Bản án số 603/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 603/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 603/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 603/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HĐ chuyển nhượng QSD đất, HĐ uỷ quyền, HĐ vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 603/2026/DS-PT Bản án số 603/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 603/2026/DS-PT Bản án số 603/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà
Ông Lê Văn Phận
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị
Trúc Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai ván thụ số: 294/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng
5 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng uỷ quyền, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số: 54/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 5 Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 518/2026/-PT ngày 14
tháng 5 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 678/2026/QĐ PT ngày 09
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Hoàng H, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: D, khu phố N, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của ông Đặng Hoàng H: Trần Thị Ngọc NÝ,
sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: C khu phố M, phường A, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên hệ: 117E1 đường Đ, khu phố M, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Theo
văn bản ủy quyền ngày 09/01/2025.
- Bị đơn:
1. Bà Trương Thị Thanh T, sinh năm 1988 (vắng mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 603/2026/DS - PT
Ngày 30 - 6 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
uỷ quyền, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất,
hợp đồng vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Địa chỉ: 9 N, Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường N,
Thành phố Hồ Chí Minh).
Địa chỉ hiện tại: 325/26/4 N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của Trương Thị Thanh T: Ông Thái T1, sinh
năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
2. Ông Bành Hòa K, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: F, ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Cao Bữu L, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: F ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long)
2. Bà Nguyễn Thị Trúc L1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: D, khu phố N, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Trúc L1: Trần Thị Ngọc Như
Ý, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: C khu phố M, phường A, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên hệ: 117E1 đường Đ, khu phố M, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Theo
văn bản ủy quyền ngày 30/6/2025.
3. Bà Hồ Thị Kim A, sinh năm 1953 (vắng mặt)
Địa chỉ: C, khu phố N, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
4. Ông Đặng Duy H1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: C, khu phố N, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Ông Bành Hòa K là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn ông Đặng Hoàng H lời khai
của Trần Thị Ngọc Như Ý người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình
bày: Ông Đặng Hoàng H là chủ sử dụng phần đất thuộc thửa 412, tờ bản đồ số 5, diện
tích: 606,3m
2
, tọa lạc tại xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh
Long). Đây là tài sản riêng của ông H được cha mẹ tặng cho được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 31/7/2017. Ngày 04/3/2024, Nguyễn Thị Trúc L1 là
vợ của ông H bị bệnh nan y nên cần rất nhiều tiền, làm hồ vay Ngân hàng thì thủ
tục lại phức tạp. Do được người quen giới thiệu nên ông H liên hệ với Trương
Thị Thanh T để hỏi vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 06
tháng từ ngày 04/3/2024 đến ngày 04/9/2024. Để đảm bảo cho khoản vay này, T
yêu cầu ông H phải hợp đồng uỷ quyền ngày 04/3/2026 để toàn quyền định
đoạt đối với thửa đất 412, khi nào ông H trả đủ tiền gốc cho bà T thì bà sẽ ký hủy hợp
3
đồng ủy quyền ngày 04/3/2026 và giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
lại cho ông H. Ngày 04/3/2024, tại Văn phòng C, ông H và T đã kết hợp đồng
ủy quyền đối với thửa đất 412, tờ bản đồ số 5, số công chứng 811, quyển số 01/2024
TP/CC-SCC/HĐGD. Ngoài ra, ông H T còn lập thêm giấy giao nhận tiền cùng
ngày 04/3/2024 với nội dung ông H nhận đủ số tiền vay 100.000.000 đồng trên thửa
đất 412, đóng lãi vào 4 tây hàng tháng, muốn chuộc lại tài sản tsau 06 tháng. Sau
khi ký xong các giấy tờ thủ tục, ông H chỉ nhận được số tiền 92.000.000 đồng từ bà T
do trừ tháng lãi đầu tiên 2.000.000 đồng 6.000.000 đồng phí công chứng, hoa
hồng cho người giới thiệu, ông H đã giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho T. Ông H đóng lãi đầy đủ cho bà T từ ngày 04/3/2024 đến ngày 05/8/2024
thì liên hệ T để xin chuộc lại đất nhưng T không đồng ý nói phải qua 06
tháng mới cho chuộc. Tuy nhiên, từ thời điểm đó đến nay, ông H nhiều lần liên hệ
T để xin chuộc đất thì T chỉ hứa để xem lại chứ không thực hiện. Do nghi ngờ,
ông H đến Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố B để kiểm tra thông
tin thửa đất thì được biết T đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho ông
Bành Hòa K vào ngày 07/3/2024. Việc ông H hợp đồng ủy quyền ngày 04/3/2024
cho T chỉ để đảm bảo cho khoản vay 100.000.000 đồng. Việc này cũng được T
thừa nhận tại giấy giao nhận tiền ngày 04/3/2024. Do đó, hợp đồng ủy quyền chỉ
giao dịch giả tạo để che giấu cho việc vay tiền giữa ông H và bà T. Việc bà T tự ý ký
hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/3/2024 với tư cách là người đại diện theo uỷ quyền
của ông H cho ông K mà không thông báo cho ông H đã vi phạm thỏa thuận giữa ông
H và bà T. Ông H không có chuyển nhượng đất cũng không nhận tiền chuyển nhượng
từ T. Hiện tại phần đất thửa 412 vẫn do ông H quản sử dụng, trên đất 01
căn nhà cấp 4 do ông H xây dựng để từ trước đến nay các cây trồng như bưởi,
chuối, dừa do ông H trồng. Nay ông H khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy hợp đồng ủy quyền ngày 04/3/2024 giữa ông Đặng Hoàng H
Trương Th Thanh T liên quan đến tha đất số 412, tờ bản đ số 5, diện tích:
606,3m
2
, tọa lạc tại N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay phường P, tỉnh Vĩnh
Long) được công chứng tại Văn phòng C, s công chứng 811, quyển số 01/2024
TP/CC-SCC/HĐGD. Ông H đồng ý trả lại cho T số tiền vay 100.000.000 đồng và
đồng ý trả lãi cho T từ ngày 05/8/2024 đến khi Tòa án xét xử thẩm với mức lãi
suất 20%/ năm.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/3/2024 giữa ông H
(do bà T đại diện ký) với ông Bành Hòa K liên quan đến thửa đất số 412, tờ bản đồ số
5, diện tích: 606,3m
2
, tọa lạc tại xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre được công chứng tại
Văn phòng C1, số công chứng 705, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD.
Yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
14/01/2025 giữa ông Bành Hòa K với ông Cao Bữu L đối với thửa đất số 412, tờ bản
đồ số 5, diện tích: 606,3m
2
, tọa lạc tại N, thành phố B, tỉnh Bến Tre, nay là
phường P, tỉnh Vĩnh Long được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 130,
quyển số 01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD.
Bị đơn bà Trương Thị Thanh T: Vắng mặt trong quá trình tố tụng nên không có
lời trình bày.
4
Bị đơn ông Bành Hòa K trình bày: Năm 2024, bà Trương Thị Thanh T kêu
chuyển nhượng phần đất ông K đã đến tận nơi để xem xét, kiểm tra thực tế thấy
rằng không stranh chấp nên ông K đồng ý nhận chuyển nhượng thửa đất số s
412, tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh
Vĩnh Long). Các bên thoả thuận giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng, tuy nhiên
giá ghi trên hợp đồng 220.000.000 đồng nhằm mục đích giảm thuế. Việc ông
Đặng Hoàng H Trương Thị Thanh T vay mượn tiền hợp đồng uỷ quyền
như thế nào thì ông K không nên các bên t giải quyết, còn việc ông K nhận
chuyển nhượng đất đúng quy định của pháp luật. Khi đó, T dẫn ông đến coi
đất gặp ông H để thoả thuận việc chuyển nhượng đất, giá chuyển nhượng
600.000.000 đồng, ông K có giao đủ số tiền 600.000.000 đồng cho T, việc chuyển
nhượng đất được thực hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không có đo
đạc, hiệp thương ranh. Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì ông K chưa có nhu cầu sử
dụng nhà nên T hỏi thuê lại cho ông H ở, giá thuê 15.000.000 đồng/tháng,
hai bên làm hợp đồng thuê tài sản, T đóng được 6-7 tháng tiền thuê thì không
đóng nữa. Hiện tại ông đã chuyển nhượng phần đất này cho ông Cao Bữu L theo quy
định của pháp luật, ông K đã nhận của ông L số tiền 700.000.000 đồng tiền chuyển
nhượng đất. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông K không đồng ý ông
nhận chuyển nhượng đất của ông H từ T đúng quy định. Nếu các hợp đồng này
bị hiệu thì ông yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu, yêu cầu T
và ông H phải liên đới trả cho ông 600.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại theo quy
định pháp luật để ông trả lại cho ông L 700.000.000 đồng đã nhận.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Bữu L trình bày: Vào ngày
08/01/2025, ông L đến xem nhà đất thuộc thửa 412, tờ bản đồ số 5, diện tích
606,3m
2
toạ lạc tại N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay phường P, tỉnh Vĩnh
Long). Ông L đồng ý mua với giá 700.000.000 đồng, ông L giao cho ông K số
tiền 700.000.000 đồng tại Văn phòng công chứng các bên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật. Nay qua yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn về việc tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
do ông L đứng tên thì ông không đồng ý ông đã nhận chuyển nhượng đất theo
đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, sự việc tranh chấp nêu trên đã gây rất
nhiều thiệt hại cho ông L phải vay mượn tiền của gia đình nhưng không được sở
hữu và sử dụng tài sản đã mua. Ông L chỉ đồng ý chuyển tên lại cho ông H khi ông K
trả đủ cho ông số tiền chuyển nhượng đất 700.000.000 đồng. Giả shợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông ông K bị hiệu thì ông yêu cầu ông
K phải trách nhiệm hoàn lại cho ông stiền chuyển nhượng đất 700.000.000
đồng.
Trần Thị Ngọc Như Ý người đại diện hợp pháp của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Trúc L1: Thống nhất với lời trình bày của ông H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị Kim A trình bày: A
chủ sử dụng thửa đất số 413, tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại N, thành phố B, tỉnh Bến
Tre (nay phường P, tỉnh Vĩnh Long). Ông Đặng Hoàng H con ruột của A.
Phần đất tranh chấp do A tặng cho ông H, phần đất còn lại của thì đã cất
nhà sinh sống ttớc đến nay, căn nhà trên đất của ông H do ông H vợ
5
Nguyễn Thị Trúc L1 quản lý sử dụng từ trước đến nay chứ không có giao cho ai quản
lý. Theo hồ sơ đo đạc thể hiện ranh theo dự án 6 xã, ranh do các đương sự chỉ và ranh
của căn nhà ông H, thể hiện phần căn n của ông H lệch qua phần đất của A,
tuy nhiên A không ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất này. với ông H sẽ tự thoả thuận thương lượng
giải quyết, nếu không giải quyết được thì bà sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác. Do bận
công việc nên A yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt A.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Duy H1 trình bày: Ông H1
là chủ sử dụng thửa đất số 411, tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại N, thành phố B, tỉnh Bến
Tre (nay phường P, tỉnh Vĩnh Long). Ông H anh ruột của ông H1, hiện tại phần
đất của ông H1 giáp ranh với đất của ông H, theo ông H1 được biết thì căn nhà của
ông H do ông H vợ Nguyễn Thị Trúc L1 quản sử dụng từ trước đến nay
chứ không giao cho ai quản lý. Theo hồ đo đạc thể hiện ranh theo dán 6 xã,
ranh do các đương sự chỉ thì căn nhà của ông H lệch qua phần đất của ông H1, tuy
nhiên ông H1 không ý kiến hay yêu cầu trong vụ án tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất này. Ông H1 với ông H sẽ tự thoả thuận thương
lượng giải quyết, nếu không giải quyết được ông H1 sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Do bận công việc nên ông H1 yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt ông H1.
Tại bản án dân sthẩm số: 54/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 5 Vĩnh Long đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Hoàng H về việc tranh
chấp hợp đồng uỷ quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay
tài sản với bị đơn bà Trương Thị Thanh T, ông Bành Hòa K.
Tuyên hiệu Hợp đồng ủy quyền ngày 04/3/2024 giữa ông Đặng Hoàng H
với Trương Thị Thanh T, số công chứng 811, quyển số 01/2024 TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng C.
Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/3/2024
giữa ông Đặng Hoàng H (do Trương Thị Thanh T đại diện ) với ông Bành Hòa
K, số công chứng 705, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1.
Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/01/2025
giữa ông Bành Hòa K với ông Cao Bữu L, số công chứng 130, quyển số 01/2025
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2.
Buộc ông Đặng Hoàng H trách nhiệm hoàn trả cho Trương Thị Thanh T
số tiền vay tổng cộng 140.500.000 đồng.
Buộc Trương Thị Thanh T có trách nhiệm hoàn trả cho ông Bành Hòa K số
tiền chuyển nhượng đất và tiền bồi thường thiệt hại, tổng cộng 907.560.000 đồng.
Buộc ông Bành Hòa K trách nhiệm hoàn trả cho ông Cao Bữu L số tiền
chuyển nhượng đất là 700.000.000 đồng.
Ông Đặng Hoàng H quyền nghĩa vụ liên hệ với quan thẩm quyền
thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa 412, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại
N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay phường P, tỉnh Vĩnh Long). Kiến nghị
6
quan Nhà nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi hoặc hủy bỏ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 412, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại N, thành phố B, tỉnh Bến
Tre, nay phường P, tỉnh Vĩnh Long đã cấp cho ông Cao Bữu L để cấp lại cho ông
Đặng Hoàng H đối với thửa đất nêu trên theo quy định của Luật Đất đai hiện hành.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng,
nghĩa vụ chậm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của
pháp luật.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, bị đơn ông Bành Hòa K kháng cáo bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án thẩm theo hướng
buộc Trương Thị Thanh T, ông Đặng Hoàng H liên đới trả cho ông K số tiền
907.560.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bà Trần Thị Ngọc NÝ người đại diện
hợp pháp của nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn ông
Bành Hòa K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, v Kiểm sát viên cho rằng: Hợp đồng ủy quyền ngày
04/3/2024 giữa ông Đặng Hoàng H Trương Thị Thanh T nhằm mục đích
đảm bảo cho việc ông H vay của T số tiền 100.000.000 đồng; hợp đồng ủy quyền
này hợp đồng giả tạo nên hiệu. Do hợp đồng ủy quyền ngày 04/3/2024 hiện
nên hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày 07/3/2024 giữa ông Đặng
Hoàng H (do Tơng Thị Thanh T ký) với ông Bành Hòa K đối với thửa 412
hiệu. Ông H không biết việc T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
chuyển nhượng thửa đất 412 cho ông Bành Hòa K, ông H cũng không có nhận số tiền
600.000.000 đồng từ ông K nên ông H không trách nhiệm liên đới với T trả số
tiền 907.560.000 đồng cho ông K. Do đó, đnghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của ông K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chng cứ trong hồ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt đương sự: Bị đơn bà Trương Thị Thanh T, ông Lý Thái T1
là người đại diện hợp pháp của bà T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao
Bữu L, Hồ Thị Kim A, ông Đặng Duy H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng
vắng mặt. Phiên tòa hôm nay phiên tòa mở lần thứ hai nên căn cứ vào Điều 227
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Bành Hòa K yêu cầu bà Trương Thị Thanh T
và ông Đặng Hoàng H liên đới trả cho ông K số tiền 907.560.000 đồng, Hội đồng xét
xử xét thấy:
7
[2.1] Ngày 04/3/2024, ông Đặng Hoàng H và Trương Thị Thanh T hợp
đồng ủy quyền với nội dung: Ông H ủy quyền cho bà T thực hiện các công việc cho
thuê, thế chấp, nhận đặt cọc, chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn … liên quan đến thửa
đất số 412, tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nayphường
P, tỉnh Vĩnh Long) (BL 11 13). Ông H cho rằng việc ông H hợp đồng uỷ quyền
ngày 04/3/2024 với T nhằm mục đích bảo đảm cho việc ông H vay của T số
tiền 100.000.000 đồng. Để chứng minh cho lời trình bay của mình, ông H cung cấp
cho Tòa án giấy giao nhận tiền ngày 04/3/2024 thể hiện nội dung: “bà Trương Thị
Thanh T có giao cho ông Đặng Hoàng H số tiền 100.000.000 đồng liên quan đến việc
uỷ quyền, vay tiền trên thửa đất số 412, tờ bản đồ số 5, diện tích 606,3m. 100m đất
nông thôn, đất trồng cây lâu năm 506,3m. Thoả thuận 2 bên: đóng lãi vào ngày 4
tây hằng tháng, không được chậm lãi quá 2 tháng muốn chuộc lại tài sản thì sau sáu
tháng báo trước 10 ngày” (BL 122). Theo kết luận giám định số: 197/2025/KL
KTHS ngày 16/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B (nay Công an tỉnh V) kết
luận: Chữ ký mang tên “Trương Thị Thanh T” dưới mục “Bên giao tiền” tại giấy giao
nhận tiền ngày 04/3/2024 của T (BL 121). Do đó, căn cứ cho thấy hợp đồng
uỷ quyền ngày 04/3/2024 giữa ông H với bà T là giả tạo nhằm để che giấu việc ông H
vay của T số tiền 100.000.000 đồng nên hợp đồng uỷ quyền này vô hiệu theo quy
định tại Điều 124 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2.2] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/3/2024 giữa
ông Đặng Hoàng H (do Trương Thị Thanh T ký) với ông Bành Hòa K, Hội đồng
xét xử xét thấy: Như phân tích trên, hợp đồng uỷ quyền ngày 04/3/2024 giữa ông H
với T giả tạo nhằm để che giấu việc ông H vay của T số tiền 100.000.000
đồng, T biết việc này nhưng vẫn thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất thửa 412
cho ông Bành Hòa K. Đối với ông K, khi hợp đồng nhận chuyển nhượng thửa đất
412 với T thì trên thửa đất 412 căn nhà tường cấp 4 của gia đình ông H, gia
đình ông H đang ở trên căn nhà này, ông K biết nhưng ông K không tìm hiểu gặp ông
H đtìm hiểu sự việc trước khi nhận chuyển nhượng nên đây lỗi của ông K. Tại
Điều 4 của hợp đồng uỷ quyền ngày 04/3/2024 quy định: “Bên B (bà T) nghĩa vụ
thực hiện công việc theo uỷ quyền báo cho bên A (ông H) về việc thực hiện công
việc đó”. Việc T hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 412 cho ông Bành Hòa K,
bà T không báo cho ông H, ông H không biết và trên thực tế ông H không có nhận số
tiền 600.000.000 đồng từ ông K người nhận số tiền 600.000.000 đồng là bà T nên
T người phải có trách nhiệm đối với ông K khi hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Đặng Hoàng H (do Trương Thị Thanh T ký) với ông Bành
Hòa K ngày 07/3/2024 vô hiệu. Ngoài ra, nhà, đất thửa 412 là do gia đình ông H đang
quản lý, sdụng nhưng ông K lại hợp đồng cho T thuê lại thửa đất 412
không phù hợp (BL 151 -152). Do đó, việc Tòa án cấp thẩm tuyên hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Hoàng H (do bà Trương Thị Thanh
T ký) với ông Bành Hòa K ngày 07/3/2024 vô hiệu buộc bà T nghĩa vtrả cho
ông K số tiền 907.560.000 đồng (trong đó tiền nhận chuyển nhượng 600.000.000
đồng, tiền bồi thường thiệt hại do chênh lệch giá đất 307.560.000 đồng ) là đúng
quy định của pháp luật.
8
[2.3] Từ những chứng cứ và phần tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo
của ông K là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử
xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Bành Hòa K phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0005062 ngày 20/3/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Bành Hòa K.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 Vĩnh Long.
Áp dng các Điều 117, 124, 131, 142 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dng Ngh quyết s: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun
và s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Hoàng H.
Tuyên hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 04/3/2024 giữa ông Đặng Hoàng H
với Trương Thị Thanh T, số công chứng 811, quyển số 01/2024 TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng C.
Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/3/2024
giữa ông Đặng Hoàng H (do Trương Thị Thanh T đại diện ) với ông Bành Hòa
K, số công chứng 705, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1.
Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/01/2025
giữa ông Bành Hòa K với ông Cao Bữu L, số công chứng 130, quyển số 01/2025
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2.
Buộc ông Đặng Hoàng H trách nhiệm hoàn trả cho Trương Thị Thanh T
số tiền vay tổng cộng 140.500.000đồng (trong đó tiền vốn 100.000.000 đồng, tiền lãi
40.500.000 đồng).
Buộc Trương Thị Thanh T có trách nhiệm hoàn trả cho ông Bành Hòa K số
tiền chuyển nhượng đất tiền bồi thường thiệt hại, tổng cộng là 907.560.000 đồng
(trong đó tiền nhận chuyển nhượng 600.000.000 đồng, tiền bồi thường thiệt hại do
chênh lệch giá đất là 307.560.000 đồng).
Buộc ông Bành Hòa K trách nhiệm hoàn trả cho ông Cao Bữu L số tiền
chuyển nhượng đất là 700.000.000 đồng.
9
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi
hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tướng ứng với thời gian chưa thi
hành án.
Ông Đặng Hoàng H quyền nghĩa vụ liên hệ với quan Nhà nước
thẩm quyền thực hiện việc khai, đăng quyền sử dụng đất đối với thửa 412, tờ
bản đồ số 5, tọa lạc N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay phường P, tỉnh Vĩnh
Long) theo quy định của pháp luật. Kiến nghị quan Nhà nước thẩm quyền điều
chỉnh, thu hồi hoặc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 412, tờ bản đồ số
5, tọa lạc N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay phường P, tỉnh Vĩnh Long) đã cấp
cho ông Cao Bữu L để cấp lại cho ông Đặng Hoàng H đối với thửa đất nêu trên theo
quy định của Luật đất đai.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Bành Hòa K phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án pdân
sự phúc thẩm theo biên lai số 0005062 ngày 20/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Vĩnh Long.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm về chi phí tố tụng, về án phí dân sự
sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không bị cải sửa có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 603/2026/DS-PT Bản án số 603/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 603/2026/DS-PT Bản án số 603/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất