Bản án số 616/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 616/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 616/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 616/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 616/2026/DS-PT Bản án số 616/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 616/2026/DS-PT Bản án số 616/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 616/2026/DS-PT
Ngày: 07-7-2026
V/v “Tranh chấp về ranh giới quyền
sử dụng đất và tài sản trên đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạt
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hùng
Lê Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Trần Thị Trúc Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét x
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 292/2026/TLPT-DS ngày 04 tháng 5 năm
2026 về “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2026/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 550/2026/QĐXXPT-DS
ngày 04 tháng 6 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 706/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1948. Địa chỉ: ấp R, N,
huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, xã N, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn G: Ông Trung D, sinh
năm 1973. Địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp Đ, phường H,
tỉnh Vĩnh Long). (có mặt)
- Bị đơn: Ông Văn T, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh
Trà Vinh (nay là ấp R, xã N, tỉnh Vĩnh Long).
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Văn T: Lâm Thị D1, sinh năm
1963. Địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh Vĩnh
Long). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị H, sinh năm 1952. Địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh
(nay là ấp R, xã N, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị H: Ông Võ Trung D, sinh năm
1973. Địa chỉ: p Đ, H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp Đ, phường H, tỉnh
Vĩnh Long). (có mặt)
+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1981. Địa chỉ: p R, N, huyện C, tỉnh Trà
Vinh (nay là ấp R, xã N, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C: Nguyễn Thị H1,
sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, N,
tỉnh Vĩnh Long). (có mặt)
+ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975. (có mặt)
+ Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1990. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh
Vĩnh Long).
+ Ông Võ Văn H2, sinh năm 1972. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
+ Ông Võ Văn T2, sinh năm 1996. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
+ Bà Võ Thị Thùy D2, sinh năm 1996. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh
Vĩnh Long).
+ Bà Lâm Thị D1, sinh năm 1963. (có mặt)
+ Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1988. (có mặt)
+ Ông Lê Trường X, sinh năm 1992. (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh
Vĩnh Long).
+ Ông Lê Minh K1, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà
Vinh (nay là ấp R, xã N, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Minh K1:Lâm Thị D1, sinh năm
1963. Địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, N, tỉnh Vĩnh
Long). (có mặt)
3
+ Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1952. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
+ Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm 1990. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh
Vĩnh Long).
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn T, là Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm;
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trung
D người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn G (và cũng
người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị H) trình bày:
Gia đình ông G có thửa đất 165, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.800m
2
, loại đất ở
quả, tọa lạc tại ấp R, N, huyện C, tỉnh TVinh (nay ấp R, xã N, tỉnh Vĩnh
Long) đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất
vào ngày 26/6/1996 do ông Nguyễn Văn G đại diện hộ đứng tên. Nguồn gốc đất
của ông để lại, thời gian ông G đi làm Đồng Tháp cầm cố đất lại cho
ông D3 em chú bác của ông số tiền 12.000.000 đồng, sau đó ông D3 không biết
do đã sang lại cho bà Mỹ L (giấy tay), khoảng năm 2014 2015 tbà L
liên hệ với gia đình ông để cho chuộc lại đất, thì con gái ông H1 đã chuộc lại
phần đất này và cất nhà ở (căn nhà này nằm ngoài vị trí ranh đất tranh chấp).
Giáp ranh với thửa đất của ông G thửa đất 154, tờ bản đồ số 14, diện tích
1.740m
2
của hộ ông Văn T. Quá trình sử dụng đất hộ ông T lấn ranh chiếm đất
của ông G từ đó hai bên phát sinh tranh chấp. Nay ông G yêu cầu hộ ông T (gồm
ông T, D1, bà N, ông K1 ông X) trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 117m
2
thuộc một phần thửa đất 165, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.800m
2
, loại đất quả,
tọa lạc tại p R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, N, tỉnh Vĩnh Long)
do ông Nguyễn Văn G đại diện hộ đứng tên. Đối với cây trồng trên đất ông G đồng
ý trả giá trị cho ông T.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Lâm Thị D1 đại diện
theo ủy quyền của bị đơn ông Văn T (cũng người đại diện theo ủy quyền
của ông Lê Minh K1) trình bày:
Gia đình ông T thửa đất 154, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.740m
2
, loại đất
ONT CLN, tọa lạc tại ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, xã N, tỉnh
Vĩnh Long) đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào ngày 26/6/1996 do ông Văn T đại diện hộ đứng tên. Nguồn gốc
đất năm 1992 gia đình ông T nhận chuyển nhượng của ông Lâm Văn Đ1, lúc
chuyển nhượng thì ông Đ1 chỉ ranh đất thẳng từ trong ruộng ra để gia đình
4
ông T sử dụng, gia đình ông T đã sử dụng n định không có tranh chấp, đến năm
1996, Nhà nước quy hoạch bản đồ địa chính và cấp quyền sử dụng đất. Khoảng
năm 1998 đến năm 2000 thì ông G chuyển nhượng thửa đất lại cho ông Nguyễn
Quốc D3 bà Phạm Thị Đ thì vẫn giữ ranh đất từ trong ruộng thẳng ra,
đóng trụ ranh (mua bán chỉ làm giấy tay). Sử dụng được một thời gian tông D3
lên Thành phố Hồ CMinh sinh sống đã chuyển nhượng lại cho Lâm Thị Mỹ
L (mua bán chỉ làm giấy tay) và vẫn giữ ranh đất cũ để sử dụng. Đến năm 2016 thì
gia đình ông T có bơm cát phần mương líp của ông giáp với phần đất của bà L; đến
khoảng năm 2017 2018 thì L chuyển nhượng đất lại cho Nguyễn Thị H1,
ông Văn H2 (tức con gái con rễ của ông G) sử dụng gia đình ông T
yêu cầu địa phương xác định trụ ranh. Từ lúc cắm ranh xong thì hai bên sử dụng ổn
định. Trong thời gian gần đây thì H1, ông H2 tự ý nhổ trụ, cho rằng gia đình
ông T chiếm đất đi khởi kiện. Nay gia đình ông T không đồng ý theo yêu cầu
của ông G, gia đình ông T khẳng định sử dụng đúng phần đất của gia đình mình
không lấn ranh, chiếm đất của ai.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trường X
Thị Hồng N người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn trình
bày:
Ông bà là con ruột của ông T, bà D1 và là thành viên trong hộ của ông T. Ông
thống nhất theo ý kiến trình bày và yêu cầu của bà D1 (đại diện cho ông T), ông
bà không có ý kiến và yêu cầu gì thêm.
* Theo lời khai trong qtrình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn T1, ông
Văn H2, Nguyễn Thị K, ông Văn T2 Thị Thùy D2 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn trình bày: Các ông bà
thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông G, các ông bà không có ý kiến và yêu cầu
gì trong vụ án này.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Nguyễn Thị H1 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn (cũng người đại diện
theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C) trình bày:
thống nhất với ý kiến yêu cầu của ông G, không có ý kiến và yêu
cầu trong vụ án này. Nhưng trình bày bổ sung cha bà (tức ông G)
thửa đất 165, nguồn gốc đất của ông để lại, phần đất này giáp ranh thửa 154
của ông T. Trước đây cha bà đi làm ăn xa có giao đất lại nhờ chú bà là ông Nguyễn
Quốc D3 trông coi canh tác nhưng không biết chính xác nội dung như thế nào, cuối
cùng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cầm cố cho Lâm Thị Mỹ L, năm
2015 thì gia đình giao cho L số tiền 230.000.000 đồng để lấy lại giấy
chứng nhận. Hiện nay vợ chồng cùng các con đang sống trên phần đất này.
5
Phần đất vẫn đất của cha bà do cha đứng tên, đối với số tiền đưa L để
chuộc lại giấy chứng nhận thì tự trong gia đình trao đổi với nhau, không yêu
cầu trong vụ án này. Đối với 02 cây trụ điện của ông T3 có hỏi gia đình cắm
nhờ để kéo điện thắp sáng thì gia đình không ý kiến, nếu Tòa án giải quyết
đất thuộc về ai thì ông T3 tự thỏa thuận với người đó.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Phạm Thị Đ người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Vào khoảng trước m 2000 nhận chuyển nhượng của ông G một phần
đất, chỉ viết giấy tay chưa làm thủ tục sang tên với giá là 11.000.000 đồng, bà nhận
chuyển nhượng phân nửa còn phân nửa thì bà Lâm Thị Mỹ L nhận chuyển nhượng,
sau này thì H1, ông H2 con ông G chuộc lại. Nay không yêu cầu
trong vụ án này, để khi nào giải quyết xong vụ án thì bà và ông G trao đổi sau.
* Theo li khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Văn T3 là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Nhà ông ở phía sau phần đất tranh chấp của ông G và ông T. Do phần đất ông
phía bên trong nên khi kéo điện thắp sáng thì ông hỏi ý kiến ông G, bà H1,
ông H2 để cắm nhờ 02 cây trụ điện trên phần đất đang tranh chấp hiện nay. Ông
không ý kiến yêu cầu trong vụ án này, nếu Tòa án giải quyết vụ án phần
đất tranh chấp thuộc về gia đình nào thì ông sẽ tự thỏa thuận di dời các trụ điện đã
cắm nhờ với gia đình đó.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân Khu vực 11 Vĩnh Long đã đưa
vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2026/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Vĩnh Long đã tuyên:
Căn cứ các Điều 12, 26, 35, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271 Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 163, 164, 175 và Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 26, 29, 31, 133 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ các Điều 12, 14, 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G.
1. Công nhận diện tích 69,6m
2
(ký hiệu B2), nằm trong diện tích 1.800m
2
(thực đo hiện trạng 1.620,2m
2
), thửa đất 165, loại đất quả, tờ bản đồ số 14, tọa
lạc tại ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh Vĩnh Long)
thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn G.
- Buộc hộ ông Lê Văn T trả lại diện tích 69,6m
2
(ký hiệu B2) cho ông Nguyễn
6
Văn G được quyền sdụng đất. kích thước các cạnh như sau: 4,15 mét; 33,72
mét; 1,69 mét; 34,42 mét. Đối với tài sản trên diện tích 69,6m
2
công nhận cho ông
Nguyễn Văn G được quyền sử dụng ông Nguyễn Văn G nghĩa vụ trả gtrị
cho ông Lê Văn T với số tiền 2.180.000 (hai triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Công nhận diện tích 102,3m
2
(ký hiệu A2), nằm trong diện tích 1.740m
2
(thực đo 1.527,1m
2
), thửa đất 154, loại đất ONT CLN, tờ bản đồ số 14, tọa lạc
tại ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh Vĩnh Long) thuộc
quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Văn T cùng tài sản trên đất.
Vị trí đất được thể hiện theo sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số: 80/CNHCL
ngày 08/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh
(nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2 Vĩnh Long) cung cấp.
2. Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi án hiệu lực pháp luật để thi hành,
các bên đương s nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng diện tích đất tranh chấp,
không làm thay đổi hiện trạng đất, xây cất hay trồng thêm cây cối, vật kiến
trúc…dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của quan thẩm
quyền.
Ngoài ra, a án cấp thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, chi phí
tố tụng, án phí, thi hành bản án và quyn kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/3/2026, bị đơn ông n T kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án
để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông ông cho rằng phần diện
tích 69,6m
2
Tòa án cấp thẩm buộc gia đình ông trả lại cho hộ ông G của
gia đình ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo
của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định
của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa
vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Xét thấy kháng cáo của ông Văn T không căn cứ, đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không
chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
16/2026/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11
Vĩnh Long.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ đã được thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét
kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bị đơn ông Văn T kháng cáo thực hiện c thủ tục kháng cáo hợp lệ,
trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Nguồn gốc thửa đất 165 của ông G do ông để lại, nguồn gốc thửa
đất 154 của ông T do nhận chuyển nhượng. Thửa đất ông G giáp ranh với thửa đất
của ông T, quá trình sử dụng đất phía ông G phía ông T được Nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất theo đúng trình tự thtục quy định, các n
đương sự cũng không ý kiến hay khiếu nại gì về việc cấp giấy này. Sự việc này
được ông D2 đại diện ông G và D1 đại diện ông T đều thừa nhận. Căn cứ Điều
92 Bộ luật Tố tụng dân sự tình tiết các bên đương sự thừa nhận tình tiết không
cần phải chứng minh.
2.2. Căn cứ kết quả đo đạc được thể hiện tại Công văn số 80/CNHCL ngày
08/4/2025 đồ khu đất kèm theo của Chi nhánh Văn phòng đăng Đất đai
huyện C, tỉnh TVinh (nay Chi nhánh Văn phòng Đ2 Vĩnh Long) thể hiện
phần đất tranh chấp giữa ông G ông T diện tích 171,9m
2
gồm phần diện
tích 69,6m
2
(phần B2) và 102,3m
2
(phần A2). Các phần đất được đo vẽ và xác định
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên nên căn cứ để xác định
phần diện tích 69,6m
2
(phần B2) thuộc một phần thửa 165 do ông G đại diện hộ
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích 102,3m
2
(phần A2)
thuộc một phần thửa 154 do ông T đại diện hộ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Do đó, ông G yêu cầu hộ ông T trả lại diện tích 171,9m
2
thuộc về thửa
đất 165 của ông G chỉ có căn cứ chấp nhận một phần.
2.3. Bà D1 là người đại diện theo ủy quyền của ông T cho rằng phần diện tích
171,9m
2
là của gia đình bà. khi gia đình nhận chuyển nhượng thửa đất 154
canh tác sử dụng thì gia đình đã thống nhất với hộ sử dụng đất giáp ranh
trước đây là ông G, sau này là ông Nguyễn Quốc D3, Lâm Thị Mỹ L (do ông G
bán đất cho ông D3 và ông D3 bán đất lại cho bà Mỹ L) và gia đình bà sử dụng đất
đúng vị trí thỏa thuận, không lấn chiếm đất của ông G. Theo kết quả đo đạc phần
diện tích 69,6m
2
thuộc về thửa đất 165 của ông G và ông G vẫn đứng tên quyền sử
dụng đất đối với phần đất này, bà D1 không có chứng cứ chứng minh việc giữa gia
8
đình với ông G thỏa thuận xác định trụ ranh đất như bà trình bày nên không
có căn cứ để chấp nhận.
2.4. Đối với tài sản trên phần diện tích 69,6m
2
thuộc thửa đất 165 của ông G
gồm 02 cây cau 01 cây dừa, thể hiện tại các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án thì phía ông G thừa nhận của gia đình ông T. Quá trình ông T trồng
cây và hưởng hoa lợi thì phía ông G vẫn biết nhưng ông G không ngăn cản hay yêu
cầu địa phương giải quyết. Ông D2 đại diện ông G thống nhất trả giá trị cho ông T
nên buộc ông G phải hoàn trả giá trị cho ông T hoàn toàn phù hợp quy định của
pháp luật.
[3] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của ông T cũng như những lời
trình bày, tranh luận tại phiên tòa xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông T không
có cơ sở nên không được chấp nhận. Vì vậy, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm, tuy nhiên do ông T người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T, giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số: 16/2026/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực
11 nh Long.
Căn cứ các Điều 12, 26, 35, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271 Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 163, 164, 175 và Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 26, 29, 31, 133 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G.
1. Công nhận diện tích 69,6m
2
(ký hiệu B2), nằm trong diện tích 1.800m
2
(thực đo hiện trạng 1.620,2m
2
), thửa đất 165, loại đất quả, tờ bản đồ số 14, tọa
9
lạc tại ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh Vĩnh Long)
thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn G.
- Buộc hộ ông Lê Văn T trả lại diện tích 69,6m
2
(ký hiệu B2) cho ông Nguyễn
Văn G được quyền sdụng đất. kích thước các cạnh như sau: 4,15 mét; 33,72
mét; 1,69 mét; 34,42 mét. Đối với tài sản trên diện tích 69,6m
2
công nhận cho ông
Nguyễn Văn G được quyền sử dụng ông Nguyễn Văn G nghĩa vụ trả gtrị
cho ông Lê Văn T với số tiền 2.180.000 (hai triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Công nhận diện tích 102,3m
2
(ký hiệu A2), nằm trong diện tích 1.740m
2
(thực đo 1.527,1m
2
), thửa đất 154, loại đất ONT CLN, tờ bản đồ số 14, tọa lạc
tại ấp R, N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp R, N, tỉnh Vĩnh Long) thuộc
quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Văn T cùng tài sản trên đất.
Vị trí đất được thể hiện theo sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số: 80/CNHCL
ngày 08/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh
(nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2 Vĩnh Long).
2. Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi án hiệu lực pháp luật để thi hành,
các bên đương s nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng diện tích đất tranh chấp,
không làm thay đổi hiện trạng đất, xây cất hay trồng thêm cây cối, vật kiến
trúc…dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của quan thẩm
quyền.
3. Về chi phí tố tụng:
- Buộc ông Văn T phải nộp số tiền 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn)
đồng.
- Buộc ông Nguyễn Văn G phải nộp số tiền 3.526.000 (ba triệu năm trăm hai
mươi sáu nghìn) đồng, được trừ vào số tiền 5.926.000 đồng tạm ứng chi phí tố
tụng ông G đã nộp cho Tòa án tạm thu đã quyết toán xong. Hoàn trả ông G số
tiền 2.400.000 đồng, số tiền này được thu từ ông T nghĩa vụ nộp nêu trên nên
sau khi thu số tiền 2.400.000 đồng từ ông T thì hoàn trả lại cho ông G.
4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi nh án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí:
5.1. Án phí dân sự thẩm: Ông Nguyễn Văn G ông Lê Văn T được miễn
nộp án phí.
5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn T được miễn nộp án phí.
10
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi nh án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND Khu vực 11 – Vĩnh Long;
- Phòng THADS Khu vực 11 - Vĩnh Long;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Minh Đạt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 616/2026/DS-PT Bản án số 616/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 616/2026/DS-PT Bản án số 616/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất