Bản án số 467/2026/DS-PT ngày 10/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 467/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 467/2026/DS-PT ngày 10/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 467/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 467/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 7 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn A Đam
Bà Giang Thị Cẩm Thúy
- Thư phiên tòa: Nguyễn Xuân Thũy Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 201/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 5
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2026/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 347/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 5
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ Đ, sinh ngày 19/8/1981 (có mặt).
Số CCCD: ************, cấp ngày 02/7/2021.
Địa chỉ: Ấp A, xã P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh ngày 01/01/1970 (có mặt).
Số CCCD: ************, cấp ngày 02/7/2021.
2. Ông Lê Văn V, sinh ngày 01/01/1966 (có mặt).
Số CCCD: ************, cấp ngày 02/7/2021.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã P, tỉnh Cà Mau.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Nhựt D, sinh ngày
29/05/2003. Căn cước công dân: ************, cấp ngày 11/6/2023. Địa chỉ: Ấp
A, xã P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người kháng cáo:
Nguyễn Thị Đ1 và ông Lê Văn V, là bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên
đơn trình bày:
Trần Mỹ Đ chồng tên Phan Văn Đ2 (Đã chết ngày 21/4/2021) tạo
lập được một phần đất diện tích 6.966,1m
2
, đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số
685, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp
A, P, tỉnh Mau). Vợ chồng Đ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (Giấy chứng nhận). Sau khi chồng chết, nhằm tạo điều kiện lo cho con ăn học
nên Đ đã ctoàn bộ diện tích đất cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Đ1 ông Văn
V. Hai bên có lập Tờ cố đất viết tay đề ngày 30/12/2021 có nội dung: Đ cố cho
vợ chồng Đ1 phần đất 5 công 3 tầm cấy với giá 220.000.000 đồng trong thời gian
03 năm tính từ ngày 30/12/2021 đến ngày 30/12/2024. Đ đã nhận đủ số tiền
220.000.000 đồng và đã giao đất cho bà Đ1, ông V canh tác. Đồng thời, Đ cũng
giao cho bà Đ1, ông V giữ bản gốc Giấy chứng nhận.
Phần đất Đ cố cho Đ1, ông V nằm giáp ranh với phần đất khác của
Đ1 và ông V nên đến năm 2023, bà Đ1 và ông V kêu Đ bán luôn phần đất cố này
cho ông với số tiền 328.600.000 đồng. Bà Đ nói nếu mua bán thì chưa chuyển tên
được vì ông Đ2 đã chết, nhưng bà Đ1, ông V nói không sao, chừng nào làm thủ tục
chuyển tên cũng được. Do khi còn sống, ông Đ2, Đ đã bán nhiều phần đất khác
cho bà Đ1, ông V và lần nào cũng chuyển tên xong.
Đ cố đất sau đó chuyển qua thành chuyển nhượng đất cho Đ1, ông V
với số tiền 328.600.0000 đồng. Đ nhận tiền 03 lần với tổng số tiền
290.000.000 đồng.
Trong năm 2024, bà Đ mượn lại bản gốc Giấy chứng nhận làm thtục thừa
kế cho con trai tên D. Phan Nhựt D đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất số DO 504317 vào ngày 21/02/2024 tại thửa đất số 685, tờ bản đồ số 10 với diện
tích 6.966,1m
2
, đất nuôi trồng thủy sản. Bà Đ giao Giấy cho bà Đ1 ông V giữ.
Cũng trong năm 2024, bà Đ thông báo cho Đ1, ông V biết không bán đất
nữa, yêu cầu chuộc lại nhưng Đ1, ông V không đồng ý nên các bên phát sinh
tranh chấp. Do đó, Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án: Tuyên bố giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa bà Đ với Đ1, ông V vào ngày
24/10/2023 âm lịch hiệu. Đ đồng ý trả cho Đ1, ông V số tiền 290.000.000
đồng; buộc Đ1 ông V giao trả lại phần đất và khôi phục lại tình trạng ban đầu của
thửa đất.
Vào ngày 10/02/2026, bà Đ có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về
việc buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của thửa đất.
Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Lê Văn V và bà Nguyễn ThĐ1 trình bày:
Ngày 24/10/2023 âm lịch Trần Mỹ Đ có sang cho ông V, bà Đ1 một phần đất nêu
trên với giá là 328.600.000đ. Bà Đ đã nhận số tiền 290.000.000đ, phần còn lại khi
nào làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Đ1, ông V xong thì
giao đủ số tiền còn lại. Tuy nhiên, Đ không thực hiện như cam kết. Đối với yêu
3
cầu khởi kiện của bà Đ, thì vchồng ông V Đ1 không đồng ý. Ông V, Đ1 yêu
cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, với lý do:
- Bà Đ đã chuyển nhượng đất cho ông V Đ1 và ông đã ban bờ và canh
tác từ năm 2021 đến nay nhưng phía Đ không phản đối. D biết việc mẹ mình sang
bán đất, ngày 22/02/2024 D cùng với ông V, Đ1 đóng thuế, làm thủ tục để chuyển
tên cho ông V bà Đ1, nhưng vì cán bộ kêu phải làm thủ tục cho D đứng tên, sau đó
mới chuyển sang tên ông V bà Đ1.
- Bị đơn sang đất đúng với gthị trường, 62.000.000đ/01 công tầm lớn x
6.966,1m
2
(tương đương 5,375 công tầm lớn) = 328.600.000đ. Bà Đ đã nhận của bà
Đ1, ông V số tiền 290.000.000đ, còn lại số tiền 38.600.000đ khi nào chuyển tên
cho bị đơn thì giao đủ. Bị đơn đã giao cho bà Đ hơn 2/3 số tiền sang nhượng.
- Mặc dù việc chuyển nhượng chỉ làm giấy tay, nhưng bà Đ và cháu D thống
nhất việc bán đất cho ông V bà Đ1 và ông bà đã quản lý, sử dụng đất ổn định; bà Đ
đã giao Giấy chứng nhận cho ông V bà Đ1 giữ (Giấy chứng nhận ông Đ2 đứng tên,
sau đó giao Giấy chứng nhận đứng tên D).
Trong trường hợp Tòa án tuyên hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất vô
hiệu, buộc ông bà trả lại đất, thì bà Đ phải trả lại giá trị theo giá thị trường.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phan Nhựt D trình bày:
Anh Duy là con ruột của bà Đông Phan Văn Đ2. Sau khi ông Đ2 chết vào
ngày 21/4/2021, gia đình bà Đ thống nhất lập thủ tục phân chia di sản thừa kế cho D
thừa hưởng phần đất. Anh D1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
DO 504317 vào ngày 21/02/2024 tại thửa đất s685, tờ bản đồ số 10 với diện tích
6.966,1m
2
đất nuôi trồng thủy sản. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì anh D1 đưa cho bà Đ giữ. Từ nhỏ đến nay, anh D1 đi học nên không có canh tác
đất, vợ chồng Đ trực tiếp canh tác đất đến sau này bà Đ cố đất cho Nguyễn
Thị Đ1 và ông Văn V. Trên danh nghĩa anh D1 người hưởng thừa kế do ông
Đ2 để lại nhưng bà Đ mới là người quản lý, sử dụng, để kiếm tiền nuôi con ăn học.
Anh D1 không biết về việc chuyển nhượng đất giữa bà Đ với bà Nguyễn Thị
Đ1 và ông Lê Văn V, do đó anh đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện bà Đ. Anh D1 xin
xét xử vắng mặt tại phiên tòa cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2026/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Trần Mỹ Đ đối với yêu cầu
buộc vợ chồng ông Văn V Nguyễn Thị Đ1 phải khôi phục lại tình trạng
ban đầu của thửa đất.
2. Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ Đ.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đ với ông V,
Đ1 xác lập bằng Giấy cố đất vào ngày 30/12/2021 Giấy tạm ứng vào ngày
24/10/2023 âm lịch đối với phần đất có diện tích 6.966,1m
2
đất nuôi trồng thủy sản,
tại thửa đất số 685, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất ấp A, xã P, tỉnh Mau
hiệu.
4
- Buộc bà Trần Mỹ Điền thanh T cho ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thị Đ1 số
tiền là 370.316.515 đồng, trong đó số tiền chuyển nhượng đất 290.000.000 đồng
và tiền bồi thường thiệt hại là 80.316.515 đồng.
- Buộc ông Văn V Nguyễn Thị Đ1 cùng trách nhiệm trả cho
Trần Mỹ Đ anh Phan Nhựt D phần đất diện tích 6.966,1m
2
, tại thửa đất số 685,
tờ bản đồ số 10 và trgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Phan Nhựt D đứng tên.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thanh toán, án pquyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, Nguyễn Thị Đ1 ông Lê Văn V, là bị đơn
kháng cáo cùng nội dung: Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng (quyền sử dụng) đất giữa vợ chồng ông với bà Trần MĐ, phần đất có diện
tích 6.966,1m
2
, tại thửa số 685, tờ bản đồ số 10, đất toạ lạc tại ấp A, P, tỉnh
Mau. Trong trường hợp Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu, buộc ông bà trả lại đất, thì
yêu cầu bà Đ phải hoàn trả giá trị đất theo giá thị trường tại thời điểm hiện tại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn Trần Mỹ Đ trình bày: Không đồng ý với kháng cáo của bị
đơn. do Phan Nhựt D muốn giữ lại phần đất; Đ nhận thấy lỗi với b
đơn, bà Đ muốn chuộc lại phần đất với giá 95.000.000đ/01 công.
- Bị đơn trình bày: Yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng tiếp tục thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Căn cứ kháng cáo: bị đơn nhận sang đất
của nguyên đơn theo giá thị trường 2.000.000đ/m
2
, tương đương 62.000.000đ/01
công, tổng giá trị đất bằng 328.600.000đ, bị đơn đã giao gần 90% số tiền, còn lại
38.600.000đ khi nào chuyển sang tên bị đơn thì sẽ giao đủ tiền, bị đơn đã nhận đất
từ năm 2021 cải tạo đất, ban bờ để nhập chung vào phần đất của bị đơn; Phan
Nhựt D biết việc bị đơn sang đất vì khi đến Ủy ban nhân dân xã làm thủ tục chuyển
tên sang bà Đ1, ông V thì cán bộ nói do ông Đ2 chết nên D đứng tên sau đó chuyển
tên từ D sang tên bị đơn, cho nên Giấy chứng nhận D đứng tên, sau đó bị đơn liên
lạc kêu D về ký để sang tên cho bị đơn thì D trả lời bận học nên không về.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định
của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ1 ông Văn V nộp trong thời
hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
5
[2] Xét kháng cáo của bị đơn
[2.1] Liên quan đến tranh chấp là phần đất có diện tích 6.966,1m
2
thuộc thửa
số 685, tờ bản đồ số 10, tọa lạc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp A, xã
P, tỉnh Cà Mau) do Phan Nhựt D đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp
ngày 21/02/2024. Trước khi sang tên cho anh D thì ông Phan Văn Đ2 (là cha D)
đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận). Ông Đ2 chết ngày
21/4/2021.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đ trình bày là không sang bán đất cho bị đơn mà
chỉ cố đất, cho nên bà Đ yêu cầu chuộc lại đất.
Qua xem xét tài liệu hồ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên
đơn, bị đơn đều xác nhận: Ngày 30/12/2021, bà Trần Mỹ Đ cố cho vợ chồng ông
Văn V, bà Nguyễn Thị Đ1 toàn bộ phần đất, giá 220.000.000đ, thời hạn cố 03 năm;
ông V bà Đ1 giao đủ tiền và nhận đất canh tác. Đến ngày 24/10/2023, hai bên thỏa
thuận sang nhượng phần đất giá 328.600.000đ (2.000.000đ/m
2
), bà Đ1 ông V thanh
toán cho bà Đ 290.000.000đ; toàn bộ hồ sơ tại cấp sơ thẩm (đơn khởi kiện, biên bản
ghi lời khai, biên bản hòa giải, biên bản phiên tòa, bản án sơ thẩm…) bà Đ đều xác
nhận có việc sang nhượng đất và tại Giấy tạm ứng lập ngày 24/10/2023 (âm lịch)
nội dung: Tôi Trần Mỹ Đ nhận của chế Nguyễn Thị Đ1 số tiền 50.000.000đ từ
tiền sang đất cho chế Điện. Trước đó tôi có nhận 220.000.000đ. Vậy tính cả hai lần
tôi nhận 270.000.000đ…, đến ngày 29/12/2023 nhận 20.000.000đ. Do đó, nguyên
đơn và bị đơn thực hiện giao dịch sang nhượng quyền sử dụng đất là thực tế có xảy
ra.
[2.2] Xét về hình thức của hợp đồng sang nhượng: sang nhượng quyền sử
dụng đất được Đ ông V, Đ1 xác lập bằng “Giấy tạm ứng” lập ngày
23/10/2023 (âm lịch), Giấy tạm ứng thể hiện đầy đủ thỏa thuận về sang nhượng giữa
hai bên nhưng không có công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều
129 Bộ luật dân sự: giao dịch dân sự vi phạm điều kiện có hiệu lực về hình thức thì
hiệu, trừ trường hợp: 1/ Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải
bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định một bên hoặc các bên thực
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu công nhận hợp
đồng thì Tòa án ra quyết định công nhận hợp đồng đó; 2/ Giao dịch dân sự đã được
xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực
mà một bên hoặc các bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì
theo yêu cầu công nhận hợp đồng thì Tòa án ra quyết định công nhận hợp đồng đó.
Đối chiếu quy định tại Điều 129, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn hơn
2/3 giá trị của hợp đồng; do đó, không bị vô hiệu vì không đảm bảo về hình thức.
[2.3] Xét về nội dung hợp đồng: do nguyên đơn không đồng ý tiếp tục thực
hiện hợp đồng sang nhượng phần đất cho bị đơn con của nguyên đơn (anh Phan
Nhựt D) muốn giữ lại đất
[2.3.1] Qua ý kiến của nguyên đơn yêu cầu của bị đơn, Hội đồng xét x
xem xét:
6
Trần Mỹ Đ ông Phan Văn Đ2 vợ chồng, ông Đ2 chết năm 2021, phần
đất diện tích 6.966,1m
2
tài sản chung của vchồng, bà Đ quyền định đoạt
phần đất, việc này đã được Đ xác nhận tại phiên tòa phúc thẩm. Quyền sử dụng
đất là tài sản chung, cho nên ½ diện tích đất thuộc về bà Đ; bà Đ trình bày, ông Đ2
chết không đlại di chúc về việc phân chia di sản, vậy, ½ diện tích đất của ông
Đ2 được chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ2 là bà Đ hai người con chung
anh Phan Nhựt D cháu Phan Ái V1, sinh năm 2012; như vậy, trong diện tích
đất 6.966,1m
2
thì Đ được quyền định đoạt gần 4.644m
2
; chỉ do ông Đ2 đứng
tên, Đ không được quyền sang bán không phù hợp, bởi lẽ, ông Đ2 chết, bà Đ
nuôi hai con. Tại đơn khởi kiện, bà Đ u, sau khi chồng chết, vì cần tiền lo cho con
ăn học nên bà cố đất, sau đó sang bán cho bị đơn.
[2.3.2] Xét vmục đích sử dụng tiền sang đất, theo bà Đ xác nhận vì cần tiền
lo cuộc sống lo chi phí học đại học của anh D nên Đ bán phần đất; tại bản tự
khai (bút lục 51) anh D trình bày: “… từ nhỏ đến nay tôi đi học, không canh tác; cha
mẹ tôi trực tiếp canh tác, trên danh nghĩa tôi là người hưởng thừa kế, nhưng mẹ tôi
mới người quản lý, sử dụng để kiếm tiền nuôi tôi ăn học…”; như vậy, tiền sang
nhượng phục vụ cho mục đích chung của gia đình; anh D cũng biết việc này. Tại
phiên tòa phúc thẩm, bị đơn trình bày: Đ1 đến Ủy ban nhân dân xã L thủ tục sang
tên cho ông V bà Đ1, cán bộ địa chính hướng dẫn phải làm thủ tục cho anh D đứng
tên trước rồi sau đó chuyển tên sang cho ông V Đ1, sau khi anh D đứng tên thì
Đ1u anh D về ký tên để làm thủ tục chuyển tên cho vợ chồng ông V thì D nói
bận học nên không về, cho nên bà Đ giao Giấy chứng nhận do anh D đứng tên cho
Đ1 giữ, nội dung trình bày của bị đơn được bà Đ thừa nhận là có sự thật.
[2.3.3] Về giá trị đã thanh toán: Đ xác nhận giá đất tại thời điểm hai bên
giao dịch là phù hợp với giá thị trường. Vợ chồng ông V đã giao tiền sang nhượng
gần 90% giá trị, chỉ còn lại 38.600.000đ, hai bên thỏa thuận khi nào nguyên đơn làm
thủ tục cho bị đơn đứng tên Giấy chứng nhận thì bị đơn giao đủ tiền; trên thực tế, b
đơn đã nhận đất từ năm 2021, cải tạo, bồi đắp lên phần đất, ban bờ để nhập chung
vào phần đất của bị đơn quản lý, sử dụng ổn định đến nay (chính tại đơn khởi
kiện, Đ xác nhận phần đất không còn như hiện trạng ban đầu, cho nên đơn kiện
Đ yêu cầu bị đơn phải khôi phục phần đất lại như tình trạng ban đầu).
[2.3.4] V việc anh Phan Nhựt D đứng tên Giấy chứng nhận cấp ngày
21/02/2024: Đ anh D lập thủ tục phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất
do ông Đ2 đứng tên, Đ giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho anh Phan Nhựt D
đứng tên Giấy chứng nhận không phù hợp, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị
đơn; bởi vì bà Đ đã sang bán cho bị đơn và nhận gần đủ tiền sang nhượng.
[2.3.5] Xét về hình thức và nội dung của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa Đ với ông V Đ1 đảm bảo theo quy định Điều 129 Bộ luật dân
sự. Hơn nữa, nội dung các tình tiết trong vụ án này tương tự như các tình tiết sự kiện
pháp trong Án lệ số 04/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trong vụ án này, đất của vợ chồng bà Đ ông Đ2, do ông Đ2 chết nên bà Đ và anh D
có quyền quyết định, nhưng chỉ có bà Đ ký tên giao dịch và bà Đ đã nhận gần 90%
số tiền, mục đích sử dụng là lo cho gia đình và việc học tập của anh D. Tại bản khai
7
thì anh D trình bày là giao cho mẹ quyết định toàn bộ về phần đất. Vì vậy, có cơ sở
xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Đ với bà Đ1 ông V
có hiệu lực, buộc bà Đ tiếp tục thực hiện hợp đồng.
[3] Tại cấp phúc thẩm, có phát sinh tình tiết mới; do đó, chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, sửa bản án dân sự thẩm số: 28/2026/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau.
[4] Tại phiên tòa, Viện kiểm sát đề nghị y án thẩm, tuy nhiên, Hội đồng xét
xử sửa bản án sơ thẩm với những nội dung nhận định trên.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm đương sự không phải chịu.
[6] Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực kể
từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị Đ1 ông Văn V; sửa bản án
dân sự sơ thẩm số: 28/2026/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2026 ca Tòa án nhân dân
khu vực 9 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Trần Mỹ Đ về yêu cầu buộc
vợ chồng ông Văn V, Nguyễn Thị Đ1 phải khôi phục lại tình trạng ban đầu
của thửa đất.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ Đ về việc
yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Đ với ông
Lê Văn V, bà Nguyễn Thị Đ1 là vô hiệu.
Buộc tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Trần Mỹ Đ với ông Văn V, Nguyễn Thị Đ1 xác lập bằng Giấy cố đất vào ngày
30/12/2021 Giấy tạm ứng vào ngày 24/10/2023 (âm lịch) đối với phần đất diện
tích 6.966,1m
2
đất nuôi trồng thủy sản, tại thửa đất số 685, tờ bản đồ số 10, tọa lạc
ấp A, P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp A, xã P, tỉnh Mau) do Phan Nhựt
D đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 504317 cấp ngày 21/02/2024.
Ông Văn V Nguyễn Thị Đ1 quyền liên hệ với quan thẩm
quyền để thực hiện việc chuyển tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định pháp luật.
3. Về án phí
8
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Mỹ Đ phải chịu 300.000 đồng. Trần Mỹ
Đ đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai số 0002762 ngày
21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Văn V, Nguyễn Thị Đ1 không phải
chịu; ông V người cao tuổi được miễn, bà Nguyễn Thị Đ1 đã nộp tạm ứng 300.000
đồng theo Biên lai s0003277 ngày 31/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Mau,
được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 9 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT (TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thị Hiền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất