất 37, 41 mới do gia đình ông đang sử dụng, còn thửa đất số
28 do ông Đức L1 sử dụng thửa đất số 35 do ông Mai Tuấn K2 sử dụng.
thế cán bộ Văn phòng đăng tiến hành lập biên bản Ủy ban nhân dân
H xác nhận (Biên bản làm việc ngày 24/12/2008). Trước sự nhầm lẫn trên,
ông đã làm đơn kiến nghị lên Ủy ban nhân dân thành phố B, gửi đơn đề nghị
Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa chỉnh sửa bản án đồng thời gửi đơn đến
6
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đ) đề nghị giải quyết để ông
được đăng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 37, 41.
Ngày 08/05/2013, Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai ra Quyết định tái
thẩm số 04/2013/DS-TT, hủy Bản án 280/2008/DS-ST ngày 20/08/2008 và
chuyển hồ về cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết lại vụ án
theo đúng quy định pháp luật. Ngày 18/7/2013, Tòa án nhân dân thành phố Biên
Hòa thụ lại v án số 453/2013/TLST-DS ngày 29/7/2013 Tòa án ban hành
Quyết định số 185/2013/QĐST-DS, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tranh chấp
quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn N2 bị đơn Văn
N1 với do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện.
Sau đó, ông đã gửi đơn thỉnh cầu Ủy ban nhân dân thành phố B xem xét
thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn N2 đối
với thửa đất số 37 41. Ngày 07/03/2014 ông nhận được Văn bản trả lời của
Ủy ban nhân dân thành phố B về việc xử đơn của ông, nội dung Công văn số:
1236/UBND-TD của Ủy ban nhân dân thành phố B trả lời là Hồ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 13.956,9 m
2
tại H (trong đó
các thửa 28, 35, 34, 37, 41 tờ bản đồ số 17) cho ông Nguyễn Văn N2
phù hợp quy định. Việc khiếu nại hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã được cấp cho ông Nguyễn Văn N2 không sở. Trường hợp thửa đất
tranh chấp quyền sử dụng đất thì do quan Tòa án giải quyết… đề nghị
ông N2 liên hệ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để được giải quyết theo
đúng quy định của pháp luật”.
Nhận thấy việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa
đất 34, 37, 41, tờ bản đồ số 17 của Ủy ban nhân dân thành phố B cho ông
Nguyễn Văn N2 khuất tất không đúng quy định pháp luật nên ông đã
khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu “Hủy Quyết định cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất” đối với thửa đất 34, 37, 41 đã cấp cho ông Nguyễn Văn N2.
Ngày 06/10/2014 vụ án đã được Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa thụ số
42/2012/TLST-HC. Trong q trình giải quyết v án ông được ông Nguyễn Duy
T2, đại diện Ủy ban nhân dân thành phố B tham gia tố tụng cho biết thửa đất số
37, 41, tờ bản đồ số 17 đã được ông Nguyễn Văn N2 đã chuyển nhượng cho
Quách Trần Ánh N và yêu cầu rút đơn khởi kiện để kiện vụ án n sự cho phù
hợp quy định pháp luật nên ông đã rút yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính. Ngày
7
27/01/2015 Tòa án thành phố Biên Hòa đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án hành chính số 05/2015/QĐST-HC.
2. Ủy ban nhân dân thành phố B (nay phường T) cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số Đ184774 ngày 7/4/2004 cho ông Nguyễn Văn N2
Nguyễn Thị N3 (với tổng diện tích 13.956,9m
2
tại H, B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ), trong đó các thửa34, 37 41, tờ bản đồ số 17)
trái quy định pháp luật đất đai năm 1993, cụ thể như sau:
Theo Biên bản họp xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày
18/04/2003 của Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H và
tại Tờ trình về việc phê duyệt hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ngày 05/04/2004 của Phòng Tài nguyên Môi Trường thành phố B ghi nhận
“nguồn gốc đất của thửa đất (trong đó thửa 34, 37, 41) do ông Nguyễn Văn
C Nguyễn Thị T1 chuyển quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn N2 từ năm
1994”. Tại thời điểm lập di chúc ngày 04/04/1994 thì ông Nguyễn Văn C
Nguyễn Thị T1 không quyền sử dụng đất đối với 02 sở ruộng tại p N, H
(theo 2 bản trích lục địa bộ) bởi 02 sở ruộng này đang được Hợp tác
nghiệp H quản lý, sử dụng (điều này được ghi nhận tại văn bản xác nhận của
Ủy ban nhân dân thành phố B). vậy, Tờ di chúc ngày 04/04/1994 do ông
Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T1 lập không hiệu lực do ông Nguyễn Văn
C Nguyễn Thị T1 không quyền sử dụng đất đối với 02 sở ruộng tại ấp
N, H.
Hơn nữa trong di chúc không xác định thửa đất số 34, 37, 41 tờ bản đồ số
17 thuộc 02 sở ruộng tại ấp N, H (theo 02 bản trích lục địa bộ), đồng thời tại
thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn
N2 Nguyễn Thị N3 không phải người đang sử dụng thửa đất số 34, 37,
41 tờ bản đ s 17.
Như phân tích trên việc Ủy ban nhân dân thành phố B (nay phường T)
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ184774 ngày 7/4/2004 cho ông
Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3 (với tổng diện tích 13.956,9m
2
tại H,
trong đó các thửa 34, 37 41 tờ bản đ số 17) đã vi phạm khoản 1 Điều 73
Luật Đất đai năm 1993 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai
năm 1998; vi phạm khoản 1 Điều 3 Nghị định 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000
của Chính phủ v thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.
Theo điều khoản này quy định “Tổ chức, hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất
8
một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số
17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về th tục chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất thế chấp,
góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (gọi tắt Nghị định số17/1999/NĐ-
CP"17/1999/NĐ- phủ), thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo
quy định này ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3 không thuộc đối tượng
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 34, 37, 41 t
bản đồ số 17.
3. Việc Quách Trần Ánh N nhận chuyển nhượng thửa đất số 37, 41
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AQ 045508 AQ 045506
không đúng quy định của pháp luật.
Một là, như trình bày mục 1, 2 thì việc Ủy ban nhân dân thành phố B cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ184774 ngày 7/4/2004 cho ông
Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3 (với tổng diện tích 13.956,9 m
2
tại H,
Thành phố B, Đồng Nai, trong đó c thửa34, 37 41 tờ bản đồ số 17) sai
quy định pháp luật đất đai năm 2003. Ủy ban nhân dân cấp quyền sử dụng đất
các thửa34, 37 41 tờ bản đồ số 17 cho ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị
N3 cấp không đúng đối tượng. vậy, ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị
N3 không được quyền chuyển nhượng thửa đất 37, 41 cho nguyên đơn.
Hai là, thời điểm nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa
đất 37, 41 (ngày 23/05/2009) thì các thửa đất đang tranh chấp (theo Biên bản
làm việc ngày 24/12/2008 Ủy ban nhân dân H) được Ủy ban nhân dân H
xác nhận do gia đình ông đang sử dụng tranh chấp (đang được Tòa án
nhân dân thành phố Biên Hòa thụ lý lại vụ án số 453/2013/TLST-DS ngày
18/7/2013).
Ba là, ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3 khi tham gia giao dịch
chuyển nhượng quyền s dụng đất lúc này ông N2 đã 91 tuổi (sinh năm 1918)
Năng86 tuổi (sinh năm 1923), liệu rằng giao dịch này ông N2 N3
tự nguyện không? nhận thức được hành vi hợp đồng của mình không?
Hay do người khác thực hiện…
Như phân tích trên cho thấy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đối với thửa đất 37,41 giữa ông Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thị N3 với
Quách Trần Ánh N ngày 23/05/2009 đã vi phạm khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai
2003 Điều 122, 127, 137 Luật Dân sự 2005.
9
vậy, việc Quách Trần Ánh N cáo buộc gia đình ông đã chiếm lấn
sử dụng trái phép thửa đất 37, 41 là không sở. Do đó, đề nghị Tòa án bác
toàn b yêu cầu của nguyên đơn chấp nhận toàn bộ các yêu cầu phản tố của
bị đơn như sau:
- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 37,
41 giữa ông Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thị N3 với Quách Trần Ánh N
ngày 23/05/2009vô hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 045508 AQ 045506
đối với các thửa đất 37, 41 tờ bản đ s 17 tại H, thành phố B, Thành phố Đ
Ủy ban nhân dân thành phố B đã cấp cho Quách Trần Ánh N.
- Công nhận gia đình ông quyền quản lý, sử dụng các thửa đất 37, 41 tờ
bản đồ số 17 tại H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay Phường T, Thành phố
Đ).
- Đối với kết quả đo vẽ, thẩm định giá tài sản: Ông đồng ý không yêu
cầu khác.
Tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn rút một phần yêu
cầu phản tố đối với “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử cho
tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ chứng minh nghề
nghiệp, thu nhập chính của nguyên đơn vào thời điểm nhận chuyển nhượng từ
ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3 để xác định nguyên đơn phải
người đủ điều kiện để nhận chuyển nhượng đất lúa nước hay không.
- Tại bản tự khai của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông
Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3 ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Các thửa đất 34, 37, 41 tờ bản đồ số 17 nguồn gốc đất của gia đình
ông giấy tờ trích lục địa bộ vào chế độ cũ, sau ngày đất nước giải phóng đã
được Nhà nước cấp giấy chủ quyền o năm 2004.
Đến năm 2007, hộ ông Văn N1 tự ý chiếm các thửa đất số 28, 34, 35 t
bản đồ số 17 nên gia đình ông đã khởi kiện tại Tòa án thành phố B - Đồng Nai
theo bản án số 280.
Năm 2007, sau khi Tòa án xét xử, thì gia đình ông chuyển nhượng những
thửa đất còn lại trong đó 02 thửa 37, 41 cho Quách Trần Ánh N gia
đình tôi đã bàn giao đất cho N, bà N đã làm thủ tục sang tên do đó việc tranh
chấp thửa đất 37, 41 thuộc quyền của chủ đất mới Quách Trần Ánh N.
10
Đối với 03 thửa đất 28, 34, 35 tờ bản đồ số 17 thì sau khi Tòa án tỉnh Đồng
Nai (nay Thành phố Đ) chuyển hồ về Tòa án thành phố B để xét x lại thì
phát hiện trong hồ bút lục của v án bên ông Văn N1 không hoàn toàn
bất cứ giấy tờ để chứng minh các thửa đất trên của ông nên Hội đồng phúc
thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai đã ban hành Quyết định số
350/2013/QĐ-PT ngày 29/10/2013 bác đơn kháng cáo ông Văn N1 đã trả
lại 03 thửa đất số 28, 34, 35 tờ bản đồ số 17.
Nguồn gốc các thửa đất trên của gia đình ông đã được Phòng Tài nguyên
thành phố B khẳng định qua văn bản số ngày 22/04/2008 việc cấp đất cho
ông Nguyễn Văn N2 đã đúng trình tự thủ tục, văn bản số 31 BC/VBND ngày
22/04/2008 của UBND H khẳng định nguồn gốc đất trên của gia đình ông
đã được chính quyền địa phương họp xét đồng ý cấp đất đúng theo quy định,
còn hộ ông Văn N1 tự ý chiếm đất của gia đình ông.
Gia đình ông ruộng tại địa phương H qua bao đời để đến nay thì gia
đình ông không còn thửa đất nào cả, chỉ còn 03 thửa đất số 28, 34, 35 tờ bản đ
tờ 17 Hội đồng phúc thẩm mới xử trả lại thôi.
- Tại bản tự khai - Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân
dân thành phố B trình bày:
Về nguồn gốc đất quá trình cấp Giấy chứng nhận:
Theo hồ do Văn phòng Đăng đất đai Thành phố Đ - Chi nhánh B
cung cấp, thể hiện: đất nguồn gốc do ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị
N3 sử dụng, được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số Đ184774 ngày 07/4/2004, gồm nhiều thửa đất tờ bản đồ số 16, 17
phường H (trong đó 02 thửa đất s 37, 41 nêu trên).
Quá trình sử dụng, ông N2 N3 chuyển nhượng một trong s các thửa
đất tờ bản đồ số 16, 17 nêu trên (trong đó có thửa đất số 37, 41 t bản đ số 17
phường H) cho Quách Trần Ánh N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, được UBND H chứng thực ngày 23/5/2009.
Ranh giới 02 thửa đất được xác định theo Hồ kỹ thuật thửa đất do Trung
tâm Kỹ thuật địa chính nhà đất Đồng Nai lập ngày 16/03/2004.
Với nguồn gốc nêu trên, căn cứ Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Phòng T tham mưu Ủy ban
nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ
11
045508 ngày 29/9/2009 số AQ 045506 ngày 29/9/2009 cho Quách Trần
Ánh N s dụng tại thửa đất số 37, diện tích 1.111,7m
2
thửa đất số 41, diện
tích 1.078,8m
2
tờ bản đồ số 17, phường H với mục đích đất trồng lúa đảm bảo
đúng theo quy định pháp luật.
Nên việc bị đơn phản tố yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AQ 045508 ngày 29/9/2009 số AQ 045506 ngày 29/9/2009 cấp cho
Quách Trần Ánh N sử dụng tại thửa đất số 37, 41 tờ bản đồ số 17 phường H
không sở xem xét giải quyết.
Trường hợp trong quá trình xác minh xét xử phát sinh các tình tiết,
chứng cứ xác định nguồn gốc sử dụng đất, quá trình sử dụng đất, hiện trạng sử
dụng đất theo nội dung khai của chủ sử dụng đất cùng ý kiến xét duyệt của
UBND phường H sai lệch so với hồ khai đăng t đề nghị Tòa án
nhân dân thành phố Biên Hòa n cứ theo quy định của pháp luật hiện hành đ
giải quyết theo quy định.
Tại bản án dân sự thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 Đồng Nai đã tuyên xử
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quách Trần Ánh N đối với ông Lê
Văn N1 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Buộc ông Văn N1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Quách Trần Ánh N
thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, phường T, Thành phố Đ (theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AQ 045508 do y ban nhân dân thành phố B cấp ngày
29/9/2009 cho Quách Trần Ánh N) thửa đất số 41, tờ bản đồ s 17,
phường T, Thành phố Đ (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AQ
045506 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 29/9/2009 cho bà Quách
Trần Ánh N).
- Ông Văn N1 nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền 25.063.000đ (hai mươi
lăm triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn đồng) chi p tố tụng cho Quách
Trần Ánh N.
- Quách Trần Ánh N có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Văn N1 số
tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Văn N1 về việc “Yêu cầu
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu và Yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với Quách Trần Ánh N.
12
3. Đình chỉ yêu cầu phản tố “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” của
ông Văn N1.
- Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố: ông Văn N1
không quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên
nếu yêu cầu khởi kiện sau không khác đối với yêu cầu khởi kiện này về
nguyên đơn, bị đơn quan h pháp luật tranh chấp.
Ngày 09/02/2026, b đơn ông Văn N1 toàn bộ bản án với do: Nhận
định kết luận trong bản án thẩm không khách quan, không phù hợp với
những tài liệu chứng cứ có trong hồ vụ án, sai lầm trong việc áp dụng pháp
luật, vi phạm nghiêm trọng tố tụng, gây hại nghiêm trọng đến quyền lợi ích
của đương sự đề nghị hủy án thẩm.
Ngày 23/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai ban hành
định s 88/QĐ-VKS-DS kháng nghị toàn bộ bản án số33/2026/DS-ST ngày
06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đồng Nai theo hướnghủy toàn bộ
bản án dân sự thẩm.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham
gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Về tố tụng: Từ khi thụ vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán,
Hội đồng xét xử và thư đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tụng
dân sự trong q trình giải quyết vụ án. quy định tại khoản 1 Điều 286 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đảm bảo sự tư, khách quan giải quyết v án,
không trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng theo Điều 52 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, thủ tục phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến
thời điểm này được Hội đồng xét xử phúc thẩm thực hiện đầy đủ, đúng quy định
trình tự về phiên tòa phúc thẩm.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Từ khi thụ cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng
các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án:
Tính căn cứ, hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị:
Về thủ tục kháng cáo: Ngày 09/02/ đơn ông Văn N1 làm đơn kháng cáo
bản án thẩm. Ông N1 đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn
13
cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì kháng cáo trong hạn luật định,
hợp pháp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về thủ tục kháng nghị: Ngày 23/2/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 1- Đồng Nai kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối với nội dung kháng cáo, kháng nghị:
Xét nội dung kháng cáo:
Trên sở các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ ánvề nguồn gốc đất, quá
trình sử dụng đất, về nội dung hình thức hợp đồng chuyển nhượng; trình tự
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng phù hợp với các quy
định của pháp .
Việc ông Văn N4 cáo cho rằng 02 thửa đất tranh chấp nguồn gốc do
gia đình ông quản lý, sử dụng ổn định từ nhiều năm trước, việc cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thị N3 việc
chuyển nhượng cho Quách Trần Ánh N trái pháp luật nên yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất không căn cứ.
Xét nội dung kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai:
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai kháng nghị một phần bản án
về thủ tục tố tụng (về quan h pháp luật tranh chấp, đưa thiếu người tham gia tố
tụng) nên đề nghị hủy án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm còn một số thiếu
sót trong hoạt động tố tụng như: xác định Nguyễn Thị N3 người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan khi đã chết trước thời điểm thụ lý; đến ngày xét xử Tòa
chưa thu thập được thông tin khai tử của ông Cẩn T3. Tuy nhiên, các vi phạm về
thủ tục tố tụng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, không làm
thay đổi nội dung vụ việc thể khắc phục được. Kháng nghị đề nghị hủy án
không phù hợp pháp luật, án thẩm giải quyết vụ án căn cứ pháp luật.
Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án thẩm tuyên còn thiếu nội
dung giải quyết cụ thể:
Hồ v án thể hiện trên diện tích đất tranh chấp tài sản cây trồng do
ông Lê Văn N1 quản lý, sử dụng. Tòa án cấp thẩm đã tiến hành xem xét,
thẩm định tại chỗ và định giá đối với các cây trồng trên đất (43.500.000 đồng).
Như vậy, tài sản trên đất được xác định một trong những nội dung cần xem
xét, giải quyết khi giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất. Phần quyết
14
định của bản án thẩm chỉ tuyên buộc ông Văn N1 hoàn trả các thửa đất
tranh chấp cho Quách Trần Ánh N không giải quyết đối với số cây trồng
trên đất chưa đầy đủ. Tại phiên tòa thẩm, Quách Trần Ánh N tự nguyên
thanh toán toàn bộ giá trị cây trồng trên đất cho b đơn số tiền 100.000.000 đồng
p hợp theo quy định của pháp luật.
vậy, đại diện kiểm sát đổi kháng nghị theo hướng sửa án về cách tuyên
như đã nhận định phần trên, kháng nghị từ hủy án thành sửa án.
Đề nghị, Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm về
cách tuyên n nêu trên. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông
Văn N1, giữ nguyên các quyết định khác của bản án thẩm.
Về chi phí tố tụng án phí: giữ nguyên như quyết định của bản án
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong h sơ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa kết quả anh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Văn N1 Quyết
định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát khu 1- Đồng Nai làm trong hạn
luật định; ông N1 được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét theo thủ
tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không kháng cáo có
đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến
hành xét xử vắng mặt các đương s theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo nội dung kháng nghị: Tại phiên tòađại diện
theo y quyền của ông N1 giữ nguyên nội dung kháng cáo, đại diện Viện kiểm
sát nhân dân Thành phố Đồng Nai thay đổi kháng nghị theo hướng sửa án về
cách tuyên, kháng nghị từ hủy án thành sửa án.
[2.1] Đối với nội dung kháng cáo của ông Văn N1
Thứ nhất: Về nguồn gốc của các thửa đất tranh chấp việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3:
Trên sở hồ do Văn phòng đăng đất đai Thành phố Đ - Chi nhánh B
15
cung cấp, thì thửa đất gồm thửa 28 - 34 - 35 t bản đồ số 17 H đất nông
nghiệp trồng lúa, các thửa đất trên nguồn gốc đất của gia tộc hộ ông
Nguyễn Văn N2 đưa vào tập đoàn sản xuất t năm 1979, đến năm 1993 tác xã
nông nghiệp giao trả lại cho chủ đất. Năm 1989 Hợp tác giao khoán cho
hộ ông Văn N1 03 phần ruộng (1 phần nguồn gốc của hộ Nguyễn Văn N2,
1 phần nguồn gốc của Trương Văn T4, 1 phần nguồn gốc của Nguyễn Thị
T1, các phần ruộng này Hợp tác giao khoán cho nông dân trả hoa lợi cho
chủ đất) quá trình s dụng đến thời điểm năm 1993 phần đất có nguồn gốc của
Nguyễn Văn N2 do Hợp tác không điều kiện trả hoa lợi nên Hợp tác trả
lại đất cho chủ đất Nguyễn N2 hoán đổi phần ruộng khác cho hộ ông
Văn N1 tại cánh đồng B. Hộ ông Nguyễn Văn N2 thực hiện nghĩa vụ thuế từ
năm 1993 với diện tích đất 13.762,8m
2
.
Đối với việc ông Văn N1 cho rằng diện tích đất đang tranh chấp hộ
của ông được Hợp tác Hiệp giao chocanh tác nhưng Ủy ban nhân dânthành
phố B cấp cho ông Nguyễn Văn N2 N3: Trên sở các liệu đã thu thập
được như báo cáo nguồn gốc q trình sử dụng các thửa đất tranh chấp giữa hai
hộ ông Văn N1 ông Nguyễn Văn N2, các báo cáo giải quyết khiếu nại của
Ủy ban nhân dân H cũng xác định việc hộ Văn N1 hiện nay sử dụng phần
đất của ông Nguyễn Văn N2 do tự chiếm dụng sử dụng (thực tế Hợp tác xã đã
hoán đổi từ 1993).
Năm 2000, ông Nguyễn Văn N2 khai đăng cấp giấy chứng nhận với
13.762,8m
2
đất tại tờ bản đ số 16, 17 H (trong đó các thửa đất số 28, 34,
35 tờ bản đồ số 17 H mà quan Tòa án yêu cầu Phòng T cung cấp thông tin)
với nguồn gốc đất do được thừa kế của em Nguyễn Thị T1 ông Nguyễn
Văn C. Theo bản di chúc được ông Nguyễn Văn C Nguyễn Thị T1 xác lập
ngày 04/4/1994 (đã được Ủy ban nhân dân H, Ủy ban nhân dân thành phố B
xác nhận) thì diện tích đất ông C, T1 đ thừa kế cho ông Nguyễn Văn N2
được Hợp tác xã ng nghiệp H quản lý.
Tại Biên bản số 1066/BBXD-UBND ngày 18/4/2003 của H đã xét duyệt
đối với hồ sơthể hiện nguồn gốc diện tích đất như sau "Đất do ông Nguyễn Văn
C Nguyễn Thị T1 mua của ông Đinh n M năm 1964 (có trích lục địa bộ);
đến năm 1994, ông làm di chúc để lại đất cho ông Nguyễn Văn N2”; hiện
trạng s dụng đất ổn định, không tranh chấp đủ điều kiện cấp giấy, tại Đơn
xin xác nhận hạn điền của ông Nguyễn Văn N2 ngày 31/7/2003, Ủy ban nhân
16
dân H cũng đã xác nhận ngoài 13.762.8m
2
đất ông N2 xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì ông không còn sử dụng diện tích đất nông nghiệp
nào khác tại xã.
Trên sở hồ sơ của ông Nguyễn Văn N2 đã được Ủy ban nhân dân X,
quá trình thẩm định, căn cứ Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đất đai ngày 02/12/1998, ngày 29/6/2001; Nghị định
04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 Nghị định s 66/2001/NĐ-CP ngày
28/9/2001 của Chính phủ; Thông số 1990/2001/TT.TCĐC của T6. Phòng T
đã trình Ủy ban nhân dân thành phố B xem xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Nguyễn Văn N2. Như vậy, việc ông Nguyễn Văn N2 được
UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ184774 ngày
07/4/2004 đối với các thửa đất nêu trên (trong đó 02 thửa đất số 37, 41)là
đúng trình tự, th tục luật định.
Thứ hai: Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
Quách Trần Anh N5 với ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Thị N3 việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 045508 ngày 29/9/2009 số AQ
045506 ngày 29/9/2009 cho Quách Trần Ánh N đối với thửa đất số 37, diện
tích 1.111,7m
2
thửa đất số 41, diện tích 1.078,8m
2
tờ bản đồ số 17, phường H.
Quá trình sử dụng, ông N2 N3 chuyển nhượng một trong s các thửa
đất tờ bản đồ số 16, 17 nêu trên (trong đó có thửa đất số 37, 41 t bản đ số 17
phường H) cho Quách Trần Ánh N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, được Ủy ban nhân dân H chứng thực ngày 23/5/2009.
- Về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng: Căn cứ theo khoản 2 Điều
689 Bộ luật 2005; Điều 127, Điều 106, 136 Luật Đất đai năm 2003; Điều 146
Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành
Luật đai gọi tắt Nghị định 181thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 23/5/2009 từ ông Nguyễn Văn N2 Nguyễn Th N3 cho Quách
Trần Ánh N đối với 02 thửa đất số 37, 41 tờ bản đồ số 17 hình thức và nội
dung phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 106 điểm b khoản 1 Điều 127 Luật
Đất đai năm 2003. Loại đất N nhận chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên
đất Lúa (ký hiệu LUK), không phải đất Lúa ớc (ký hiệu LUC) nên không
bị hạn chế việc nhận chuyển nhượng theo khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm
2003 khoản 3 Điều 103 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
17
25/5/2007 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đaiHợp đồng chuyển nhượng này
về hình thức nội dung đều tuân thủ đúng quy định, không bị hiệu đã
phát sinh hiệu lực theo quy định tại Điều 692 Bộ năm 2005.
Việc bị đơn nghi ngờ về độ tuổi của ông Nguyễn Văn N2, N3 khi
chuyển nhượng nhưng không chứng cứ chứng minh ông N2, N3 mất năng
lực nhận thức hoặc bị lừa dối, cưỡng ép nên không sở để xem xét.
Thứ ba: Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Quách
Trần Ánh N:
Tại Trích lục địa bộ năm 1964 số địa bộ C1, số bản đ 307 chứng minh
nguồn gốc đất thuộc sở hữu của ông C, T1. Năm 1994 ông C, T1 lập di
chúc cho ông Nguyễn Văn N2 (là anh ruột) được Ủy ban nhân dân thành phố B
công chứng xác nhận: ông C T1 đồng sở hữu “căn nhà số H ấp N theo giấy
chủ quyền Sở dựng Đồng Nai cấp ngày 20/5/87 02 sở ruộng tại ấp N, H
"theo 02 Bản trích lục địa bộ". Hồ khai cấp giấy năm 2000, Biên bản đo
đạc xác định ranh mốc, hình thể thửa đất Văn phòng đăng đất đai- nhánh B1
thực hiện (Bút lục 126) xác định vị trí đất ngoài thực địa, mỗi thửa tả giáp
ranh, tứ cận ràng. Do đó, các i liệu này được sử dụng để đánh giá nguồn
gốc đất. Trên sở hợp đồng chuyển nhượng, N đã làm thủ tục sang tên đối
với các thửa đất nhận chuyển nhượng. Ngày 29/9/2009 thì Ủy ban nhân dân
thành phố B đã cấp nhận Giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AQ 045508
cho thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AQ 045506 cho thửa đất số 41, t bản đồ số 17 cho N, p hợp với Điều
50 Luật Đất đai năm 2003 Điều 38, 148 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai nên các Giấy chứng nhận
này cũng hợp pháp đúng theo định của pháp luật
Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AQ 045508 ngày 29/9/2009 số AQ 045506 ngày 29/9/2009 cho
Quách Trần Ánh N sử dụng tại thửa đất số 37, diện tích 1.111,7m
2
thửa
đất số 41, diện tích 1.078,8m
2
tờ bản đồ số 17, phường H với mục đích đất trồng
lúa đảm bảo đúng theo quy định pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy bị đơn kháng o cho rằng cấp thẩm
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không sở chấp nhận. Do vậy, Hội
đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Văn N1
18
[2.2] Đối với nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân Khu vực 1- Thành phố Đ:
Thứ nhất: Tại Quyết định kháng nghị số 88/QĐKNPT-VKS-DS ngày
23/2/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai kháng
nghị một phần bản án về thủ tục tố tụng của vụ án như: Không xác định chính
xác quan hệ pháp luật tranh chấp, đưa thiếu người tham gia tố tụng nên đ nghị
hủy án Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu trả lại đất; bị đơn
cho rằng mình quyền sử dụng đất yêu cầu hủy giấy Chứng nhận quyền sử
dụng đất (chứ bị đơn không cho rằng đang mượn đất, thuê đất, nhờ…). Do đó,
các đương sự tranh chấp về việc ai người quyền sử dụng hợp pháp thửa
đất 37, 41 tờ bản đồ 17, phường T nên quan hệ pháp luật được xác định
“Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án
“Tranh chấp quyền sử dụng đất, Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất hiệu, Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” đầy đủ.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn “Buộc bị đơn trả lại diện tích
đất…” về bản chất đã bao hàm việc yêu cầu Chấm dứt hành vi chiếm hữu, sử
dụng, buộc di dời tài sản, giao trả hiện trạng đất…
Do đó, Tòa thụ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn “Buộc bị đơn trả lại
diện tích đất...” đầy đủ.
xác định cách pháp của những người tham gia tố tụng:
- Về những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn
N2 Nguyễn Thị N3: Tòa đã tiến hành xác minh Công an phường Ủy
ban nhân dân phường, đến thời điểm hiện tại thì Tòa án chỉ xác định được
ràng danh tính, địa chỉ những người đã được đưa vào tham gia tố tụng. Những
người còn lại t không danh tính, địa chỉ do phía gia đình ông Nguyễn Văn
N2 không hợp tác địa phương cũng không nắm được. Do đó không có căn cứ,
s để xác định cụ thể số lượng, danh tính địa chỉ để đưa họ vào tham gia
tố tụng. Tuy nhiên họ vẫn quyền khởi kiện bằng một vụ án khác để bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của mình (nếu có).
- Về các thành viên trong hộ gia đình của ông Văn N1: Theo Sổ hộ khẩu
Chủ hộ ông Văn N1 đăng thường trú tại A N, H từ năm 1976 đến nay
(có thẻ hội viên Hội D1), các thành viên vợ Dương Thị H2 (không thẻ
19
hội viên Hội dân) con ông Văn L2 sinh năm 1977 đăng thường trú
cùng hộ khẩu từ ngày 21/8/2009, các giấy tờ Hợp tác giao khoán năm 1986
chỉ thể hiện ông Văn N1 tên. Thời điểm 1986 chưa phát sinh quyền sử
dụng đất theo Luật Đất đai. Yêu cầu phản tố công nhận quyền s dụng đất đã
được rút. Trước khi xét xử phúc thẩm phía bị đơn đề đưa Thị H3, ông
Văn L2, ông Văn T5 tham gia tố tụng với người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan trong vụ án. Như đã nhận định trên, việc đưa thành viên trong hộ gia
đình ông n N1 vào tham gia tố tụng không cần thiết.
- Về thu thập chứng cứ: Đến ngày xét xử Tòa án cấp thẩm chưa thu thập
được từ Ủy ban nhân dân phường H về thông tin khai tử của ông C T1
thiếu sót. Tuy nhiên, tại Bút lục 488, 489 Tòa bổ sung thông tin khai t của ông
Nguyễn Văn C (mất 1995) Nguyễn Thị T1 (mất 22/9/1994) phù hợp với
lời trình bày của ông trong quá trình giải quyết vụ án tại biên bản lấy lời khai
ngày 05/8/2008 ông Nguyễn Văn H1 (con ông Nguyễn Văn N2) trình bày ông
Cẩn T3 đã chết năm 1994, 1995.
- Về giải thích cho bị đơn về hậu quả pháp của việc tuyên b hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử cấp
thẩm đã hỏi bị đơn không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc tuyên hiệu
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì Tòa ghi nhận và không cần giải
thích thêm về hậu quả của hợp đồng hiệu nữa.
Thứ hai: Hồ vụ án thể hiện trên diện tích đất tranh chấp tài sản cây
trồng do ông Văn N1 quản lý, sử dụng. Tòa án cấp thẩm đã tiến hành xem
xét, thẩm định tại chỗ định giá đối với các cây trồng trên đất (43.500.000
đồng). Như vậy, tài sản trên đất được xác định một trong những nội dung cần
xem xét, giải quyết khi giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất. Phần
quyết định của bản án thẩm chỉ tuyên buộc ông Văn N1 hoàn trả các thửa
đất tranh chấp cho Quách Trần Ánh N không giải quyết đối với số cây
trồng trên đất chưa đầy đủ. Tại phiên tòa thẩm, Quách Trần Ánh N tự
nguyện thanh toán toàn bộ giá trị cây trồng trên đất cho bị đơn số tiền
100.000.000 đồng phù hợp theo quy định của pháp luật.
Do trong quá trình thu thập chứng cứ chuẩn bị xét xử phúc thẩm Tòa án đã
thu thập bổ sung đầy đủ những chứng cứ khắc phục thiếu sót của cấp thẩm,
đồng thời những thiếu sót trên không làm ảnh hưởng đến bản chất của v án.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử sửa bản án về cách tuyên.
20
[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai
thay đổi nội dung kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử sửa án thẩm v cách
tuyên đối với bản án thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm
việc thay đổi nội dung kháng nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử
nên chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị hiệu lực thi hành.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận,
do đó bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bị đơn thuộc trường
hợp được miễn nộp án p dân sự phúc thẩm.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
- Chấp nhận việc Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai thay đổi
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 88/QĐ-VKS-DS ngày 23/02/2026 của
Viện trưởng VKSND khu vực 1 Đồng Nai: sửa bản án thẩm số
33/2026/DS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân n khu vực 1 - Đồng Nai về
cách tuyên.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Văn N1 đối với Bản án
thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Đồng Nai.
Căn cứ vào Điều 34, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm c
khoản 1 Điều 217, khoản 1 khoản 3 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 163, 164, 468, 500, 502 Bộ luật Dân sự; Điều 50, điểm a khoản 1 Điều 106
điểm b khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai năm 2003; Điều 3 Nghị định số
17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất thế chấp,
góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; Điều 38, khoản 13 Điều 103, Điều 148
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật
Đất đai Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quách Trần Ánh N đối với ông
Văn N1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
1.1. Buộc ông Văn N1 nghĩa vụ hoàn trả cho Quách Trần Ánh N
thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, phường T, Thành phố Đ (theo Giấy chứng nhận
21
quyền sử dụng đất số AQ 045508 do y ban nhân dân thành phố B cấp ngày
29/9/2009 cho Quách Trần Ánh N) thửa đất số 41, tờ bản đồ s 17,
phường T, Thành phố Đ (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AQ
045506 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 29/9/2009 cho bà Quách
Trần Ánh N).
1.2. Buộc Quách Trần Ánh N phải nghĩa v thanh toán cho ông Lê
Văn N1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Quách Trần Ánh N được quyền sở hữu, s dụng toàn b cây trồng trên
thửa đất theo Chứng thư thẩm định giá số 1814/TĐG-CT ngày 25/8/2015 của
Công ty P.
1.3. Chi p tố tụng: Ông Văn N1 nghĩa v hoàn trả lại số tiền
25.063.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn đồng) chi
phí tố tụng cho Quách Trần Ánh N.
Kể từ ngày Bản án thẩm hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong
khoản tiền chi phí tố tụng, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản t của ông Văn N1 về việc Yêu cầu
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu Yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với Quách Trần Ánh N.
3. Đình chỉ yêu cầu phản tố “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” của
ông Văn N1.
- Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố: Ông Văn N1
không quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên
nếu yêu cầu khởi kiện sau không khác đối với yêu cầu khởi kiện này về
nguyên đơn, bị đơn quan h pháp luật tranh chấp.
4.Về án phí dân sự:
- Hoàn trả lại số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tiền tạm ứng đã nộp
tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 7792 ngày 25/12/2014 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (nay Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 1 - Đồng Nai) cho Quách Trần Ánh N.
- Ông Văn N1 người cao tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 12
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lệ phí Tòa án; nên ông N1 được miễn nộp án phí dân sự thẩm
án phí dân sự phúc thẩm.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
22
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
6.Hiệu lực của án: Bản án Dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Đồng Nai;
- TAND KV1-Đồng Nai;
- Phòng THADS KV1- Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu (HS, TP, VP).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Kiều Lương
23
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 465/2026/DS-PT Bản án số 465/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 465/2026/DS-PT Bản án số 465/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất