Bản án số 227/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 227/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 227/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 227/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 12-5-2025, ông Lê Thanh T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nói trên và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 227/2025/DS-PT Bản án số 227/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 227/2025/DS-PT Bản án số 227/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số 227/2025/DS-PT
Ngày 19 9 2025
V/v“Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại từ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai
Các Thẩm phán: Bà Mai Vương Thảo
Ông Vũ Việt Dũng
Thư phiên tòa: Trần Ngô Khánh Loan - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Anh Pha -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19-9-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ s42/2025/TLPT-DS ngày 16-6-2025
về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại từ hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số số 40/2025/DS-ST ngày 05-5-2025 của Tòa
án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra t xử phúc thẩm số 218/2025/QĐ-PT ngày
06-8-2025; giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Thanh T, sinh năm 1966; địa chỉ: Số D đường K,
phường N (phường K, quận N cũ), thành phố Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: Số B
đường T, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc H,
Luật thuộc đoàn Luật sư thành phố Đ; địa chỉ: Công ty L1, thành phố Đà
Nẵng; có mặt.
* Bị đơn: Ông Trần Minh L, sinh năm: 1990 Nguyễn Huỳnh N,
sinh năm 1992; cùng địa chỉ: Số B đường M, phường H (phường H, quận C cũ),
thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Phạm Thị T1, sinh năm 1986; địa chỉ: K đường H, quận H , thành
phố Đà Nẵng; vắng mặt.
- Ông Trần Ngọc V, sinh năm: 1982; địa chỉ: Thôn T, phường Đ, thành phố
Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ); vắng mặt.
- Bà Đặng Phương T2, sinh năm: 1987, địa chỉ: Thôn L, xã H, (xã H, huyện
H cũ), thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - ông Thanh T người đại diện theo ủy quyền trình bày
tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án:
Ông Thanh T Phạm Thị T1 mối quan hquen biết với nhau.
Phạm Thị T1 đang cần tiền không thể vay được stiền lớn nên T1 đã
mượn ông T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 433260 do Sở Tài
nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 30-11-2017 và ông T đồng ý. Ngày
25-02-2020, ông T T1 đã thoả thuận với nhau trong Giấy thoả thuận trả
nợ" với nội dung: "Trước đây tôi vay tiền của chị Trần Thị Quế M stiền 3 tỷ
đồng thế chấp sổ để niềm tin mang tên Thanh T. Đến ngày chị Trần Thị
Quế M cần lại số tiền trên thì chị Trần Thị Quế M đưa sang cho ông Trần Minh
L với số tiền 3 tỷ đồng với hình thức cho ông L cho vay với lãi suất 5%/tháng và
thế chấp sổ đniềm tin. Tôi cam kết số tiền trả cho ông Trần Minh L với
số tiền lãi 5%/tháng số tiền gốc 3.315.000.000 và lãi 165.000.000
đồng/tháng. Tổng cả gốc và lãi là 3.300.000.000 đồng". ng ngày 25-02-2020,
ông T đã kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền
với đất tại thửa đất số 234, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại địa chỉ: Tổ G phường H,
quận C, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ cụ thể là: Số C đường N, phường H, quận
C, thành phố Đà Nẵng) (sau đây gọi tắt nhà đất tại thửa đất số 234, tờ bản
đồ 31) cho ông Trần Minh L bà Nguyễn Huỳnh N nhằm mục đích đảm bảo
cho khoản vay của bà T1.
Tại thời điểm ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên,
giữa ông T ông L, N không bất cứ thoả thuận nào về việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, ông T không bàn bạc về căn cứ xác định giá
trị chuyển nhượng nhà và đất tại thửa đất số 234 tờ bản đồ số 31 hay giá trị thực
tế mà ông T mong muốn được chuyển nhượng cho ông L, bà N. Về giá trị
chuyển nhượng được nêu tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
25-02-2020 chỉ là giá trị được nêu để đảm bảo về mặt hình thức cho việc chuyển
nhượng chứ không phải giá trị thật của việc chuyển nhượng quyền sdụng
đất. Đồng thời, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên chỉ giao
dịch đtạo niềm tin chkhông nhằm mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, ông T và ông L đã lập Giấy thoả thuận ngày 25-02-2020 để ghi nhận số tiền
T1 đã vay của ông L là 3.300.000.000 đồng thời hạn vay 04 tháng kể từ
ngày ký. Ngày 03-5-2020, nhận thấy T1 không khả năng để trả nợ ông
L đang chuẩn bị chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người bên thba nên
3
ông T đã làm đơn tố cáo gửi quan Công an thành phố Đ để ngăn chặn việc
đăng biến động cũng nngăn chặn việc chuyển nhượng quyền sử dụng đt
cho bên thứ ba khác. Tuy nhiên, mặc biết rằng đất đang tranh chấp
đang được giải quyết hồ sơ tại Cơ quan Công an thành phố Đ nhưng ông L và bà
N vẫn cố ý tiếp tục thực hiện thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất.
Ngày 08-7-2020, ông L bà N đã chuyển nhượng quyền sdụng đất đối
với nhà, đất tại thửa đất số 234 tờ bản đồ số 31 cho ông Trần Ngọc V, Đặng
Phương T2 theo Hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/7/2020 do Văn phòng C.
Giá trị chuyển nhượng giữa ông L, N ông Trần Ngọc V, Đặng Phương
T2 theo hợp đồng chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng, tuy nhiên giá trị
chuyển nhượng thực tế là 4.000.000.000 đồng (giá trị 4.000.000.000 đồng ông T
biết do các đương sự trình bày tại vụ án dân sự tranh chấp giữa nguyên đơn
ông Trần Ngọc V, Đặng Phương T2 bị đơn ông Thanh T, Thanh P,
Thị Hạ Q đã được Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ giải quyết thẩm
Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng giải quyết phúc thẩm vào năm 2022). Giao
dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên giữa ông L, bà N ông V,
T2 đã được Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng tuyên hiệu lực pháp luật do
ông V, bà T2 người thứ ba ngay tình trong giao dịch theo Bản án dân sự phúc
thẩm số 59/2020/DS-PT ngày 13-9-2022. Trong giai đoạn xét xử thẩm, Toà
án đã định giá nhà đất của ông T 4.603.344.889 đồng. Hành vi này của ông L
N đã gây thiệt hại cho ông T khi thực tế giá trị đất thời điểm đó lớn hơn
nhiều so với số tiền T1 nợ ông L, bà N. Ông T sẽ chỉ phải trả cho ông L
N số tiền 3.300.000.000 đồng, thay vì phải mất quyền sử dụng đất với
giá trị là 4.603.344.889 đồng.
Do đó, phần lợi ích ông L, N nhận được từ giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với ông V, T2 phần thiệt hại ông T đã bị xâm phạm
tương đương với số tiền 4.603.344.889 đồng - 3.300.000.000 đồng =
1.303.344.889 đồng.
Ngày 11-6-2024, ông T đã được Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng tiếp công dân trao đổi trực tiếp liên quan đến vviệc u
trên tại Biên bản tiếp công dân cùng ngày. Nội dung Biên bản có đoạn: "Trên cơ
sở khiếu nại Thông báo số 224/TB-VKS-DS ngày 28/03/2024 về việc không
kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 59/2022/DSPT ngày 13-9-2022 của
TAND thành phố Đà Nẵng Thông báo s34/TB-VC2 ngày 07-5-2024 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc không chấp
nhận đơn khiếu nại của ông T. Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng hướng
dẫn ông Lê Thanh T khởi kiện ông Trần Minh L, bà Nguyễn Huỳnh N đòi số tiền
chênh lệch từ việc ông Trần Minh L chuyển nhượng nhà đất của ông bằng vụ án
khác."
Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Trần Minh L
Nguyễn Huỳnh N bồi thường thiệt hại cho ông Thanh T số tiền
1.303.344.889 đồng.
* Bị đơn- ông Trần Minh L Nguyễn Huỳnh N người đại diện theo
ủy quyền trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án:
4
Nội dung yêu cầu khởi kiện của ông T hoàn toàn căn cứ, hiện nay giữa
vợ chồng ông L, bà N và ông Lê Thanh T không có bất k quan hệ gì. Việc giao
dịch chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông L, N ông Thanh T
từ năm 2020 đã hoàn thành. Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất và tài sản gắn liền với đất ngày 25-02-2020 thì ông T chuyển nhượng cho vợ
chồng ông L, Như nđất tại thửa đất số 234, tờ bản đồ số 31 (Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 433260 do Sở Tài nguyên Môi trường
thành phố Đ cấp ngày 30-11-2017). Sau đó ông L, N chuyển nhượng cho
người thứ ba ông Trần Ngọc V, bà Đặng Phương T2 thì ông T không chịu
giao nhà. Do đó, ông V, T2 đã khởi kiện đề nghị ông T bàn giao nhà. Đến
tháng 4/2021, ông Thanh T yêu cầu phản tố đề nghị hủy giao dịch giữa
ông L, bà N và ông T thì đã được Tòa án nhân dân hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm
giải quyết. Căn cứ bản án phúc thẩm, ông T đã tự nguyện bàn giao nhà.
Hiện nay ông T khởi kiện ông L, N, yêu cầu ông L, N bồi thường
thiệt hại cho ông Thanh T số tiền 1.303.344.889 đồng, liên quan đến hợp
đồng chuyển nhượng là hoàn toàn không có căn cứ. Vụ việc đã được Tòa án giải
quyết bằng bản án hiệu lực, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông L, bà N với ông T đã được Tòa án xem xét và công nhận hiệu lực và đã
bác yêu cầu phản tcủa ông Thanh T. Nay ông T lại tiếp tục khởi kiện
hoàn toàn không có căn cứ.
Ngoài ra, vụ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra từ năm 2020
đến nay gần 4 năm, nên thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đã hết,
nên ông L, N đề nghị Tòa án xem xét đình chỉ thụ vụ án. Trường hợp Toà
án vẫn thụ vụ án, đề nghị Toà án xem xét bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
ông T.
Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị HĐXX xem
xét đình chỉ giải quyết ván đã được giải quyết bằng Bản án dân sự phúc
thẩm s 59/2022/DSPT ngày 13-9-2022 của Toà án nhân dân thành phố Đà
Nẵng đã hiệu lực. Trường hợp HĐXX không đình chỉ thì đề nghị HĐXX
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- Phạm Thị T1 trình y trong
quá trình tham gia tố tụng tại Toà án:
Về hồ sổ đỏ: Ông Thanh T, sinh năm: 1966 vay của ông Trần
Minh L Nguyễn Huỳnh N số tiền 3.300.000.000 đồng với lãi suất tháng là
5%/tháng là 165.000.000 đồng đã nhận đủ vào tháng đầu tiên. Từ ngày 25-
02-2020 tại Văn phòng C đã công chứng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- ông Trần Ngọc V và Đặng
Phương T2 đã được Tòa án tống đạt hợp các văn bản tố tụng như: Thông báo
thụ vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai
chứng cứ hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định hoãn phiên
tòa nhưng ông Trần Ngọc V bà Đặng Phương T2 vẫn vắng mặt không
do cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
5
* Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 05-5-2025 của Tòa án
nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271, 272 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 107, Điều 221, Điều 503 Bộ luật n sự;
Khoản 4 Điều 95, Điều 66, Điều 167, Điều 168 Luật Đất đai năm 2013; Khoản
3 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thanh T về việc
buộc ông Trần Minh L Nguyễn Huỳnh N bồi thường thiệt hại cho ông
Thanh T số tiền 1.303.344.889 đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh T được miễn nộp án phí dân sự
sơ thẩm do thuộc trường hợp người có công với cách mạng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo nghĩa vụ thi
hành án của các đương sự.
* Kháng cáo:
Ngày 12-5-2025, ông Thanh T đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm nói trên và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm để chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa của người tham gia tố tụng trong qtrình giải quyết vụ án giai đoạn
phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của ông Thanh T do không căn cứ; đề nghị
giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng; Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã
được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các n bản tố tụng để tham gia phiên tòa
nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản
3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Xét Đơn kháng cáo của ông Lê Thanh T:
[2.1] Ông Thanh T khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh L Nguyễn
Huỳnh N bồi thường thiệt hại dựa trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
6
dụng đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất lập ngày 25-02-
2020 đối với thửa đất số 234, tờ bản đồ 31, địa chỉ số C đường N, phường H,
quận C, thành phố Đà Nẵng, với mục đích theo ông T trình bày để đảm bảo
cho khoản vay 3.300.000.000 đồng của Phạm Thị T1. Ông T cho rằng hai
bên lập Giấy thoả thuận về việc mua bán nhà cùng ngày 25-02-2020 để thoả
thuận ông T điều kiện chuộc lại tài sản trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày ký
hợp đồng chuyển nhượng nhưng đến ngày 08-7-2020, ông L, N đã chuyển
nhượng lại nhà đất này cho ông Trần Minh V1, Đặng Thị Phương T2 với
giá chuyển nhượng theo hợp đồng 1.500.000.000 đồng là vi phạm thoả thuận.
Ông T đồng ý kết quả thẩm định giá tài sản nhà đất tại C N vào thời điểm
tháng 7-2020 4.603.344.889 đồng nên ông T tính số tiền đã bthiệt hại
4.603.344.889 đồng - 3.300.000.000 đồng = 1.303.344.889 đồng.
[2.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất ngày 25-02-2020 đối
với thửa đất số 234, tờ bản đ31, địa chỉ sC đường N, phường H, quận C,
thành phố Đà Nẵng giữa ông Thanh T với ông Trần Minh L, Nguyễn
Huỳnh N là hiệu lực pháp luật do đã được xem xét, giải quyết tại Bản án dân
sự phúc thẩm số 59/2022/DSPT ngày 13-9-2022 của Toà án nhân dân thành phố
Đà Nẵng. Như vậy, kể từ thời điểm ông L, N được quan thẩm quyền
thực hiện việc chỉnh biến động sang tên vào ngày 30-6-2020 thì ông T đã
không còn quyền lợi gì đối với bất động sản này.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, ông Thanh T trình bày do không
đồng ý với Giấy thoả thuận về việc mua bán nhà ngày 25-02-2020 nên đã không
ký tên vào văn bản này nhưng ông lại khởi kiện vụ án dựa trên tài liệu này là bất
nhất. Hơn nữa, tại Giấy thoả thuận về việc mua bán nhà ngày 25-02-2020 thì
cho phép ông T được chuộc lại tài sản trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày ký hợp
đồng chuyển nhượng, tức là từ ngày 25-02-2020 đến ngày 25-6-2020. Do vậy,
ngày 08-7-2020, ông L, N chuyển nhượng nhà đất 34 đường N cho người
khác là đã quá thời hạn 04 tháng, phù hợp với thoả thuận giữa các bên.
Do ông Thanh T không còn quyền lợi gì đối với nhà đất 34 đường N
ông Trần Minh L, Nguyễn Huỳnh N không hành vi xâm phạm quyền, lợi
ích đối với ông T nên việc ông T khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
không có căn cứ theo quy định tại các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự.
[2.3] Về nội dung Biên bản tiếp công dân ngày 11-6-2024 của Viện Kiểm
sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ông Thanh T trình bày tại đơn khởi
kiện, đơn kháng cáo không phải là tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
[2.4] Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của ông Lê Thanh T về việc buộc ông Trần Minh L và bà Nguyễn Huỳnh N
bồi thường thiệt hại cho ông Thanh T số tiền 1.303.344.889 đồng phù hợp
pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án cấp phúc thẩm, ông T không cung cấp
thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh yêu cầu khởi kiện, kháng cáo của
mình căn cứ nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, cần
giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
7
[3] Án phí dân sự phúc thẩm, ông Thanh T phải chịu do không được
chấp nhận yêu cầu kháng cáo nhưng được xét miễn do thuộc trường hợp người
có công với cách mạng.
[4] Các đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 148, Điều 293, khoản 3 Điều 296, Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ
luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 107, Điều 221, Điều 503 Bộ luật Dân sự; Khoản 4 Điều 95,
Điều 66, Điều 167, Điều 168 Luật Đất đai năm 2013
- Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thanh T;
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 05-5-2025 của
Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, nay là Toà án nhân dân Khu
vực 3- Đà Nẵng:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thanh T về việc
buộc ông Trần Minh L Nguyễn Huỳnh N bồi thường thiệt hại cho ông
Thanh T số tiền 1.303.344.889 đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh T được miễn nộp án phí dân sự
sơ thẩm do thuộc trường hợp người có công với cách mạng.
II. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh T được miễn.
III. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TPĐN;
- TAND KV3-ĐN;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thị Thanh Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 227/2025/DS-PT Bản án số 227/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 227/2025/DS-PT Bản án số 227/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất