Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 34/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 34/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 34/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 34/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Trần Thị H khởi kiện bà H M Niê về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 34/2025/DS-ST
Ngày 19 - 9 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Viết Chấn, bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hòa Bình – Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 121/2025/TLST-DS, ngày 15
tháng 4 năm 2025 v vic “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST- DS, ngày 08 tháng 8 năm 2025 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn A, xã E (xã E,
huyn K cũ), tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
2. Bị đơn: Bà H M Niê, sinh năm 1993; Địa chỉ: Buôn M'bê, xã E (xã K,
huyn K cũ), tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thanh H1, sinh năm
1990 và ông Đỗ Văn B, sinh năm 1986; cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, xã E (thị trấn
E, huyn E cũ), tỉnh Đắk Lắk (Bà H1 có mặt, ông B vắng mặt, có đơn xin xét xử
vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn
bà Trần Thị H trình bày: Do có mối quan h quen biết nên bà H đã cho bà H M
Niê vay tin 2 lần:
- Lần 1: Ngày 13/12/2024 bà H M Niê vay 20.000.000 đồng (Hai mươi triu
đồng) để trả nợ cho bà Trần Thị Thanh H1 và nhờ bà H chuyển khoản cho bà H1
nên bà H đã chuyển khoản số tin trên cho bà Trần Thị Thanh H1, khi vay bà H M
có làm tin cho bà H 01 chiếc xe máy biển số: 47H1-252.XX (có nội dung thông tin
chuyển khoản: CO HA CK NHU CAM XE 47H1 – 252.XX. CK TRA QUA CHO
HUYEN có nghĩa là Cô H chuyển khoản H M Niê (tên ở nhà là N1), cầm xe 47H1
– 252.XX. Chuyển khoản qua cho H1)), hẹn 01 tháng trả đủ gốc, lãi. Tuy nhiên,
thực tế không thỏa thuận lãi.
2
- Lần 2: Ngày 20/12/2024, bà H M Niê có tới nhà bà H vay số tin
54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triu đồng), hẹn ngày 20/01/2025 trả gốc và lãi,
khi vay bà H M Niê có đưa tôi căn cước công dân của H M Niê, lãi suất thỏa thuận
2%/tháng (1.080.000 đồng/tháng). Vào ngày 23/02/2025 bà H M Niê có chuyển
khoản cho bà H số tin lãi của khoản vay này là 2.900.000 đồng.
Hin nay các khoản vay đã quá hạn, nhưng bà H M hẹn bà H hết lần này đến
lần khác và không thanh toán như đã cam kết.
Theo đơn khởi kin, bà H yêu cầu bà H M Niê trả cho bà H số tin gốc tổng
2 lần là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triu đồng) và số tin lãi quá hạn theo quy
định của pháp luật.
Nay bà H xin thay đổi nội dung khởi kin như sau:
Đối với khoản tin 20.000.000 đồng (Hai mươi triu đồng) do khi vay các
bên không thỏa thuận lãi suất nên bà H yêu cầu bà H M Niê trả cho bà H số tin
gốc 20.000.000 đồng và tin lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày
15/4/2025 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tin lãi trong giai đoạn thi hành án.
Đối với khoản tin vay 54.000.000 đồng: Do các bên thỏa thuận lãi suất
2%/tháng là cao so với quy định của pháp luật nên bà H yêu cầu bà H M Niê trả
tin gốc và tin lãi với mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày vay cho đến ngày xét xử
sơ thẩm và tin lãi trong giai đoạn thi hành án, khấu trừ đi số tin lãi 2.900.000
đồng mà H M Niê đã trả.
Đối với tài sản mà bà H M Niê cầm cố gồm: 01 Căn cước công dân của bà H
M Niê và 01 chiếc xe máy biển số 47H1-252.XX thì ý kiến của bà H như sau: Khi
nào bà H M Niê trả tin xong cho bà H thì bà H sẽ trả lại các tài sản trên.
V Kết luận giám định số 101/KL-KTHS ngày 31/7/2025 của Phòng K -
Công an tỉnh Đ thì nguyên đơn hoàn toàn đồng ý.
Bị đơn bà H M Niê, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn mặc dù đã được Cơ
quan thừa phát lại tống đạt trực tiếp các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng bà H
M Niê vắng mặt không có lý do.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị Thanh H1 trình bày: Bà H1 là con gái của bà Trần Thị H. Do
mối quan h quen biết nên ngày 27/2/2024 bà H1 có cho bà H M Niê vay số tin
200.000.000 đồng (Hai trăm triu đồng). Sau khi vay bà H M Niê có trả dần nợ cho
bà H1 được số tin 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triu đồng), còn nợ
52.000.000 đồng (Năm mươi hai triu đồng). Bà H1 đã làm đơn khởi kin bà H M
Niê và được Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk xét xử theo bản án số
05/2025/DS-ST ngày 23/7/2025.
Quá trình bà H M Niê trả nợ cho bà H1 thì trong đó có khoản bà H M Niê trả
20.000.000 đồng (Hai mươi triu đồng) bà H1 nhận chuyển khoản từ bà Trần Thị
H vào ngày 13/12/2024 (nội dung chuyển khoản: CO HA CK NHU CAM XE
47H1 – 252.XX. CK TRA QUA CHO HUYEN có nghĩa là Cô H chuyển khoản H
M Niê (tên ở nhà là N1), cầm xe 47H1 – 252.XX. Chuyển khoản qua cho H1).
Trong quá trình làm vic bà H M Niê cũng thừa nhận có trả nợ cho bà H1 số tin
3
20.000.000 đồng vào ngày 13/12/2024.
Như vậy, bà H1 xác nhận, ngày 13/12/2023 bà H M Niê có trả nợ cho bà H1
số tin 20.000.000 đồng thông qua vic nhờ bà H chuyển khoản cho bà H1. Vic
bà Trần Thị H khởi kin bà H M Niê thì bà H1 đ nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật.
+ Quá trình giải quyết ông Đỗ Văn B trình bày: Ông B là chủ Cửa hàng dịch
vụ cầm đồ B 52. Ngày 17/8/2024 ông B có mua của ông Trịnh Ngọc H3, sinh năm
1996 trú tại Thôn T, xã Q, huyn C 01 xe mô tô biển số 47H1 – 252.XX, nhãn hiu
Yamaha, màu xám bạc đen với số tin 27.000.000 đồng. Sau khi mua, do ông B đi
làm ăn xa nên các bên chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 31/8/2024 ông Bình B1 lại
chiếc xe máy nêu trên với số tin 36.000.000 đồng, bà H M trả trước 21.000.000
đồng, còn nợ lại 15.000.000 đồng hẹn đến ngày 04/9/2024 thì trả. Do bà H M còn
nợ tin nên ông B giao xe mô tô 47H1 – 252.XX cho bà H M quản lý, sử dụng còn
Giấy chứng nhận đăng ký xe thì ông B đang giữ. Vic bà Trần Thị H cho bà H M
Niê vay tin và bà H M Niê có làm tin chiếc xe mô tô trên cho bà H thì ông B hoàn
toàn không biết, đ nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Đại din Vin kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk phát
biểu ý kiến như sau:
V tố tụng: Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý
đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã thực hin tương đối tốt
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán còn để vi phạm quy
định của khoản 2 Điu 220 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa HĐXX, Thư ký
và nguyên đơn, người có quyn lợi và nghĩa vụ liên quan đã chấp hành tốt các quy
định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành tốt các quy định của pháp luật.
- V nội dung: Căn cứ Điu 5, khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35,
điểm a khoản 1 Điu 39, khoản 2 Điu 227, Điu 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điu
463, khoản 1, khoản 4, khoản 5 Điu 466, Điu 468, khoản 1 Điu 469 Bộ luật dân
sự 2015, đ nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn Trần Thị
H. Buộc bà H M Niê có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị H số tin nợ gốc là
72.990.000 đồng, nợ lãi là 10%/năm kể từ ngày 15/4/2025 đối với khoản tin
20.00.000 đồng cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tin lãi trong giai đoạn thi hành
án; 20%/năm kể từ ngày 24/02/2025 đối với khoản tin 52.990.000 đồng cho đến
ngày xét xử sơ thẩm và tin lãi trong giai đoạn thi hành án. Bà Trần Thị H có nghĩa
vụ trả lại cho bà H M Niê 01 xe máy biển số 47H1-252.XX, nhãn hiu Yamaha và
01 Căn cước công dân số 066193020892 mang tên H M Niê.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liu được thu thập có trong hồ sơ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các bên
đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] V thẩm quyn và quan h tranh chấp: Quan h tranh chấp giữa các
đương sự là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyn giải quyết của Tòa
án, bị đơn có nơi cư trú tại xã E (xã K, huyn K cũ), tỉnh Đắk Lắk và nguyên đơn
có đơn khởi kin yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk giải quyết. Căn cứ
4
khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm a khoản 1 Điu 39 Bộ luật tố tụng
dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyn giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk
Lắk.
Bị đơn bà H M Niê vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính
đáng nên căn cứ khoản 2 Điu 227, Điu 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] V nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kin của nguyên đơn v vic buộc bị đơn bà H M Niê
trả số tin gốc 20.000.000 đồng và tin lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm kể
từ ngày 15/4/2025 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tin lãi trong giai đoạn thi hành
án, thì thấy: Nguyên đơn bà H cho rằng ngày 13/12/2024 bà H M Niê có vay của
bà H số tin 20.000.000 đồng, mục đích vay để trả nợ thay cho bà Trần Thị Thanh
H1, sau đó cùng ngày bà H đã chuyển khoản cho bà H1 số tin 20.000.000 đồng,
khi vay bà H M có làm tin 01 chiếc xe máy biển số: 47H1-252.XX (có nội dung
thông tin chuyển khoản: CO HA CK NHU CAM XE 47H1 – 252.XX. CK TRA
QUA CHO HUYEN có nghĩa là (Cô H chuyển khoản H M Niê (tên ở nhà là N1),
cầm xe 47H1 – 252.XX. Chuyển khoản qua cho H1)). Quá trình giải quyết vụ án,
mặc dù bà H M biết được vic bà H khởi kin nhưng cố tình vắng mặt không hợp
tác làm vic, không có văn bản trình bày ý kiến. Tuy nhiên, Tại bản án số
05/2025/DS-ST ngày 23/7/2025 của TAND khu vực 4 – Đắk Lắk thì bà H M Niê
cũng thừa nhận, ngày 13/12/2024 bà có trả cho bà H1 20.000.000 đồng, bà H1
cũng thừa nhận vic ngày 13/02/2024 bà H M có trả cho bà H1 số tin trên thông
qua vic bà H chuyển khoản cho bà H1. Mặt khác, ông Đỗ Văn B là người bán xe
mô tô 47H1 – 252.XX cũng xác nhận đã bán và giao xe cho bà H M. Hin nay, bà
H xác nhận hin đang quản lý xe mô tô 47H1 – 252.XX mà bà H M đưa để làm tin.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX xét thấy, có đủ cơ sở xác định ngày
13/02/2024 bà H M Niê có vay của bà Trần Thị H số tin 20.000.000 đồng, do đó
yêu cầu khởi kin của bà H v vic buộc bà H M Niê phải trả cho bà H 20.000.000
đồng nợ gốc là có căn cứ, cần chấp nhận.
V lãi suất: Căn cứ vào giao dịch chuyển khoản, lời trình bày của bà H xác
định khi vay số tin trên các bên không thỏa thuận lãi suất. Quá trình giải quyết,
cũng như tại phiên tòa bà H yêu cầu tính tin lãi chậm trả theo mức lãi suất
10%/năm kể từ ngày 15/4/2025 (ngày Tòa án thụ lý vụ kin) cho đến ngày xét xử
sơ thẩm và tin lãi trong giai đoạn thi hành án là phù hợp, cần cấp nhận. Như vậy,
số tin lãi được tính như sau: Từ ngày 15/4/2025 đến ngày 19/9/2025 (ngày xét xử
sơ thẩm) là 154 ngày. Tin lãi được tính như sau: (20.000.000 đồng x
10%/năm)/12tháng/30ngày x 154 ngày = 855.555 đồng. Như vậy, tổng tin gốc lãi
bà H M Niê phải trả là 20.855.555 đồng, trong đó tin gốc: 20.000.000 đồng, tin
lãi là 855.555 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kin của nguyên đơn v vic buộc bà H M Niê phải
trả 54.000.000 đồng tin gốc và tin lãi với mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày vay
cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tin lãi trong giai đoạn thi hành án, khấu trừ đi số
tin lãi 2.900.000 đồng mà H M Niê đã trả, thì thấy:
5
Quá trình giải quyết vụ án, do bị đơn bà H M Niê luôn lẩn tránh, không hợp
tác làm vic với Tòa án, không có văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kin của
nguyên đơn. Do đó, để có căn cứ xem xét và theo đ nghị của nguyên đơn, Tòa án
ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của bà H M Niê trong giấy
mượn tin mặt ngày 20/12/2024. Tại bản kết luận giám định số 101/KL-KTHS
ngày 31/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Lắk kết luận chữ ký
mang tên “H M Niê” trong giấy mượn tin mặt ngày 20/12/2024 chưa đủ cơ sở kết
luận có phải do cùng một người viết ra hay không. Chữ viết mang tên “H M Niê”
trong giấy mượn tin mặt ngày 20/12/2024 là do bà H M Niê viết ra.
Theo nội dung giấy mượn tin mặt ngày 20/12/2024 thể hin bà H M Niê có
vay của bà H số tin 54.000.000 đồng, hẹn đến ngày 21/01/2025 sẽ trả, lãi suất
2%/tháng. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thừa nhận ngày 23/02/2025 bà H
M Niê có chuyển khoản cho nguyên đơn số tin lãi của khoản vay này là 2.900.000
đồng. Như vậy, có cơ sở xác định ngày 20/12/2024 bà H M Niê vay bà H số tin
54.000.000 đồng, sau khi vay ngày 23/02/2025 bà H M Niê mới trả được
2.9000.000 đồng tin lãi, ngoài ra chưa trả thêm được khoản tin nào là vi phạm
nghĩa vụ trả nợ. Bà H khởi kin yêu cầu bà H M Niê trả nợ là có căn cứ phù hợp
với quy định tại Điu 463, Điu 465 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.
Tuy nhiên, do các bên thỏa thuận mức lãi suất 2%/tháng là cao so với quy
định. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 20%/năm kể từ
ngày vay khấu trừ đi số tin lãi bà H M Niê đã trả là phù hợp, HĐXX cần tính toán
lại cho đúng, cụ thể:
Ngày 20/12/2024 đến ngày 23/02/2025 là 63 ngày, tin lãi được tính như
sau: (54.000.000 đồng x 20%/năm)/12tháng/30ngày x 63 ngày = 1.890.000 đồng.
Tuy nhiên, ngày 23/02/2025 bà H M Niê trả 2.900.000 đồng tin lãi là vượt quá
mức tin lãi theo quy định nên số tin vượt quá (2.900.000 đồng - 1.890.000 đồng )
= 1.010.000 đồng sẽ được khấu trừ vào tin gốc.
Như vậy, số tin gốc còn lại là 54.000.000 đồng – 1.010.000 đồng =
52.990.000 đồng. Vì vậy, cần buộc bị đơn bà H M Niê phải trả cho bà Trần Thị H
52.990.000 đồng nợ gốc.
V tin lãi: Kể từ ngày 24/02/2025 đến ngày ngày 19/9/2025 (ngày xét xử sơ
thẩm) là 205 ngày, tin lãi được tính như sau: (52.990.000 đồng x
20%/năm)/12tháng/30ngày x 205 ngày = 6.034.972 đồng.
Vì vậy, tổng tin gốc, lãi bà H M Niê phải trả là 59.024.972 đồng, trong đó
tin gốc: 52.990.000 đồng, tin lãi là 6.034.972 đồng.
[2.3] Từ những phân tích ở mục [2.1] và [2.2], HĐXX xét thấy, cần chấp
nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn bà Trần Thị H. Buộc bà H M Niê phải trả
cho bà H (20.000.000 đồng + 52.990.000 đồng) = 72.990.000 đồng nợ gốc và
(855.555 đồng + 6.034.972 đồng) = 6.890.527 đồng tin lãi, tổng cộng là
79.880.527 đồng.
[3] V tài sản cầm cố: Bà H’ Meo Niê đã giao cho bà Trần Thị H để làm tin
khi vay tin: 01 xe máy biển số 47H1-252.XX, nhãn hiu Yamaha, màu xám bạc
đen số máy: 1S92003563; số khung S9206Y003563 mang tên ông Trịnh Ngọc H3,
6
ngày 17/8/2024 ông H3 bán xe mô tô trên cho ông Đỗ Văn B, ngày 31/8/2024 ông
Bình bán lại chiếc xe mô tô trên cho bà H M, các bên đu xác nhận đã giao xe
nhưng chưa sang tên, đổi chủ và 01 Căn cước công dân số 066193020892 do Cục
CSQLHC v trật tự xã hội cấp 11/7/2022 mang tên H M Niê, vic cầm cố các tài
sản trên là không đúng theo quy định của pháp luật nên cần buộc bà Trần Thị H trả
lại cho bà H M Niê.
[4] V chi phí giám định: Do yêu cầu khởi kin của nguyên đơn được chấp
nhận nên bị đơn bà H M Niê phải chịu 4.000.000 đồng (Bốn triu đồng) chi phí
giám định chữ ký, chữ viết. Do nguyên đơn bà H đã nộp tạm ứng nên cần buộc bà
H M Niê phải trả số tin 4.000.000 đồng (Bốn triu đồng) cho bà Trần Thị H.
[5] V án phí: Do yêu cầu khởi kin của nguyên đơn được chấp nhận nên bị
đơn bà H M Niê phải chịu 79.880.527 đồng x 5% = 3.994.026 đồng (làm tròn
3.994.000 đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Do bị đơn bà H M Niê là người đồng bào
dân tộc thiểu số (Ê đê) ở xã có điu kin kinh tế - xã hội đặc bit khó khăn, có đơn
xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí. Do đó, Miễn toàn bộ án
phí dân sự sơ thẩm cho bà H M Niê.
[6] Xét quan điểm và đ nghị của đại din Vin kiểm sát nhân dân khu vực 4
- Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm a khoản 1 Điu
39, Điu 147, khoản 2 Điu 227, Điu 228, Điu 271 và Điu 273 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điu 463, Điu 466, Điu 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điu 12, Điu 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn bà Trần Thị H.
1.1 Buộc bà H M Niê có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị H số tin 79.880.527
đồng (Bảy mươi chín triu, tám trăm tám mươi nghìn, năm trăm hai mươi bảy
đồng), trong đó nợ gốc là 72.990.000 đồng (Bảy mươi hai triu, chín trăm chín
mươi nghìn đồng), nợ lãi là 6.890.527 đồng (Sáu triu, tám trăm chín mươi nghìn,
năm trăm hai mươi bảy đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
1.2. Bà Trần Thị H có nghĩa vụ trả lại cho bà H M Niê 01 xe máy biển số
47H1-252.XX, nhãn hiu Yamaha, màu xám bạc đen số máy 1S92003563; số
7
khung S9206Y003563 và 01 Căn cước công dân số 066193020892 do Cục C v
trật tự xã hội cấp 11/7/2022 mang tên H M Niê.
2. V chi phí giám định: Buộc bà H M Niê phải trả số tin 4.000.000 đồng
(Bốn triu đồng) chi phí giám định chữ ký, chữ viết cho bà Trần Thị H.
3. V án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà H M Niê.
Trả cho bà Trần Thị H 1.850.000 đồng (Một triu, tám trăm năm mươi nghìn
đồng) tin tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003155 ngày 14/4/2025 của
Chi cục thi hành án dân sự huyn K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Phòng thi hành án dân
sự khu vực 4 – Đắk Lắk).
4. Thông báo quyn kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyn
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt
tại phiên tòa, được quyn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp l.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 4 – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin đin tử Tòa án (nếu có);
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Vũ Đình Nam
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm