Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 38/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 38/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ và bà D trả nợ tiền vay và trả nợ cà phê với hình thức chốt giá cà phê nhận tiền là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. Bị đơn ông Nguyễn Quang Đ và bà Nguyễn Thị D cư trú tại buôn Tar, xã Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VC 3 - ĐK LK
Bn án s: 38/2025/DS-ST
Ngày 29 - 9 - 2025
V/v tranh chp hp đng vay tài sn,
hp đng mua bán tài sn
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Đc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Nở.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Hà Thị Hương.
2. Ông Bùi Trọng Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng Thư ký viên Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Phạm Thu Thủy - Chức danh: Kiểm sát viên.
Ngày 29/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk xét xử thẩm
công khai vụ án thụ số: 67/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 8 năm 2025 về “Tranh
chấp hợp đồng vay tài sn, hợp đồng mua bán tài sảntheo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 47/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 9 m 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Ng, sinh năm 19xx. (Có mặt)
Địa chỉ liên hệ: Buôn D, E, tỉnh Đ (địa chỉ cũ: Buôn D, E, huyện C, tỉnh
Đ).
Chỗ ở hiện nay: Thôn 1x, xã N, tỉnh L.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trọng T, sinh
năm 19xx là Luật sư thuộc Văn phòng luật sư H Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (Có mặt)
2
Địa chỉ: xx/x G, tổ dân phố xA, phường B, tỉnh Đ.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang Đ, sinh năm 19xx Nguyễn Thị D, sinh năm
19xx. (Có mặt)
Địa chỉ: Buôn T, xã C, tỉnh Đ (địa chỉ cũ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đ).
- Người làm chứng: Bà Tô Thị L (tên gọi khác: Bé M), sinh năm 19xx. (Có mặt)
Địa chỉ: Buôn S, xã C, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện trong quá trình tham gia tố tụng người bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Vũ Trọng T nguyên đơn
Vũ Thị Ng trình bày:
Do mối quan hệ quen biết, vợ chồng ông Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Thị D
(Viết tắt vợ chồng ông Đ) đã nhiều lần vay tài sản của Ng với tổng số tiền
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 1000kg cà phê quy chuẩn, Cụ thể:
Lần 1: Ngày 02/5/2020 âm lịch (Tức ngày 22/6/2020), vợ chồng ông Đ vay của
Ng số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) với lãi suất 2%/tháng.
Lần 2: Ngày 18/6/2020 âm lịch (Tức ngày 07/8/2020) vợ chồng ông Đ vay của
Ng số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với lãi suất 2%/tháng.
Ông Đ, bà D hẹn đến ngày 18/11/2020 sẽ trả cho Ng toàn bộ số tiền đã vay và
tiền lãi suất theo thỏa thuận.
Lần 3: Khoảng tháng 9/2020 âm lịch vợ chồng ông Đ tiếp tục vay của Ng
1000kg phê quy chuẩn. Hẹn bằng miệng đến ngày 18/11/2020 sẽ trả đủ phê
cùng với số tiền đã vay và lãi suất theo thỏa thuận.
Sau đó bà Ng vợ chồng ông Đ đã thỏa thuận lại bằng miệng sau 01 năm v
chồng ông Đ sẽ trả đủ cho Ng 1000kg phê đã vay lãi suất 200kg
phê/năm.
Đến hẹn trả nợ Ng đã liên hệ vợ chồng ông Đ yêu cầu trả cho bà Ng số tiền,
phê đã vay lãi suất theo thỏa thuận nhưng vợ chồng ông Đ, hẹn lại đến mùa
phê năm 2022 sẽ trả cho bà Ng.
Từ đó đến nay Ng đã nhiều lần liên hệ yêu cầu vợ chồng ông Đ trả tiền
phê cho bà Ng nhưng vợ chồng ông Đ luôn khất lần, mùa cà phê thì hẹn đến mùa tiêu,
mùa tiêu lại hẹn đến mùa sầu riêng, nhưng vẫn không trả cho bà Ng. Lần gần đây nhất
3
là ngày 02/8/2025 bà Ng đến tận nhà vợ chồng ông Đ tại buôn T, xã C, tỉnh Đ yêu cầu
vợ chồng ông Đ trả tiền phê cùng lãi suất cho Ng theo thỏa thuận nhưng v
chồng ông Đ không chịu trả chửi bới, thách thức bà Ng, làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ng.
vậy, Ng đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng
ông Đ phải trả cho bà Ng cả gốc và lãi số tiền vay là 111.413.333 đồng.
Buộc vợ chồng ông Đ trả cho Ng 2000kg cà phê quy chuẩn, trong đó: 1000kg
cà phê quy chuẩn và lãi từ năm 2020 đến năm 2025 là 1000kg cà phê quy chuẩn.
Tuy nhiên, ngày 05/9/2025 bà Ng đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kin
đối với khoản tiền vay là 50.000.000 đồng nợ gốc và toàn bộ nợ lãi.
Còn đối với nợ cà phê, bà Ng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện với nội dung:
Buộc ông Đ bà D trả cho Ng tổng gốc lãi 1.500kg phê quy chuẩn.
Trong đó: Nợ gốc là 1000kg cà phê quy chuẩn và nợ lãi là 500kg cà phê quy chuẩn.
- Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Quang Đ trình bày:
Ông Đ và D mối quan hệ vợ chồng. Ông Đ với Ng L hàng
xóm, bạn bè cùng tu.
Đối với khoản tiền vay, ngày 03/9/2025 giữa vợ chồng ông Đ Ng đã thỏa
thuận thống nhất với nhau về nợ gốc nợ lãi tổng cộng 78.000.000 đồng và vợ
chồng ông Đ đã trả đủ cho bà Ng.
Còn đối với khoản nợ phê thì ông Đ chốt phê của Ng với số lượng là
1000kg, thời gian chốt vào khoảng tháng 11 năm 2021 âm lịch, với số tiền là
32.000.000 đồng. Ông Đ viết giấy với nội dung “Nguyễn Quang Đ mượn một
nghìn kg phê quy chuẩn 1000kg gam”, giấy không đề thời gian chốt phê.
Giữa ông Đ và bà Ng không thỏa thuận lãi suất đối với việc chốt cà phê. Đối với việc
chốt cà phê thì giữa ông Đ và bà Ng không thỏa thuận thời hạn ông Đ giao cà phê cho
Ng.
Vào khoảng tháng 12 năm 2022, ông Đ chốt phê của Thị L với số
lượng là 05 tạ cà phê quy chuẩn với số tiền 20.000.000 đồng và trả cho bà Ng. Ông Đ
trả cho Ng trước cổng nhà riêng của L, ông Đ trả cho Ng vào lúc 09 giờ tối
nên chỉ có ông ĐNg, bà Ng không viết giấy nhận tiền cho ông Đ. Hiện nay, ông
Đ chỉ còn nợ Ng 05 tạ cà phê nhân quy chuẩn. Ông Đ không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn về nợ gốc và nợ lãi là 1.500kg cà phê quy chuẩn.
4
Tại phiên tòa ông Đ ý kiến thỏa thuận strả cho Ng nợ gốc 1000kg
phê quy chuẩn, không đồng ý trả nợ lãi phê tại thời điểm ông Đ chốt phê của
Ng các bên không thỏa thuận lãi suất nhưng bà Ng không đồng ý.
- Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
D đồng ý với ý kiến của ông Đ. Mặc dù, tại thời điểm ông Đ chốt cà pcủa
Ng không mặt của D, D không vào giấy chốt phê nhưng D vẫn
đồng ý cùng ông Đ trả nợ cho bà Ng.
- Trong quá trình tham gia tố tụng người làm chứng bà Tô Thị L trình bày:
L mối quan hệ quen biết với Ng, ông Đ và bà D. L cùng đi tu với
ông Đ và bà Ng.
Bà L mở điểm thu mua cà phê tên là Bé M”. Cuối tháng 12 năm 2022, ông Đ
đến điểm thu mua của L, năn nỉ L chốt 05 tạ cà phê nhân rồi sau Tết L có
bán cà phê bao nhiêu thì ông Đ trả cho bà L, thì bà L hỏi ông Đ còn mấy ngày nữa
đến Tết ông chốt cà phê để làm gì, ông Đ nói với bà L để trả nợ cho bà Ng thì bà L
đồng ý cho ông Đ chốt 05 tạ phê nhân nhưng đến 09 giờ tối ông Đ Ng mới
đến nhà riêng của L, L cho ông Đ chốt 05 tạ p nhân quy ra tiền
20.000.000 đồng để ông Đ trả nợ cho bà Ng. Giữa L và ông Đ có lập biên bản giao
nhận nhưng từ đó cho đến nay ông Đ đã trả gần hết cho L nên bà L đã xóa sổ, hiện
nay không còn nên bà L không cung cấp được cho Tòa án.
L không chứng kiến việc ông Đ trả tiền cho Ng, tại thời điểm đó L
trong nhà, còn Ng đứng trước cổng nhà L. Sau khi L giao tiền cho ông Đ thì
ông Đ mang tiền ra ngoài cổng để trả cho Ng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ giải quyết
vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật T
tụng dân sự.
Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều
71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ theo quy định
tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ Điều 163, 164, 166 Bộ luật
Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 92, 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
5
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Ng. Buộc bị
đơn ông Nguyễn Quang Đ Nguyễn Thị D phải trả cho Vũ Thị Ng 1000kg
phê nhân quy chuẩn.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thị Ng về việc buộc
ông Nguyễn Quang Đ Nguyễn Thị D phải trả lãi 500kg phê nhân quy
chuẩn.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Ng về việc buộc ông Nguyễn Quang Đ
và bà Nguyễn Thị D phải trả tiền vay là 50.000.000 đồng gốc và lãi suất phát sinh.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông Đ và D trả nợ tiền vay trả nợ phê với hình thức chốt giá
phê nhận tiền tranh chấp hợp đồng vay tài sản tranh chấp hợp đồng mua bán tài
sản. Bđơn ông Nguyễn Quang Đ Nguyễn Thị D ttại buôn Tar,
M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Đắk Lắk.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện khoản tiền vay.
Ngày 05/9/2025 Ng đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
khoản tiền vay là 50.000.000 đồng nợ gốc và toàn bộ nợ lãi.
Hội đồng xét xử nhận thấy việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện
hoàn toàn tự nguyện, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng
dân sự đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.
[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện buộc vợ chồng ông Đ trả cho Ng 1000kg
phê quy chuẩn:
6
Cùng với đơn khởi kiện, nguyên đơn Thị Ng đã cung cấp bản gốc Giấy
chốt phê với nội dung, cụ thể: “Nguyễn Quang Đ mượn một nghìn kg phê quy
chuẩn 1000kg gam”. Giấy không đngày tháng năm chốt phê, Ng đã giao
cho ông Đ số tiền chốt p32.000.000 đồng nhưng không thỏa thuận thời hạn
ông Đ giao phê, không chữ của các bên nhưng trong quá trình giải quyết vụ
án, ông Đ thừa nhận dòng chữ trên do ông Đ viết ra, ông Đ chốt của bà Ng
1000kg pnhân quy chuẩn nhận của Ng stiền chốt phê 32.000.000
đồng nên đây tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, ông Đ cho rằng vào khoảng tháng 12 năm 2022, ông Đ có chốt cà phê
của Thị L với số lượng 05 tạ phê quy chuẩn với số tiền 20.000.000 đồng
trả cho Ng. Ông Đ trả cho Ng trước cổng nhà riêng của L, ông Đ trả cho
Ng vào lúc 09 giờ tối nên chỉ ông Đ và Ng, bà Ng không viết giấy nhận tiền
cho ông Đ. Hiện nay, ông Đ chỉ còn nợ bà Ng là 05 tạ cà phê nhân quy chuẩn.
Trong quá trình tham gia tố tụng người làm chứng bà Tô Thị L đồng ý với ý kiến
của ông Đ về việc ông Đchốt cà phê của bà với số tiền 20.000.000 đồng để trả cho
Ng nhưng không chứng kiến trực tiếp việc ông Đ trả tiền cho Ng. Ng
không chấp nhận ý kiến của ông Đ L về việc ông Đ đã trả cho Ng 05 tạ
phê quy chuẩn, tính đến nay ông Đ chưa trả cho bà Ng được khoản nphê nào.
Ngoài ra, ông Đ cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác nên Hội đồng
xét xử không có căn cứ để xem xét.
Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Đ ý kiến thỏa thuận sẽ trả cho Ng nợ gốc
1000kg phê quy chuẩn, không đồng ý trả nợ lãi cà phê tại thời điểm ông Đ chốt
cà phê của bà Ng các bên không thỏa thuận lãi suất nhưng bà Ng không đồng ý.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn Thị Ng sở chấp nhận, buộc ông Nguyễn Quang Đ
Nguyễn Thị D trách nhiệm trả cho Thị Ng 1000kg phê nhân quy
chuẩn.
[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông Đ D trả cho Ng lãi suất từ
năm 2020 đến năm 2025 1000kg phê quy chuẩn. Tuy nhiên, tại phiên tòa,
nguyên đơn có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện với nội dung: Buộc ông Đbà D
trả cho bà Ng nợ lãi là 500kg cà phê quy chuẩn. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quá trình kết hợp đồng mua bán tài sản, giữa Ng ông Đ không thỏa
thuận về thời hạn giao tài sản, không thỏa thuận lãi suất đối với người bán. Theo quy
định tại khoản 3 Điều 440 của Bộ luât Dân sự chỉ quy định “Trường hợp bên mua
không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy
7
định tại Điều 357 của bộ luật này”. Do đó, Hội đồng xét xử không căn cứ để chấp
nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.
[3] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử xét thấy, ý kiến của
Kiểm sát viên có căn cứ pháp lý nên chấp nhận.
[4] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận đối với yêu cầu lãi
500kg cà phê nhân quy chuẩn nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự thẩm có giá
ngạch đối với phần không chấp nhận, cụ thể: Gphê nhân tại thời điểm xét xử
thẩm ngày 29/9/2025 là (115.500 đồng/kg x 500kg) x 5% = 2.887.500 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Quang Đ Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự
thẩm có giá ngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, cụ
thể: (115.500 đồng/kg x 1000kg) x 5% = 5.775.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144;
khoản 1 Điều 147; Điều 244; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật T tụng dân sự.
Căn cứ khoản 4 Điều 26; khoản 3 Điều 27 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 ca U ban thường v Quc hội quy định v mc thu,
min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 430; Điều 431; Điều 432; Điều 434; Điều 440 của Bộ luật
Dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Vũ Thị Ng.
Buộc ông Nguyễn Quang Đ và bà Nguyễn Thị D phải có nghĩa vụ trả cho bà
Thị Ng 1000kg cà phê nhân quy chuẩn.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Ng về việc
buộc ông Nguyễn Quang Đ và bà Nguyễn Thị D trả cho Ng lãi suất 500kg phê
nhân quy chuẩn.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản tiền vay
là 50.000.000 đồng nợ gốc và toàn bộ nợ lãi.
8
4. Về án phí: Nguyên đơn Vũ Thị Ng phải chịu 2.887.500 đồng án phí dân sự
thẩm, được khấu trừ số tiền 7.785.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai
thu số 0005741 ngày 11/8/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 Đắk Lắk.
Vũ Thị Ng được nhận lại số tiền 4.897.500 đồng tại Phòng thi hành án dân sự khu
vực 3 - Đắk Lắk.
Bị đơn ông Nguyễn Quang Đ Nguyễn Thị D phải chịu 5.775.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Điều
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 3 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 3 – Đắk Lắk;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án;
- Lưu Vp.
TM. HI ĐỒNG T XỬ SƠ THẨM
THM PHÁN CHỦ TA PHN A
(Đã ký)
Phùng ThNở
9
Tải về
Bản án số 38/2025/DS-ST Bản án số 38/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 38/2025/DS-ST Bản án số 38/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất