Bản án số 186/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 186/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 186/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 186/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu K - Nguyễn Văn Đ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 186/2026/DS-PT Bản án số 186/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 186/2026/DS-PT Bản án số 186/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 186/2026/DS-PT
Ngày 30-6-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu,
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
huỷ di chúc, chia di sản thừa kế.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Bích Diệp và bà Đoàn Thị Hương Nhu.
- Thư phiên toà: Ông Phạm Quang Bảo - Thư Toà án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đi din Viện Kim sát nhân dân thành ph Hải Phòng tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2026/TLPT-DS, ngày 14 tháng 5
năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu, huỷ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, huỷ di chúc, chia di sản thừa kế,
Do bản án dân sự thẩm số 20/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 10 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 154/2026/QĐXXPT-
DS ngày 01 tháng 6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 258/2026/QĐPT-
DS ngày 15 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Kiên, sinh năm 1976; Căn cước công
dân số: ************ ; địa chỉ: Tổ dân phố Khuê Bích, phường Trần Liễu, thành
phố Hải Phòng; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Độ, sinh năm 1973; Căn cước công dân số:
************ và Nguyễn Thị Ngạ, sinh năm 1974; Căn cước công dân số:
************; cùng địa chỉ: Thôn 2, xã Iaphí, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Ông Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn Kim Môn, xã
Chư A Thai, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
3.2. Ông Nguyễn Văn Đồng, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Bánh, sinh
năm 1962; cùng địa chỉ: Tổ dân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải
Phòng; vắng mặt.
3.3. Nguyễn Thị Huy, sinh năm 1955, địa chỉ: Tổ dân phố An,
phường Phạm Sư Mệnh, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đồng, Huy: Anh Nguyễn Văn
Dũng, sinh năm 1983, có mặt; địa chỉ: 546 Trần Hưng Đạo, phường Hải Dương,
thành phố Hải Phòng, mặt; anh Cao Trung Kiên, sinh năm 1990; cùng địa
chỉ: 546 Trần Hưng Đạo, phường Hải Dương, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
anh Vương Quốc Nam, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Chi Thành, Mao Điền,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.4. Ông Trần Văn Hạnh, sinh năm 1976 Nguyễn Thị Thuỳ, sinh năm
1980; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Khuê Bích, phường Trần Liễu, thành phố Hải
Phòng; ông Hạnh có mặt, bà Thùy vắng mặt.
3.5. Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1950; địa chỉ: Số nhà 16 Phạm Thị Trân,
phường Thành Đông, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.6. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng;
địa chỉ: Tổ dân phố Lá Xá, Phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Kiên, mặt; người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Hạnh, có mặt; chị Nguyễn Thị Thuỳ,
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn anh Nguyễn Hữu Kiên trình bày:
Anh anh Trần Văn Hạnh, sinh năm 1976 vợ Nguyễn Thị Thùy, sinh
năm 1980 quan hệ bạn quen biết với nhau. Vào khoảng năm 2007 các anh
cùng mua chung một thửa đất của vợ chồng anh Nguyễn Văn Độ, sinh năm 1973
chNguyễn Thị Ngạ, sinh năm 1974 (đều địa chỉ tại: thôn 2, Iaka; huyện Chư
Pah, tỉnh Gia Lai) diện tích 219m
2
số thửa 44 tờ bản đồ 03 địa chỉ tại thôn La Xá,
Thượng Quận, thị Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Hai bên thỏa thuận giá
chuyển nhượng 120.000.000 đồng. Vào ngày 15-4-2007 anh và anh Hạnh đến
gia đình anh Độ, chị Ngđể mua đất. Tại gia đình anh Độ, hai bên làm giy
bán đất tài sản gắn liền với đất. Anh Độ người trực tiếp viết giấy. Tại buổi
hôm đó mặt anh Trần Văn Hạnh, anh Độ và người làm chng anh Nguyễn
Văn Hùy (địa chỉ: thôn Khuê Bích, xã Thượng Quận, thị Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương). Sau khi làm giấy bán đất xong anh và anh Hạnh đã giao đủ cho anh Độ,
chNgsố tiền 120.000.000 đồng và thỏa thuận các anh trách nhiệm làm thủ
tục sang nhượng quyền sử dụng đất. Anh Độ và chị Ngạ đã giao cho các anh bn
gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản gốc di chúc của cụ Nguyễn Thị Hảo.
3
Anh Độ, chNgcũng đã ra chỉ giao đất cho các anh. Giấy chuyển nhượng đt
chưa được công chứng hay chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Sau đó anh xác định lại Giấy nhận tiền ngày 04-12-2007 do anh Độ và chị
Nggửi cho các anh tmiền nam ra, chữ ký và chviết trong giấy nhận tiền có
phải của anh Độ, chị Ngạ không các anh không biết. Do cũng chưa có nhu cầu s
dụng nên từ khi mua xong các anh vẫn để thửa đất đó.
Trong số tiền 120.000.000 đồng để mua đất anh Kiên bra 80.000.000
đồng, vợ chồng anh Hạnh bỏ ra 40.000.000 đồng. Các anh thỏa thuận miệng vi
nhau thửa đất sau khi mua xong schia làm 2 phần. Anh sdụng 2/3 diện tích
đất, anh Hạnh,chị Thùy sdụng 1/3 thửa đất. Đến khoảng năm 2012 vchng
anh Hạnh, chị Thùy nhu cầu sử dụng thửa đất nhưng ông Đồng, Bánh gi
không cho sử dụng.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: anh Nguyễn Văn Độ chị Nguyễn Thị
Ngphải trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất tài sản gắn liền với đất ngày 15-4-2007. Đề nghị Tòa án công nhn
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-4-2007 có hiệu lực.
Quan điểm của nguyên đơn đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan: Ông Đồng, bà Huy yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cấp cho anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn Thị Ngạ anh chị không đồng
ý thửa đất này đã được chuyển nhượng hợp pháp cho các anh nhiều năm nay
không ai ý kiến về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Không đồng
ý đối với yêu cầu phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 219m
2
số thửa 44 tờ bản đ03 địa chỉ tại thôn La Xá, Thượng Quận, thKinh Môn,
tỉnh Hải Dương (nay là tdân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải
Phòng). Tại thời điểm anh anh Hạnh mua đất hoàn toàn không biết việc gia
đình anh Độ đang tranh chấp về đất đai. Đến năm 2012 thì mới xảy ra tranh
chấp với vợ chồng ông Đồng, bà Bánh.
Nếu trường hợp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất vô hiệu thì
đề nghTòa án giải quyết hậu qucủa hợp đồng hiệu. Anh Độ, chị Ngphi
trách nhiệm trả cho các anh toàn bộ số tiền đã nhận là 120.000.000 đồng bồi
thường thiệt hại theo giá trị đất hiện tại.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn Thị Ngạ trình bày: Vợ chồng anh
có quyền sử dụng diện tích đất 219m
2
thửa số 44 tờ bản đồ số 03 địa chỉ tại thôn
La Xá, Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay là tổ dân phLa
Xá, Phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng). Nguồn gốc diện tích đất này là do
vợ chồng anh được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ cụ Nguyễn Văn Cán
Nguyễn Thị Hảo. Vợ chồng anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ngày 10-10-2001. Cụ Nguyễn Văn Cán đã chết thời gian lâu rồi, anh không biết
cụ ththời gian nào, n cụ Hảo chết năm 2004. Bmẹ anh 04 người con:
Nguyễn Thị Huy (con riêng của cụ Hảo), Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Đồng,
Nguyễn Văn Độ. Vào năm 2007 vợ chồng anh đã chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho anh Kiên, anh Hnh với giá 120.000.000 đồng làm giấy bán đt
viết tay với nhau vào ngày 15-4-2007. Chị Nguyễn Thị Ngngười viết giấy bán
4
đất. Việc thỏa thuận bán đất giữa hai bên tại nhà anh chị, không có ai chứng kiến.
Anh chị không biết nội dung người chứng kiến chữ anh “Nguyễn Hùy”
ai. Giấy bán đất không được công chứng, chứng thực tại quan nhà ớc
thẩm quyền. do tại thời điểm đó đất tranh chấp nên không ra quan nhà
ớc thẩm quyền để làm thủ tục chuyển nhượng được. Anh chị đã nói nhưng
anh Kiên và anh Hạnh vẫn đồng ý mua. Thời điểm đó đã được Ủy ban nhân dân
mời lên để giải quyết tranh chấp. Anh chị đã giao cho anh Kiên, anh Hạnh bản
gốc giấy chứng nhận quyền sdụng đất bản gốc di chúc của cụ Hảo. Tuy nhiên
anh Kiên và anh Hạnh chưa giao tiền cho anh chị. do anh chị bàn giao giấy tờ
gốc cho anh Kiên, anh Hạnh là để có cơ sở giải quyết tranh chấp còn thực tế anh
chchưa nhận tiền chưa bàn giao đất. Sau đó vchồng anh chị đi vào miền nam
làm ăn sinh sống để cho anh Kiên, anh Hạnh ở nhà giải quyết tranh chấp khi nào
xong rồi sẽ thực hiện giao dịch tiếp.
Sau khi xem nội dung trả lời phúc đáp công văn s 06/CV-UBND
Thượng Quận, Kinh Môn, Hải Dương ngày 15-8-2012 anh chị xác định nội dung
chcủa vợ chồng anh. Còn nội dung anh chị không được đọc, ngưi
mang cho anh chnên không đọc kỹ không xem. Do thời gian quá lâu ri
nên anh chị không nhớ ai là người đưa cho anh chị ký.
Đối với yêu cầu của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Độ quan
điểm: Diện tích đất 219m
2
thửa số 44 tbản đồ số 03 địa chỉ tại thôn La Xá, xã
Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay t dân phố La Xá,
Phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng) có nguồn gốc của bố mẹ anh để lại.
Năm 2000 Nguyễn Thị Hảo (mẹ anh Độ) làm di chúc đlại cho vợ chồng
anh toàn quyền sử dụng diện tích đất thổ cư 219m
2
. Khi cụ Hảo làm di chúc sự
chứng kiến của ông Nguyễn Trọng Khoản và chứng thực của Ủy ban nhân dân xã
Thượng Quận, huyện Kinh Môn. Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, anh em trong gia đình đều biết nhưng không ai có ý kiến gì. Nay ông
Đồng, Huy yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chia di sản thừa
kế anh không đồng ý. Anh chị xác định lại thửa đất trên đã được chuyển nhượng
cho anh Kiên anh Hạnh nhận đủ số tiền 120.000.000 đồng. Anh chị đnghị
Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh đồng ý tiếp tục thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Hạnh, chị Nguyễn
Thị Thùy trình bày: Về quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh
Độ, chị Ngạ đúng nnguyên đơn anh Nguyễn Hữu Kiên trình bày. Anh chnht
trí quan điểm giải quyết vụ án như anh Kiên đã trình bày.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn
Thị Bánh trình bày:
Ông anh ruột của anh Nguyễn Văn Độ. Bố mẹ ông cụ Nguyễn Văn
Cán (chết năm 1976) Hoàng Thị Hảo (chết năm 2004). Bố mẹ ông sinh được
3 người con gồm: Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Văn Độ. Cụ
Hảo 01 người con riêng Nguyễn Thị Huy. Cụ Hảo cụ Cán không người
con nuôi, con riêng nào khác.
5
Diện tích đất 219 m
2
thửa số 44 tbản đồ số 3 địa chỉ tại thôn La Xá,
Thượng Quận, thị Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nguồn gốc của cụ Cán và cụ
Hảo. Trước khi cụ Hảo chết vợ chng ông Độ, Ngsinh sống cùng cụ Hảo. Từ
khi cụ Cán chết anh em trong gia đình vẫn thống nhất để cho cụ Hảo sdụng. Sau
khi cụ Hảo chết vợ chồng ông Độ một thời gian rồi vào miền nam sinh sống. Từ
khi cụ Hảo chết ông vẫn là người quản thửa đất này. Ông Độ, Nglàm
thtục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi nào ông không biết. Bố mẹ
ông cũng không làm thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông
Độ, Ng. Từ năm 2007 đến nay vợ chồng ông vẫn là người quản lý, đóng thuế
sử dụng đất đối với nhà nước. Ông không đồng ý cho anh Độ bán đất nhưng anh
chvẫn bán bán khi nào ông không biết. Năm 2005 anh em trong gia đình đã
có sự tranh chấp đất được hòa giải tại địa phương nhưng không thành. Năm 2008
anh Kiên yêu cầu vợ chồng ông bà giao đất nhưng ông không đồng ý.
Nay ông yêu cầu Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa anh Nguyễn Hữu Kiên, anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn Thị
Nglập ngày 15-4-2007 giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu, áp dụng
thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất; hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Kinh
Môn, tỉnh Hải Dương cấp ngày 10-10-2001 cho anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn
ThNgạ; phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 219m
2
thửa số
44 tờ bản đồ số 3 địa chỉ tại thôn La Xá, xã Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh
Hải Dương (nay tdân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng)
theo quy định của pháp luật. Đối với phần diện tích tăng thêm 8,9m
2
ông không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Yêu cầu hủy di chúc của cụ Nguyễn Thị Hảo viết ngày 11-5-2000. di
chúc không hợp pháp do tại buổi lập di chúc không có sự chứng kiến của anh em
trong gia đình, cụ Hảo không biết chữ, đọc kém. Ông xác định chữ trong di
chúc không phải của cụ Hảo.
Quan điểm của ông về việc phân chia di sản thừa kế như sau: ông đề nghị
chia di sản cho 4 anh chị em. Đối với ½ diện tích đất là di sản của cụ Nguyễn Văn
Cán tính đến thời điểm yêu cầu phân chia di sản đã quá 30 năm hết thời hiệu
theo quy định nên đề nghTòa án giao ½ diện tích đất di sản của cụ Cán cho
ông được quyền sử dụng; ½ diện tích đất còn lại di sản của cụ Hảo phân chia
cho các hàng thừa kế theo quy định có tính công sức của vợ chng ông. Yêu cầu
tính công sức duy trì tài sản bằng 1 suất của kỷ phần thừa kế. Đối với ngôi nhà
xây gạch pabanh mái ngói diện tích 21,9m
2
tài sản của vợ chồng ông làm
năm 2017. Ông bà xác định là di sản của cụ Hảo là có sự nhầm lẫn.
Bánh đồng ý với quan điểm của ông Đồng đề nghị Tòa án xem xét
giải quyết theo quy định đảm bảo quyền lợi cho ông bà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Huy trình bày:
là con riêng của cụ Hảo. Anh Độ ở cùng với bố mẹ đến khi cụ Hảo qua
đời một thời gian. không biết việc anh Độ được cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất và bán đất của cụ Hảo thế nào. Bà không ý kiến gì vviệc này, việc
6
tranh chấp đất đai để cho ông Đồng, ông Thành và anh Đtự giải quyết với nhau.
Tòa án cho xem bản pho to đơn đề nghị đề ngày 02-02-2007 xác định không
phải chữ ký của bà. Sau đó bà thay đổi quan điểm, đồng ý và đề nghị Tòa án chấp
nhận toàn bộ yêu cầu của ông Đồng, Bánh. Phần di sản được hưởng tự
nguyện cho ông Đồng.
Ngưi có quyn lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyn Văn Thành trình bày: Về
quan hệ huyết thống như bị đơn trình bày. Năm 1997 ông cùng vợ vào xã Chư A
Thai, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (cũ) nay là xã Chư A Thai, tỉnh Gia Lai sinh
sống. Thời gian này ông Nguyễn Văn Độ ở chung cùng cụ Hảo đến năm 2004 cụ
chết. Tài sản của cụ Hảo có quyền sử dụng đất thửa số 44 tbản đồ số 3 diện tích
khoảng 210m
2
tại thôn La Xá, Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương. Về việc giải quyết vụ án, ông nhất trí quan điểm như của ông Đồng,
Bánh đã trình bày.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
Trần Liễu trình bày: Về thửa đất số 44 tờ bản đồ số 03 diện tích 219m
2
địa chỉ tại
thôn La Xá, xã Thượng Quận, huyện Kinh n, tỉnh Hải Dương (nay tổ dân
phLa Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng) đã được quan thm
quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001. Trước khi cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đt Ủy ban nhân dân Thượng Quận đã ra thông báo
tự kiểm tra đất thổ cư của các hộ gia đình cá nhân, sau đó hđã được xét duyệt
công khai theo quy định, trong thời gian công khai không có ý kiến, khiếu nại hay
tranh chấp phát sinh. Căn cĐiều 24 Luật đất đai năm 1993 xác định Ủy ban nhân
n huyện Kinh Môn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyn
Văn Độ, chị Nguyễn Thị Ngđúng trình tự thtục thẩm quyền. Sau khi đưc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2001 chủ sử dụng đất có lập giấy tờ viết
tay chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hữu Kiên nhưng chưa được thực hiện thủ tục
đăng biến động tại cơ quan đăng đất đai theo quy đnh. Do đó trên hồ địa
chính hiện nay người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn là chủ sử
dụng ban đầu được cấp năm 2001.
Đối với bản di chúc ngày 11-5-2000 của cụ Nguyễn Thị Hảo, Ủy ban nhân
dân phường Trần Liễu xác định: Mặc văn bản tên “Bản di chúc” nhưng
nội dung thể hiện việc ủy quyền sử dụng đất. Do vậy đối với yêu cầu của ông
Nguyễn Văn Đồng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân Thượng Quận, thị xã Kinh
Môn, tỉnh Hải Dương (nay là phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng) xác định:
Trong sổ lưu trữ ti Ủy ban nhân dân Thượng Quận không thông tin đăng
khai tử của ông Nguyễn Văn Cán (do ssách khai ttại địa phương còn lưu
trữ thông tin khai tử từ năm 1992 đến nay).
Đối với quyền sử dụng đt Thửa số 44 tbản đồ số 3 diện tích 219m
2
địa
chthôn La Xá, Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay tổ
dân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng) hiện nay mang tên anh
Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn Thị Ngđã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 10-10-2001.
7
Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay địa phương còn
lưu giữ đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Văn Đ,
Thông báo tkiểm tra hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Hiện
nay thửa đất này vẫn do ông Nguyễn Văn Đồng Nguyễn Thị Bánh ngưi
quản nhưng không sử dụng. Từ năm 2007 đến nay ông Đồng bà Bánh là ngưi
nộp thuế sử dụng đất.
Về nguồn gốc thửa đất: Theo sổ quản lý đất đai tại địa phương còn lưu tr
thhiện: Năm 1986 tại số tht47 ghi tên chủ sử dụng đất ông Cáng, diện ch
là 180m
2
. Năm 1990 thhiện số tht44 ghi tên chủ sử dụng là cụ Hảo diện tích
210m
2
. Năm 2001 diện tích đất của cụ Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị Ng. Thời điểm cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Hảo vẫn sinh sống cùng vchồng anh Độ, chị
Ng. Phần diện tích tăng thêm 8,9m
2
đất trồng cây lâu năm. Diện tích tăng
lên so với với giấy chứng nhận quyển sử dụng đất đã được cấp được xác định
do sai số trong công tác đo đạc, và tính toán diện tích qua các thời kỳ, không phải
lấn chiếm hay mở rộng ranh giới sử dụng đất.
Tại biên bản xem xét thẩm định, định giá tài sản ngày 09-8-2025 thể hin:
Diện tích quyền sử dụng đất theo hiện trạng là 227,9m
2
.
Tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4, xây gạch pabanh mái ngói diện tích 21,9m
2
do cụ Hoàng Thị Hảo xây dựng, giá trị còn lại là 10.058.000 đồng; 01 lán tôn xi
Fibroximăng của ông Đồng bà Bánh sửa chữa lại diện tích 33,6m
2
giá trị còn
lại 5.147.000 đồng; 01 đoạn tường giáp đường HD 06 xây bằng gạch pabanh
do ông Đồng, bà Bánh làm, kích thước (1,6x 4,1)m giá trị còn lại 594.000
đồng; 01 đoạn tường giáp đường xóm xây gạch pabanh do ông Đồng Bánh làm
kích thước (8,53x 1,8)m giá trcòn lại 1.391.000 đồng; 01 cánh cổng làm
bằng sắt kích thước (1,4 x1,8)m giá trị còn lại là 1.354.000 đồng; 01 trụ cổng có
kích thước (0,3x 0,6x1,8)m do ông Đồng, Bánh, giá trị còn lại 208.000 đồng;
Tổng giá trị tài sản trên đất là 18.752.000 đồng;
Tài sản quyền sử dụng đất: Thửa s44 tờ bản đồ số 3 thuộc bản đđịa
chính Thượng Quận, thị Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay phường Trần
Liễu, thành phố Hải Phòng) thuộc vị trí 1 đường DH 06 giá đất 28.500.000
đồng/m
2
. Đất trồng cây lâu năm trong cùng thửa số 44 tờ bản đsố 3 giá
7.400.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 2094/KL-KTHS ngày 21-8-2025 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng thể hin:
- Chviết trên mẫu cần giám định Giấy nhận tiền ngày 05-12-2007 (ký
hiệu A) trừ dòng thứ 5 mặt sau so với chữ viết mang tên Nguyễn Thị Ngtrên các
mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M9 đều do cùng một người viết ra.
- Chviết tại dòng chữ viết thứ 5 của mặt sau trên mẫu cần giám định (ký
hiệu A) so với chviết mang tên Nguyễn Văn Độ trên các mẫu so sánh ký hiệu từ
M1 đến M4 và từ M10 đến M16 do cùng một người viết ra.
8
Tại Bản án thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 30/3/2026 Toà án nhân dân
khu vực 10 - Hải Phòng đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Kiên về việc công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này 15-4-2007 giữa anh Kiên,
anh Hạnh và anh Độ, chị Ngạ có hiệu lực.
2. Công nhận 1 phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-
4-2007 hiệu lực. Xác định anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn Thị Ngạ có quyền
sử dụng diện tích 136,7m
2
(trong đó: 127,8m
2
đất ở; 8,9m
2
đất vườn) thửa số 44
tờ bản đồ số 3 địa chỉ tại thôn La Xá, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương (nay tổ dân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng)
đã
chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hữu Kiên, anh Trần Văn Hạnh, chị Nguyễn Thị
Thùy theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-4-2007 (có sơ đồ kèm
theo).
3.Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 15-4-2007
vô hiệu một phần.
4. Về hậu quả của hợp đồng hiệu: Buc anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn
ThNgphi trả cho anh Nguyễn Hữu Kiên, anh Trần Văn Hạnh, chị Nguyễn Thị
Thùy số tiền mua đất là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng và bồi tờng thiệt hại
là 1.530.375.000 (một tỷ năm trăm ba mươi triệu ba trăm bảy mươi lăm) đồng.
Anh Nguyễn Hữu Kiên, anh Trần Văn Hạnh, chị Nguyễn Thị Thu phải trả
lại cho anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn Thị Ngbản gốc giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho anh chị ngày 10-10-2001.
5. Hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Kinh
Môn, tỉnh Hải Dương cấp cho anh Nguyễn Văn Độ, chị Nguyễn Thị Ngsố 154
ngày 10-10-2001.
6. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn
Thị Huy về việc hủy 01 phần văn bản di chúc của cNguyễn Thị Hảo đngày 11-
5-2000.
7. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đồng,
Nguyễn Thị Huy về phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Cán, Nguyễn
Thị Hảo quyền sdụng diện tích 227,9m
2
(theo hiện trạng) thửa s44 tbản
đồ số 3 địa chỉ tại thôn La Xá, Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
(nay là tổ dân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng).
8. Xác định ông Nguyễn Văn Đồng được quyền sdụng 91,2 m
2
đất =
2.599.200.000 đồng trên đất có tài sản 01 nhà cấp 4, 01 lán tôn, 01 tường bao (
sơ đồ kèm theo).
9. Anh Kiên, anh Hạnh chị Thùy phải nghĩa vụ trcho ông Nguyễn
Văn Đồng, Nguyễn Thị Bánh 200.000.000 đồng công sức duy trì tài sản và
2.156.000 đồng giá trị tài sản trên đất.
9
10. Ông Nguyễn Văn Đồng, bà Nguyễn Thị Bánh phải có nghĩa vụ tháo dỡ
phần mái tôn diện tích 20m
2
đua sang phần đất thuộc quyền sử dụng của anh Độ,
chNgạ đã chuyển nhượng cho anh Kiên, anh Hạnh, chị Thuỳ.
Ngoài ra bản án có tun vchi phí tố tụng, án phí, quyn kháng o quyền
yêu cầu thi nh án ca đương sự.
Ngày 14/4/2026 nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh,
Nguyễn Thị Thùy kháng cáo, đnghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chập nhận yêu cầu của ông Đồng,
Huy.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Kiên, ông Hạnh vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu
cầu kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền của ông Đồng, bà Huy không chấp
nhận nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật Ttụng dân sự. Nguyên đơn, bđơn đã thực hiện đúng quyền
và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề
nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số
20/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng. Về
án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được xem
xét tại phiên tòa. Ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân
dân thành phố Hải Phòng đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Đương skháng cáo trong thời hạn quy định nên được
xem t giải quyết theo tnh t phúc thm; Tại phiên tòa một số đương sự đã
được toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của B
luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Xét kháng cáo ca các đương sự, XX xét thấy:
[2.1] V ngun gc tài sn tranh chp: Diện tích đất 219m
2
thửa số 44 tờ
bản đồ số 3 địa chtại thôn La Xá, Thượng Quận,huyện Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương (nay tổ dân phố Trần Liễu, thành phố Hải Phòng) của cụ Nguyễn Văn
Cán và Nguyễn Thị Hảo. Theo sổ quản lý đất đai tại địa phương còn lưu giữ thể
hiện: năm 1986 số thứ tự 47 ghi tên chủ sử dụng Cáng diện tích 180m
2
. Năm
1990 thể hiện số thứ tự 44 ghi tên chủ sử dụng Hảo diện tích 210m
2
. Tại thời
điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 cụ Nguyễn Văn Cán đã
chết. Theo Hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Độ, chị Ngạ
không thể hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Cán. Tnhững
đánh gtrên sở khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho anh Độ, chị Ngạ diện tích 219m
2
thửa số 44 tbản đồ số 3 địa chỉ tại thôn La
10
Xá, xã Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay là tổ dân phố Trần
Liễu, thành phố Hải Phòng) là không đúng về mặt nội dung.
[2.2] V ni dung, quan h giao dch quyn s dụng đất gia Ông Kiên,
ông Hnh, bà Thu và v chồng ông Đ, bà Ng: Theo li khai của các đương sự
và tài liu chng c trong h sơ v án th hin, ngày 15/4/2007 ông Nguyễn Hữu
Kiên vợ chồng ông Trần Văn Hạnh, Nguyễn Thị Thuỳ cùng mua chung một
thửa đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Thị Ngạ, diện tích 219m
2
số thửa 44 tờ bản đồ 03 địa chỉ tại thôn La Xá, xã Thượng Quận, thị Kinh Môn,
tỉnh Hải Dương. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng 120.000.000 đồng
đã thanh toán. Tại gia đình anh Độ, hai bên có làm giấy bán đất và tài sản gắn liền
với đất. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được công chứng hay
chứng thực tại quan nnước thẩm quyền. Sau khi thực hiện việc chuyển
nhượng hai bên vẫn chưa làm thủ tục đăng ký biến động thay đổi tên chủ sử dụng
đất trong GNCQSDĐ tại quan nhà nước thẩm quyền. Như vậy hình thức
hợp đồng chưa được thực hiện theo quy định tại Điều 689 của Bộ luật Dân sự năm
2005. Sau khi các bên giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông ông Kiên,
ông Hạnh, Thuỳ vẫn chưa thực hiện việc, chiếm hữu, quản lý, sử dụng thửa đất
được chuyển nhượng cho đến thời điểm hiện nay nên hợp đồng chưa đảm bảo tính
pháp lý.
[2.3] Tuy nhiên Toà án cấp thẩm đã tiến hành vic chia di sn tha kế
trong đó, xác đnh nội dung bản di chúc ngày 11-5-2000 thể hin “ủy quyền cho
con trai và con dâu tôi được quyền sử dụng toàn bộ tài sản, nhà cửa, công trình
trên mảnh đất thổ cư có diện tích 212m
2
như vậy là có sđể khẳng định bằng
văn bản này cụ Hảo đã định đoạt phn tài sản của mình cho ông Độ, bà Ngạ. Tuy
nhiên việc định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất là tài sản chung của cụ Cán và cụ
Hảo cho ông Độ, Ngkhi chưa chia di sản thừa kế của cụ Cán vượt quá
quyền của cụ Hảo. Do đó nội dung văn bản hiệu đối với phần tài sản của c
Cán, chỉ hiệu lực đối với ½ quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng đt của cụ
Hảo và và phần đất cụ được hưởng di sản của cụ Cán. Ông Độ, bà Ngạ có quyền
quản sdụng diện tích 136,7m
2
(trong đó: 127,8m
2
đất = 3.642.300.00 đồng;
8,9m
2
đất trồng cây lâu năm = 65.860.000 đồng.
[2.4] Hin nay quan điểm ca ông Kiên, ông Hnh, bà Thu và ông Đ, bà
Ng vn tiếp tc mun tiếp tc thc hin giao dch chuyển nhượng quyn s dng
đất nên giao dch chuyển nhượng quyn s dụng đất ngày 15-4-2007 có hiệu lực
đối với diện tích 136,7m
2
(trong đó: 127,8m
2
đất 8,9m
2
đất trồng cây lâu năm)
(là phần của ông Độ, Ngạ được cụ Hảo cho). Đối với diện tích 91,2m
2
là di sản
thừa kế của cụ Cán, các bên thực hiện việc giao dịch chuyển nhượng diện tích đất
này trái pháp luật, nên giao dịch chuyển nhượng quyền sdụng đất vô hiệu đối
với phần diện tích này. Vic Tán cấp thẩm xem xét đánh giá giao dch
chuyển nhượng quyn s dụng đất giữa hai bên trong đó xác đnh mt phn giao
dch dân s hiu và gii quyết hu qu ca hợp đồng hiệu căn cứ pháp
lut.
11
[2.5] Vic giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu: Phần có hiệu lực của hp
đồng việc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 136,7m
2
/219m
2
= 62,4% hợp đồng hiệu lực pháp luật 37,6% hợp đồng vô hiệu. Nên ông Độ,
Ngạ phải thanh toán cho bị đơn ông Kiên, ông Hạnh Thuỳ, số tin
120.000.000đ x 37,6% = 45.120.000đ. Về thiệt hại của hợp đồng: Giá trị phn
diện đất vô hiệu trong giao dịch là: (219 - 136,7) x 28.500.000 đồng/m
2
=
2.345.550.000đ, thiệt hại trong giao dịch = 2.345.550.00- 45.120.000đ =
2.300.430.000đ.
[2.6] Về lỗi của các bên: Ông Độ, Ngạ cùng xác định tại thời điểm bán
đất tranh chấp thể hiện bằng việc ông, chcung cấp được cho ông Kiên, ông
Hạnh đơn đề nghị của ông Thành đề ngày 26-3-2007, Huy đề ngày 02-02-2007
về việc cho anh Độ, chị Ngạ quyền sử dụng đất, không có ý kiến của ông Đồng.
Điều đó chứng tỏ trong nội bộ gia đình ông Độ chưa sự thống nhất. Ông Kiên,
ông Hạnh cho rằng mình không biết nội dung tranh chấp trong nội bộ gia đình,
tuy nhiên, khi các bên lập văn bản chuyển nhượng đất không thực hiện được thủ
tục xác nhận tại địa phương, không làm được thủ tục sang tên trong giấy chứng
nhận quyền sdụng đất việc không nhận được đất giao trên thực địa đất
chưa được chia thừa kế đã thể hiện việc ông Độ, ông Hạnh biết vviệc tranh
chấp trong gia đình ông Độ. Việc ông Độ, Ngạ, ông Kiên, ông Hạnh, bà Thùy
biết rõ quyền sử dụng đất tranh chấp vẫn thực hiện chuyển nhượng nhận
chuyển nhượng do vậy mỗi bên phải chịu 50% lỗi trong giao dịch vô hiệu. Do
vậy, ông Độ, Ngạ trách nhiệm trả cho ông Kiên, ông Hạnh, Thuỳ 50%
khoản tiền thiệt hại là: 2.300.430.000đ x 50% = 1.150.215.000đ. Việc Toà án cấp
sơ thẩm đã xác định đúng phần trách nhiệm bồi thường tuy nhiên do có tính toán
sai về số liệu nên HĐXX cần phải sửa lại một phần bản án sơ thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của đương sự về việc đề nghị không chấp nhận
yêu cầu của ông Đồng, Huy, HĐXX xét thấy: Về nguồn gốc thửa đất tranh
chấp là tài sản chung của cụ Cán, cụ Hảo, phần diện tích đất của cụ Hảo đã được
nhận định tại mục [2.3]. Đối vi phn di sn tha kế ca c Cán cn gii quyết
theo quy định ca pháp lut, c th:
[3.1] Về di sản thừa kế của cụ Cán: Diện tích 91,2m
2
đất tại một phần
thửa số 44 tờ bản đồ số 3 địa chỉ tại thôn La Xá, Thượng Quận, huyện Kinh
Môn, tỉnh Hải Dương (nay tổ dân phố Trần Liễu, thành phố Hải Phòng). Giá trị
di sản thừa kế là: 91,2m
2
x 28.500.000 đồng/m
2
= 2.599.200.000đ.
[3.2] Về những người được hưởng di sản thừa kế: Hàng thừa kế của cụ Cán
đến thời điểm hiện nay gồm: ông Nguyễn Văn Thành, ông Nguyễn Văn Đồng, bà
Nguyễn Thị Huy, ông Nguyễn Văn Độ, bà Nguyễn Thị Hà.
[3.3] Về thời hiệu chia di sản thừa kế: Các bên đương sự cùng thống nhất
xác định cụ Nguyễn Văn Cán chết ngày 21-11-1976. Như vậy đến thời điểm ngày
21/11/2006 đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế. Trước thời điểm xét xử thẩm
ông Đồng, bà Huy có yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu, căn cứ Điều 184 Bộ luật
Tố tụng Dân sự Toà án cấp thẩm xác định phần di sản của cụ Cán đã hết thời
hiệu khởi kiện. Phần di sản hết thời hiệu chia thừa kế thuộc về người đang quản
12
di sản đó. Toà án cấp thẩm xác định người quản di sản là ông Đồng
giao phần di sản đó cho ông Đồng quản lý, sdụng đúng theo quy định tại
khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự.
[4] Tại cấp phúc thẩm các đương s Ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần
Văn Hạnh và Nguyễn Thị Thuỳ không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu mới
để chứng minh yêu cầu kháng cáo căn cứ. HĐXX không căn cứ chấp
nhận toàn bộ kháng cáo của các đương sự. Tuy nhiên do sai sót trong việc
tính toán số liệu của cấp sơ thẩm nên HĐXX xét thấy cần phải sửa lại một phần
bản án sơ thẩm số 20/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực
10 - Hải Phòng.
[5] Về án phí sơ thẩm:
[5.1]
Ông Nguyễn Hữu Kiên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm.
[5.2]
Ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Thị Ngạ phải bồi thường thiệt hại
cho ông Kiên, ông Hạnh, Thùy nên phải chịu án phí dân s thẩm là:
36.000.000đ + 350.215.000đ x 3% = 46.506.450đ (làm tròn: 46.506.000đ) án phí
dân sự sơ thẩm.
[5.3]
Ông Nguyễn Hữu Kiên phải chu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần
yêu cầu khởi kiện không được toà án chấp nhận, tương đương với số tin:
(120.000.000 - 45.120.000đ) x 5% = 3.740.400đ (làm tròn: 3.740.000đ).
[5.4]
Miễn án phí dân sthẩm cho ông Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn
Thị Bánh, bà Nguyễn Thị Huy.
[6] Về án phí
phúc thẩm: Do bản án thẩm bị sửa một phần nên người
kháng cáo không phải chịu án pphúc thẩm.
[7] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Căn cứ các điều 12, 15, 27 và khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Xử: Sửa một phần bản án dân sự thẩm số
20/2026/DS-ST ngày
30/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng.
Căn cứ vào các Điều 129; 130; 131; 357; 429; 468; 500; 501; 502; 503;
649; 650; 651; 654; 623; 688 của Bộ luật dân sự, Điều 147; Điều 157; Điều 161;
Điều 165; khoản 2 Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự.
13
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Kiên về việc công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này 15-4-2007 giữa ông Kiên,
ông Hạnh và ông Độ, Ngạ có hiệu lực.
2. Công nhận một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
15-4-2007 hiệu lực gồm: Xác định ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Thị Ng
quyền sử dụng diện ch 136,7m
2
(trong đó: 127,8m
2
đất ở; 8,9m
2
đất vườn)
thửa số 44, tờ bản đồ số 3, địa chỉ tại thôn La Xá, xã Thượng Quận, thị Kinh
Môn, tỉnh Hải Dương (nay tdân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải
Phòng)
đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh,
Nguyễn Thị Thùy theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-4-2007.
Giao cho ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh, Nguyễn Thị Thuỳ
quyền sử dụng diện ch 136,7m
2
(trong đó: 127,8m
2
đất ở; 8,9m
2
đất vườn)
trên đất 01 đoạn ng xâycổng, tại thửa số 44, tờ bản đồ số 3, địa chỉ tại
thôn La Xá, Thượng Quận, thị Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay tdân
phLa Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng) theo các mốc A6, A7, A8,
B2, B1, A5 (có sơ đồ kèm theo).
3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-4-2007
vô hiệu một phần.
4. Về hậu quả của hợp đồng hiệu: Buc ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn
ThNgphải trả cho ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh, Nguyễn Thị
Thùy số tiền mua đất 45.120.000đ (bốn mươi năm triệu một trăm hai mươi nghì
đồng) và bồi thường thiệt hại là 1.150.215.000đ (một tỷ một trăm năm mươi triệu
hai trăm mười năm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh, Nguyễn Thị Thuỳ phi trả
lại cho ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Thị Ngbản gốc giấy chứng nhận quyn
sử dụng đất do UBND huyện Kinh Môn cấp ngày 10-10-2001.
5. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Kinh
Môn, tỉnh Hải Dương cấp cho ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Thị Ngạ, tại thửa
số 44 tờ bản đồ số 03, thôn La Xá, xã Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương, vào sổ cấp GCNQSD đất số 154/QSDĐ/TQKM ngày 10-10-2001.
6. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Thị
Huy về việc hủy 01 phần văn bản di chúc của cụ Nguyễn Thị Hảo đề ngày 11-5-
2000.
7. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đồng,
Nguyễn Thị Huy về phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Cán, Nguyễn
ThHảo quyền sử dụng diện tích 227,9m
2
(theo hiện trạng) thửa s44 tbản
đồ số 3 địa chtại thôn La Xá, Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
(nay là tổ dân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành phố Hải Phòng).
8. Giao cho ông Nguyễn Văn Đồng được quyền sử dụng 91,2 m
2
đất
giá trị 2.599.200.000đ (Hai tỉ năm trăm chín mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng)
tại thửa đất s44, tbản đồ số 3, địa chỉ: Thôn La Xá, Thượng Quận, thị
14
Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay tdân phố La Xá, phường Trần Liễu, thành
phHải Phòng) theo các mốc B1, B2, A1, A2, A3, A4. Tài sản gắn liền với quyền
sử dụng đất gồm 01 nhà cấp 4, 01 lán tôn, ờng bao. (có sơ đồ kèm theo).
9. Buộc ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh Nguyễn Thị
Thùy phải trả cho ông Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Thị Bánh 200.000.000đ
(hai trăm triệu đồng) công sức duy trì tài sản 2.156.000đ (hai triệu một trăm
năm mươi sáu nghìn đồng) giá trị tài sản trên đất.
Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền
như đã tuyên nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì phải
trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất được
tính theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.
10. Ông Nguyễn Văn Đồng, bà Nguyễn Thị Bánh phải có nghĩa vụ tháo dỡ
phần mái tôn diện tích 20m
2
đua sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Độ,
Ngđã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh,
Nguyễn Thị Thuỳ.
11. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn Đồng, bà Nguyễn Thị Huy phải
trả cho ông Nguyễn Hữu Kiên 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) chi phí
xem xét thẩm đnh tại chỗ và Định giá tài sản.
Ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Thị Ngphải chịu là 3.060.000đ (Ba triệu
không trăm sáu mươi nghìn đồng) chi phí giám định chữ ký. Đối trvới số tiền
đã nộp tạm ứng 8.000.000 đồng theo Phiếu thu tiền ngày 21-7-2025, hoàn trả
cho ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn ThNga stiền 4.940.000 đồng (Đã trả
xong).
12. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Hữu Kiên phải chịu 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng án phí dân ssơ thẩm. Đối trừ với stiền đã nộp tạm ứng là 300.000
(ba trăm nghìn) đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thKinh Môn, tỉnh Hải
Dương (nay Phòng thi hành án dân skhu vực 10- Hải Phòng) theo Biên lai
thu tiền ký hiệu BLTU/23 số 00007084 ngày 02-04-2025.
Buộc ông Nguyễn Văn Độ, Nguyễn ThNgphải chịu 46.506.000đ (bốn
mươi sáu triệu năm trăm linh sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc ông Nguyễn Hữu Kiên phải chịu 3.740.000đ (ba triệu bảy trăm bốn
mươi nghìn đồng) án phí sơ thẩm.
Miễn án phí dân sthẩm cho ông Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Thị
Bánh, bà Nguyễn Thị Huy.
13. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Hữu Kiên, ông Trần Văn Hạnh
bà Nguyễn Thị Thuỳ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
14. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
15
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA
TAND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 10 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 10 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Minh Tân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 186/2026/DS-PT Bản án số 186/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 186/2026/DS-PT Bản án số 186/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất